Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cô hàng xóm xinh đẹp

của Rabindranath Tagore

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 8.431 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tình cảm của tôi đối với người goá phụ…
  2. 1:21Tôi thú thật là tôi thấy được an ủi…
  3. 2:05Rồi nghĩ ngợi một lúc, anh lại lẩm bẩm:
  4. 2:38Và dần dần Na-bin tin là thế thật.
  5. 4:37Này Na-bin, với người nghệ sĩ thì một phế…
  6. 6:33Rồi tiếp theo là một câu chuyện dài về…
  7. 7:23Giờ thì nói cho tớ biết cô ấy là…
  8. 8:05Tôi hỏi tiếp:

Tình cảm của tôi đối với người goá phụ trẻ ở ngôi nhà bên cạnh là một thứ tình tôn thờ. Ít ra thì tôi đã nói thế với bạn bè và với chính mình. Ngay cả người bạn thân nhất của tôi là Na-bin cũng chẳng biết gì về tâm trạng thật của tôi. Mà tôi lại có phần tự hào rằng mình giữ được mối tình trong sạch bằng cách giấu nó tận đáy sâu nhất của trái tim. Nàng như một bông hoa lài đêm đẫm sương, rụng xuống đất trước thời. Quá rạng rỡ và thánh thiện để nằm trên chiếc giường cưới kết hoa, nàng đã được dâng lên Trời.

Nhưng tình yêu cũng như dòng suối trên núi, nó không chịu bị giam ở nơi nó sinh ra, nó phải tìm lối thoát. Vì thế tôi đã cố nói lên cảm xúc của mình bằng thơ. Nhưng ngòi bút miễn cưỡng của tôi không chịu xúc phạm tới người tôi tôn thờ.

Thật lạ là đúng lúc ấy, anh bạn Na-bin của tôi lại mắc chứng cuồng thơ. Nó ập tới anh như một trận động đất. Đó là cơn đầu tiên của anh chàng tội nghiệp, và anh cũng chẳng chuẩn bị gì cho vần với nhịp. Dù vậy anh không cưỡng lại được, anh đầu hàng sức quyến rũ ấy như một ông goá vợ đầu hàng người vợ kế.

Thế là Na-bin tìm tới nhờ tôi giúp. Đề tài thơ của anh là cái đề tài cũ mèm mà lúc nào cũng mới: thơ anh đều gửi cho người yêu. Tôi đùa vỗ lưng anh, hỏi:

— Này ông bạn, cô ấy là ai thế?

Na-bin cười đáp:

— Cái đó thì tớ chưa khám phá ra!

Tôi thú thật là tôi thấy được an ủi khá nhiều khi giúp bạn. Như con gà mái ấp trứng vịt, tôi dồn hết hơi ấm của mối tình bị dồn nén vào những vần thơ tuôn trào của Na-bin. Tôi hăng hái sửa chữa, gọt giũa những sản phẩm thô vụng của anh tới mức phần lớn mỗi bài thơ đã thành của tôi.

Những lúc ấy Na-bin lại ngạc nhiên mà bảo:

— Đúng điều tớ muốn nói mà không nói được. Làm thế quái nào mà cậu tóm được hết những tình ý hay ho thế này?

Tôi trả lời kiểu nhà thơ:

— Chúng tới từ trí tưởng tượng của tớ. Vì cậu biết đấy, sự thật thì câm lặng, chỉ có trí tưởng tượng mới hùng hồn. Thực tại như tảng đá chặn dòng cảm xúc, còn trí tưởng tượng thì tự xẻ lấy lối đi.

Và anh chàng Na-bin tội nghiệp bối rối nói:

— Ừ... ừ, tớ hiểu, phải rồi.

Rồi nghĩ ngợi một lúc, anh lại lẩm bẩm:

— Phải, phải, cậu nói đúng!

Như tôi đã nói, trong mối tình của chính tôi có một thứ e dè tôn kính ngăn tôi nói nó thành lời. Nhưng có Na-bin làm tấm bình phong, thì chẳng gì cản được ngòi bút của tôi tuôn chảy, và một thứ cảm xúc nồng nàn thật sự đã trào ra trong những bài thơ làm hộ ấy.

Những lúc tỉnh táo, Na-bin lại bảo:

— Nhưng thơ này là của cậu! Để tớ đăng dưới tên cậu.

Tôi đáp:

— Vớ vẩn! Thơ của cậu đấy, ông bạn thân mến. Tớ chỉ thêm thắt chỗ này chỗ kia một chút thôi.

Và dần dần Na-bin tin là thế thật.

Tôi không chối rằng, với một tâm trạng giống như nhà thiên văn ngắm bầu trời đầy sao, đôi khi tôi có đưa mắt về phía cửa sổ ngôi nhà bên cạnh. Cũng đúng là thỉnh thoảng những cái liếc trộm của tôi được đền đáp bằng một thoáng hình bóng. Và chỉ cần thoáng thấy ánh sáng thanh khiết của gương mặt ấy, là mọi xao động và những gì không xứng đáng trong lòng tôi lập tức lắng xuống, trong trẻo lại.

Nhưng một hôm tôi giật mình. Tôi có nên tin vào mắt mình không? Đó là một buổi chiều hè oi ả. Một trận gió tây bắc dữ dội thất thường đang kéo tới. Mây đen ùn lại ở góc trời tây bắc. Và trên cái nền ánh sáng kỳ lạ đáng sợ ấy, người hàng xóm xinh đẹp của tôi đứng nhìn đăm đăm vào khoảng không. Trong cái nhìn xa xăm của đôi mắt đen long lanh ấy, tôi thấy cả một thế giới khao khát lẻ loi! Vậy thì có lẽ bên trong ánh sáng thanh bình của vầng trăng của tôi vẫn còn một ngọn núi lửa đang sống? Than ôi! Cái nhìn khát khao vô hạn ấy, đang vỗ cánh bay qua những đám mây như một con chim nôn nóng, chắc chắn không tìm về thiên đường, mà tìm về tổ ấm của một trái tim người nào đó!

Thấy niềm khao khát không lời trong cái nhìn ấy, tôi gần như không kìm được mình. Tôi không còn thoả mãn với việc sửa những bài thơ vụng về nữa. Toàn thân tôi khao khát được bày tỏ bằng một hành động nào đó xứng đáng. Cuối cùng tôi nghĩ mình sẽ dốc sức cổ vũ cho việc goá phụ được tái giá ở xứ sở mình. Tôi sẵn sàng không chỉ nói và viết về chuyện ấy, mà còn bỏ tiền ra cho sự nghiệp ấy nữa.

Na-bin bắt đầu tranh luận với tôi. Anh bảo:

— Cảnh goá bụa trọn đời có một vẻ thanh khiết và bình yên vô hạn, một vẻ đẹp lặng lẽ như những nơi yên nghỉ của người chết lung linh dưới ánh trăng nhợt nhạt ngày mười một, ngày ăn chay sám hối. Chỉ riêng cái khả năng tái giá thôi, chẳng phải sẽ phá huỷ vẻ đẹp thiêng liêng ấy sao?

Cái thói ủy mị kiểu ấy bao giờ cũng làm tôi điên tiết. Giữa nạn đói, một người no nê mà nói giọng khinh miệt về miếng ăn, lại khuyên kẻ chết đói hãy lấy hương hoa và tiếng chim hót mà lấp cơn đói, thì ta nghĩ gì về hắn? Tôi nói, có phần nóng nảy:

— Này Na-bin, với người nghệ sĩ thì một phế tích có thể là vật đẹp. Nhưng nhà cửa xây lên không chỉ để nghệ sĩ ngắm, mà để người ta ở. Nên người ta phải sửa sang nó, mặc cho các ngài nghệ sĩ có phật ý. Cậu đứng từ một khoảng cách an toàn mà lý tưởng hoá cảnh goá bụa thì dễ lắm. Nhưng cậu nên nhớ rằng bên trong cảnh goá bụa có một trái tim con người nhạy cảm, đang đập rộn vì đau đớn và khát khao.

Tôi có cảm tưởng thuyết phục được Na-bin sẽ khó lắm, nên có lẽ tôi đã hăng say hơn mức cần thiết. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy, lúc tôi dứt bài diễn thuyết nho nhỏ của mình, Na-bin chỉ thở dài trầm ngâm một tiếng là hoàn toàn đồng ý với tôi. Cái đoạn kết còn thuyết phục hơn nữa mà tôi cảm thấy mình có thể nói ra hoá ra chẳng cần dùng tới!

Chừng một tuần sau, Na-bin tới gặp tôi, bảo nếu tôi chịu giúp thì anh sẵn sàng đi tiên phong, chính anh sẽ cưới một người goá phụ.

Tôi mừng quýnh. Tôi ôm chầm lấy anh, hứa sẽ đưa bao nhiêu tiền tuỳ việc cần. Rồi Na-bin kể chuyện của anh cho tôi nghe.

Tôi được biết người yêu của Na-bin không phải là người tưởng tượng. Hoá ra Na-bin cũng đã từ lâu tôn thờ một người goá phụ từ xa, nhưng chưa nói với một ai về tình cảm của mình. Rồi những tạp chí đăng thơ của Na-bin, hay đúng hơn là thơ của tôi, đã tới tay người đẹp, và những bài thơ ấy không phải là không có tác dụng.

Na-bin cẩn thận giải thích rằng không phải anh cố tình tán tỉnh theo lối ấy. Thật ra, anh bảo, anh còn chẳng biết người goá phụ có biết đọc hay không. Anh gửi tạp chí qua bưu điện, không ghi tên người gửi, đề cho anh trai của người goá phụ. Đó chỉ là một thứ ý thích vu vơ, một chút nhân nhượng cho mối tình vô vọng của anh. Như ném vòng hoa trước tượng thần vậy. Thần có biết hay không, thần nhận hay làm ngơ lễ vật, đâu phải việc của người thờ phụng.

Na-bin còn đặc biệt muốn tôi hiểu rằng anh chẳng có ý định gì rõ ràng khi viện đủ thứ cớ để tìm gặp, làm quen với anh trai người goá phụ. Bất cứ người thân nào của người mình yêu thì người đang yêu cũng phải đặc biệt quan tâm.

Rồi tiếp theo là một câu chuyện dài về việc người anh trai bị ốm, và chuyện ấy cuối cùng đã đưa hai người tới với nhau như thế nào. Có chính nhà thơ ở đó, thì đương nhiên người ta bàn nhiều về những bài thơ. Mà câu chuyện cũng chẳng nhất thiết chỉ quanh quẩn ở đề tài đã khơi ra nó.

Sau khi vừa thua tôi trong cuộc tranh luận, Na-bin đã lấy hết can đảm ngỏ lời cầu hôn người goá phụ. Thoạt đầu anh không được nàng ưng thuận. Nhưng khi anh đã dùng hết những lời lẽ hùng hồn của tôi, thêm vào đó một hai giọt nước mắt của chính anh, thì người đẹp đầu hàng vô điều kiện. Giờ người giám hộ của nàng cần một ít tiền để lo liệu.

Tôi bảo:

— Cầm lấy ngay đi.

Na-bin nói tiếp:

— Nhưng cậu biết đấy, phải mất mấy tháng tớ mới làm cho bố tớ nguôi giận đủ để ông cho tớ tiền tiêu tiếp. Trong thời gian ấy bọn tớ sống bằng gì?

Tôi chẳng nói một lời, viết ngay tấm séc cần thiết, rồi bảo:

— Giờ thì nói cho tớ biết cô ấy là ai đi. Cậu chẳng cần coi tớ là tình địch đâu, vì tớ thề sẽ không làm thơ tặng cô ấy. Mà có làm thì tớ cũng chẳng gửi cho anh trai cô ấy, mà gửi cho cậu!

Na-bin bảo:

— Đừng vớ vẩn. Tớ giấu tên cô ấy đâu phải vì sợ cậu tranh mất! Chả là cô ấy rất bối rối khi phải làm cái việc khác thường này, nên đã dặn tớ đừng kể chuyện với bạn bè. Nhưng giờ thì chẳng sao nữa, mọi việc đã thu xếp ổn thoả cả rồi. Cô ấy ở nhà số mười chín, ngay cạnh nhà cậu ấy.

Nếu trái tim tôi là một cái nồi hơi bằng sắt thì hẳn nó đã nổ tung. Tôi chỉ hỏi:

— Thế cô ấy không phản đối chuyện tái giá à?

Na-bin mỉm cười đáp:

— Bây giờ thì không.

Tôi hỏi tiếp:

— Thế chỉ nhờ mấy bài thơ thôi mà có được phép màu ấy à?

Na-bin bảo:

— Thì thơ tớ đâu có tồi lắm, phải không cậu?

Tôi thầm chửi một tiếng.

Nhưng chửi ai bây giờ? Chửi anh ta? Chửi chính mình? Hay chửi Ông Trời? Đằng nào thì tôi cũng chửi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1900
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal Pratibesini của Rabindranath Tagore, 1900; dịch từ bản tiếng Anh My Fair Neighbour trong tập Mashi and Other Stories, 1918
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →