Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một: Bà đầm Anh ở trang trại Bê-nu-vin

Cô Ha-ri-ét · Chương 1/3 · của Guy de Maupassant

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 14.284 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Chúng tôi có bảy người trên cỗ xe ngựa,…
  2. 1:43Rồi nhìn sang người ngồi cạnh, bà nam tước…
  3. 2:42Tôi gọi "làm anh hoạ sĩ lang thang" là…
  4. 6:20Hồi ấy là tháng Năm. Những cây táo đang…
  5. 7:10Có một bà, một bà người Anh có tuổi.…
  6. 9:00Bà tên là cô Ha-ri-ét. Đi tìm một ngôi…
  7. 11:32Tôi hỏi bà Lơ-ca-sơ:
  8. 12:41Bà dành thời gian đi lang thang khắp vùng…

Chương 1: Phần một: Bà đầm Anh ở trang trại Bê-nu-vin

Chúng tôi có bảy người trên cỗ xe ngựa, bốn bà và ba ông, một ông ngồi trên ghế đằng trước cạnh người xà ích, và cỗ xe đang theo nhịp chân ngựa leo lên con dốc lớn nơi con đường uốn khúc.

Rời Ê-tơ-rơ-ta từ lúc rạng đông để đi thăm phế tích Tăng-các-vin, chúng tôi vẫn còn ngủ gà ngủ gật, tê dại trong không khí mát lạnh buổi sớm. Nhất là các bà, vốn chẳng quen những buổi dậy sớm của dân đi săn, cứ chốc chốc lại sụp mí mắt, gục đầu xuống hoặc ngáp dài, dửng dưng trước cảnh ngày đang rạng.

Đang là mùa thu. Hai bên đường những cánh đồng trơ trụi trải dài, vàng úa vì những gốc yến mạch và lúa mì đã gặt, ngắn cũn, phủ mặt đất như một bộ râu cạo vụng. Mặt đất phủ sương như đang bốc khói. Những con sơn ca hót trên không, những loài chim khác ríu rít trong bụi rậm.

Cuối cùng mặt trời mọc lên trước mặt chúng tôi, đỏ rực ở mép chân trời. Và mặt trời càng lên cao, càng sáng thêm từng phút, đồng quê càng như thức dậy, mỉm cười, rũ mình, rồi cởi bỏ tấm áo sương trắng như một cô gái vừa ra khỏi giường.

Bá tước Ê-tơ-rai ngồi trên ghế trước kêu lên:

— Kìa, một con thỏ rừng.

Ông chìa tay về phía bên trái, chỉ vào một ruộng cỏ ba lá. Con vật phóng vút đi, gần như khuất trong ruộng cỏ, chỉ để lộ đôi tai dài. Rồi nó chạy băng qua một thửa ruộng mới cày, dừng lại, lại phóng đi như điên, đổi hướng, lại dừng, lo lắng, rình rập mọi hiểm nguy, phân vân không biết chạy đường nào. Rồi nó lại chạy, những bước nhảy lớn bằng hai chân sau, và biến mất trong một ruộng củ cải đường vuông vức rộng lớn. Mấy ông đều tỉnh cả, dõi theo con vật.

Rơ-nê Lơ-ma-noa lên tiếng:

— Sáng nay chúng ta chẳng ga-lăng chút nào.

Rồi nhìn sang người ngồi cạnh, bà nam tước trẻ Xê-ren đang chống chọi với cơn buồn ngủ, anh nói khẽ:

— Bà đang nghĩ tới ông nhà đấy, thưa bà nam tước. Bà cứ yên tâm, thứ Bảy ông ấy mới về. Bà còn những bốn ngày cơ.

Bà đáp, mỉm một nụ cười ngái ngủ:

— Anh ngốc thật!

Rồi rũ bỏ cơn uể oải, bà nói thêm:

— Nào, kể gì cho chúng tôi cười đi. Ông Sơ-nan, người ta đồn ông có nhiều diễm phúc tình trường hơn cả công tước Ri-sơ-li-ơ, ông kể một chuyện tình của ông đi, chuyện gì cũng được.

Lê-ông Sơ-nan, một hoạ sĩ già từng rất đẹp trai, rất khoẻ mạnh, rất tự hào về vóc dáng của mình và rất được yêu, vuốt bộ râu bạc dài và mỉm cười. Rồi sau mấy giây suy nghĩ, ông bỗng trở nên nghiêm trang.

— Chuyện này không vui đâu, thưa các bà. Tôi sẽ kể cho các bà nghe mối tình thảm thương nhất đời tôi. Tôi mong các bạn tôi đừng bao giờ khơi dậy ở ai một mối tình như thế.

Hồi ấy tôi hai mươi lăm tuổi, và đang làm anh hoạ sĩ lang thang dọc bờ biển Noóc-măng-đi.

Tôi gọi "làm anh hoạ sĩ lang thang" là cái kiểu rong ruổi ba lô trên vai, từ quán trọ này sang quán trọ khác, lấy cớ đi vẽ phác cảnh vật ngoài trời. Tôi chẳng biết gì tuyệt hơn cuộc sống lang bạt tuỳ hứng ấy. Người ta được tự do, chẳng có ràng buộc gì, chẳng lo lắng, chẳng bận tâm, thậm chí chẳng nghĩ tới ngày mai. Người ta đi theo con đường mình thích, không có người dẫn đường nào ngoài ý thích của mình, không có người khuyên bảo nào ngoài niềm vui của đôi mắt. Người ta dừng lại vì bị một con suối quyến rũ, vì trước cửa một quán trọ có mùi khoai tây chiên thơm phức. Đôi khi chính mùi một giàn hoa leo dại đã quyết định chỗ dừng chân, hay cái liếc mắt ngây thơ của một cô gái ở quán trọ. Các bà đừng coi thường những tình cảm quê mùa ấy. Những cô gái ấy cũng có tâm hồn, cũng có cảm xúc, có đôi má căng tròn và đôi môi tươi tắn, và nụ hôn mạnh bạo của họ ngon lành như một trái cây dại. Tình yêu bao giờ cũng quý, dù nó đến từ đâu. Một trái tim đập rộn lên khi anh xuất hiện, một đôi mắt rơi lệ khi anh ra đi, đó là những điều hiếm hoi, ngọt ngào, quý giá đến mức không bao giờ được coi thường.

Tôi đã biết những cuộc hẹn hò bên bờ mương đầy hoa anh thảo, sau chuồng bò, và trên đống rơm trong vựa thóc còn ấm hơi nắng ban ngày. Tôi còn giữ những kỷ niệm về những tấm áo vải thô màu xám, và nỗi tiếc nhớ những cái âu yếm ngây thơ và thẳng thắn, trong cái thô ráp chân thật của chúng còn tế nhị hơn những lạc thú tinh vi có được từ những người đàn bà duyên dáng và sang trọng.

Nhưng điều người ta yêu nhất trong những chuyến phiêu lưu ấy là đồng quê, là rừng cây, là bình minh, hoàng hôn, ánh trăng. Đối với hoạ sĩ, đó là những chuyến du lịch tuần trăng mật với đất trời. Người ta ở một mình thật gần thiên nhiên trong cuộc hẹn hò dài và yên ả ấy. Người ta nằm giữa đồng cỏ, giữa những bông cúc trắng và hoa anh túc, mắt mở to dưới một vạt nắng trong veo, nhìn ra xa ngôi làng nhỏ với tháp chuông nhọn đang điểm giờ trưa.

Người ta ngồi bên một mạch nước chảy ra dưới gốc sồi, giữa một mái tóc cỏ mảnh mai, cao vút, óng ánh sức sống. Người ta quỳ xuống, cúi mình, uống thứ nước lạnh và trong vắt làm ướt cả ria lẫn mũi, uống với một niềm khoái cảm của thân thể, như thể đang hôn mạch nước, môi kề môi. Đôi khi, gặp một vũng sâu dọc theo những dòng nước nhỏ ấy, người ta nhảy ùm xuống, và cảm thấy trên da mình, từ đầu tới chân, như một cái vuốt ve lạnh buốt và tuyệt diệu, sự rung động của dòng nước chảy nhanh và nhẹ.

Người ta vui trên đồi, buồn bên bờ ao, phấn chấn khi mặt trời chìm xuống một đại dương mây đỏ như máu và hắt xuống những dòng sông những ánh đỏ rực. Và buổi tối, dưới vầng trăng trôi tận đáy trời, người ta nghĩ tới hàng nghìn điều kỳ lạ không bao giờ đến với mình dưới ánh sáng chói chang của ban ngày.

Vậy là, lang thang như thế qua chính vùng đất chúng ta đang ở năm nay, một buổi tối tôi tới ngôi làng nhỏ Bê-nu-vin trên vách đá, giữa I-po và Ê-tơ-rơ-ta. Tôi từ Phê-căng tới, men theo bờ biển, bờ biển cao dựng đứng như một bức tường, với những mỏm đá phấn đổ thẳng xuống biển. Từ sáng tôi đã đi trên thảm cỏ ngắn, mịn và mềm như tấm thảm, mọc bên bờ vực dưới làn gió mặn từ ngoài khơi. Vừa hát toáng lên, vừa sải những bước dài, khi thì ngắm một con hải âu chậm rãi lượn vòng, vạch trên nền trời xanh đường cong trắng của đôi cánh, khi thì ngắm cánh buồm nâu của một chiếc thuyền đánh cá trên mặt biển xanh, tôi đã sống một ngày hạnh phúc vô tư và tự do.

Người ta chỉ cho tôi một trang trại nhỏ có cho khách trọ, một thứ quán trọ do một bà nông dân trông coi, giữa một khoảng sân kiểu Noóc-măng-đi có hai hàng cây sồi trắng bao quanh.

Rời vách đá, tôi tới xóm nhỏ nằm khuất trong những hàng cây lớn, và tới gõ cửa nhà bà Lơ-ca-sơ.

Đó là một bà nhà quê già, nhăn nheo, nghiêm khắc, lúc nào cũng có vẻ tiếp khách một cách miễn cưỡng, với một thứ ngờ vực.

Hồi ấy là tháng Năm. Những cây táo đang nở hoa phủ lên khoảng sân một mái nhà hoa thơm ngát, không ngớt rắc xuống một cơn mưa xoay tròn những cánh hồng nhỏ rơi mãi lên người và lên cỏ.

Tôi hỏi:

— Thế nào, bà Lơ-ca-sơ, bà còn phòng cho tôi không?

Ngạc nhiên thấy tôi biết tên mình, bà đáp:

— Còn tuỳ, thuê hết cả rồi. Nhưng cũng có thể xem thử.

Năm phút sau chúng tôi đã thoả thuận xong, và tôi đặt chiếc ba lô xuống nền đất của một căn phòng mộc mạc, kê một chiếc giường, hai chiếc ghế, một cái bàn và một cái chậu rửa. Phòng mở ra gian bếp rộng, ám khói, nơi khách trọ ăn chung với người làm trang trại và bà chủ, một bà goá. Tôi rửa tay rồi lại đi ra. Bà già đang rán một con gà cho bữa tối trong chiếc lò sưởi lớn có cái móc nồi treo đen kịt vì khói.

Tôi hỏi bà:

— Thế bà đang có khách trọ à?

Bà đáp, vẻ không bằng lòng:

— Có một bà, một bà người Anh có tuổi. Bà ấy ở phòng bên kia.

Với giá trả thêm năm xu mỗi ngày, tôi được quyền ăn một mình ngoài sân những hôm trời đẹp.

Người ta bày bàn ăn cho tôi trước cửa, và tôi bắt đầu dùng răng xé những cái đùi gầy nhom của con gà Noóc-măng-đi, uống rượu táo trong veo và nhai thứ bánh mì trắng to, để bốn ngày rồi nhưng ngon tuyệt.

Bỗng cánh cổng gỗ mở ra phía đường cái, và một người kỳ lạ đi về phía ngôi nhà. Bà ta rất gầy, rất cao, quấn chặt trong một tấm khăn choàng kẻ ô đỏ kiểu Xcốt-len đến nỗi người ta tưởng bà không có tay, nếu không thấy một bàn tay dài thò ra ngang hông, cầm một chiếc ô trắng của khách du lịch. Gương mặt như xác ướp của bà, viền những lọn tóc xám quấn tròn nảy lên theo mỗi bước chân, làm tôi nghĩ, chẳng hiểu vì sao, tới một con cá trích hun khói đang cuộn tóc bằng giấy. Bà lướt nhanh qua trước mặt tôi, mắt nhìn xuống, rồi khuất vào trong căn nhà mái tranh.

Sự xuất hiện kỳ quặc ấy làm tôi buồn cười. Hẳn đó là người hàng xóm của tôi, bà người Anh có tuổi mà bà chủ quán đã nói tới.

Hôm ấy tôi không gặp lại bà. Hôm sau, khi tôi đã ngồi vẽ ở cuối cái thung lũng xinh xắn mà các bà vẫn biết, cái thung lũng đổ dốc xuống tận Ê-tơ-rơ-ta, chợt ngước mắt lên, tôi thấy một vật gì kỳ lạ dựng đứng trên đỉnh đồi, trông như một cột buồm treo cờ. Chính là bà ta. Thấy tôi, bà biến mất.

Trưa tôi về ăn và ngồi vào bàn ăn chung để làm quen với bà già lập dị ấy. Nhưng bà không đáp lại những lời lịch sự của tôi, dửng dưng cả với những chăm chút nho nhỏ của tôi. Tôi lì lợm rót nước cho bà, vồn vã chuyền món ăn cho bà. Một cái gật đầu khẽ, gần như không nhận ra, và một tiếng Anh lẩm bẩm khẽ đến mức tôi không nghe thấy, là những lời cảm ơn duy nhất của bà.

Tôi thôi để ý tới bà, dù bà vẫn làm tôi bận tâm.

Ba ngày sau tôi đã biết về bà nhiều chẳng kém gì chính bà Lơ-ca-sơ.

Bà tên là cô Ha-ri-ét. Đi tìm một ngôi làng hẻo lánh để nghỉ hè, bà dừng chân ở Bê-nu-vin từ sáu tuần trước và có vẻ chẳng định đi đâu. Ở bàn ăn bà không bao giờ nói, ăn rất nhanh, vừa ăn vừa đọc một cuốn sách nhỏ truyền đạo Tin Lành. Bà phát những cuốn sách ấy cho tất cả mọi người. Ngay cả cha xứ cũng nhận được bốn cuốn, do một thằng nhóc mang tới với tiền công hai xu. Thỉnh thoảng bà nói với bà chủ quán, đột ngột, chẳng có gì báo trước:

— Tôi yêu Chúa hơn mọi thứ. Tôi ngưỡng mộ Chúa trong cả công trình của Người, tôi tôn thờ Chúa trong cả thiên nhiên của Người, tôi mang Chúa luôn trong trái tim tôi.

Rồi bà dúi ngay cho bà nhà quê đang sững sờ một cuốn sách nhỏ dùng để cải đạo cả vũ trụ.

Trong làng người ta không ưa bà. Ông thầy giáo tuyên bố: "Đó là một kẻ vô thần", nên có một thứ dè bỉu đè lên bà. Cha xứ, được bà Lơ-ca-sơ hỏi ý, trả lời: "Đó là một kẻ dị giáo, nhưng Chúa không muốn kẻ tội lỗi phải chết, và tôi tin bà ấy là người có đạo đức hoàn hảo."

Mấy chữ "vô thần", "dị giáo" mà chẳng ai biết nghĩa chính xác gieo mối ngờ vào đầu óc mọi người. Người ta còn bảo bà người Anh giàu có và đã sống cả đời đi du lịch khắp mọi nước trên thế giới, vì gia đình đã đuổi bà đi. Vì sao gia đình lại đuổi bà? Tất nhiên là vì bà không tin Chúa rồi.

Thật ra bà là một trong những người cuồng nhiệt có nguyên tắc, một trong những người thanh giáo cố chấp mà nước Anh sản sinh ra nhiều vô kể, một trong những bà gái già tốt bụng mà không ai chịu nổi, ám ảnh mọi bàn ăn chung ở các khách sạn khắp châu Âu, làm hỏng nước Ý, đầu độc Thuỵ Sĩ, khiến những thành phố xinh xắn bên Địa Trung Hải không sao ở được, mang theo khắp nơi những thói quen kỳ quặc, những nếp sống của những nữ tu hoá đá, những bộ trang phục không sao tả nổi, và một thứ mùi cao su khiến người ta tưởng ban đêm họ được nhét vào một cái bao.

Hễ thấy một bà như thế trong khách sạn là tôi chạy trốn, như lũ chim thấy hình nộm giữa đồng.

Thế nhưng bà này có vẻ kỳ lạ đến mức tôi lại không thấy khó chịu.

Bà Lơ-ca-sơ, theo bản năng thù ghét mọi thứ không phải nhà quê, cảm thấy trong đầu óc hẹp hòi của mình một thứ căm ghét những điệu bộ ngây ngất của bà gái già. Bà đã tìm ra một từ để gọi người kia, một từ chắc chắn là khinh miệt, chẳng biết từ đâu đến miệng bà, chẳng biết đầu óc bà đã mơ hồ, bí ẩn xoay xở thế nào mà nảy ra. Bà bảo: "Đó là một con mẹ quỷ ám." Và cái từ ấy, dán lên con người khắc khổ và đa cảm kia, tôi thấy buồn cười không chịu nổi. Chính tôi cũng chỉ còn gọi bà là "con mẹ quỷ ám", và thấy thích thú lạ lùng khi nói to mấy tiếng ấy lúc trông thấy bà.

Tôi hỏi bà Lơ-ca-sơ:

— Thế nào, hôm nay con mẹ quỷ ám của chúng ta làm gì?

Và bà nhà quê đáp với vẻ phẫn nộ:

— Ông có tin không, mụ ấy nhặt một con cóc bị giẫm dập chân, mang về phòng, bỏ vào chậu rửa mặt, rồi băng bó cho nó như băng cho người ấy. Thế có phải là phạm thánh không cơ chứ!

Một lần khác, đi dạo dưới chân vách đá, bà mua một con cá to vừa mới đánh được, chỉ để thả nó xuống biển. Và người thuỷ thủ, dù được trả tiền hậu hĩnh, đã chửi bà không tiếc lời, còn tức hơn cả khi bà móc túi lấy tiền của anh ta. Một tháng sau anh ta vẫn không nói tới chuyện ấy được mà không nổi khùng và không gào lên những lời lăng mạ. Ồ đúng thế, cô Ha-ri-ét đúng là một con mẹ quỷ ám, bà Lơ-ca-sơ đã có một cảm hứng thiên tài khi đặt cho bà cái tên ấy.

Anh coi ngựa, người ta gọi là Công Binh vì hồi trẻ từng đi lính ở châu Phi, lại có ý kiến khác. Anh ta bảo, vẻ tinh quái:

— Đấy là một bà già đã hết thời.

Giá mà người đàn bà tội nghiệp ấy biết được?

Cô hầu gái nhỏ Xê-lét không vui lòng hầu bà, mà tôi chẳng hiểu vì sao. Có lẽ chỉ vì bà là người nước ngoài, khác giống người, khác tiếng nói, khác tôn giáo. Tóm lại, bà là một con mẹ quỷ ám!

Bà dành thời gian đi lang thang khắp vùng quê, tìm kiếm và tôn thờ Chúa trong thiên nhiên. Một buổi tối tôi thấy bà quỳ trong một bụi cây. Thấy có vật gì đo đỏ qua kẽ lá, tôi vạch cành ra, và cô Ha-ri-ét đứng bật dậy, xấu hổ vì bị bắt gặp như thế, nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt hoảng hốt như mắt những con cú bị bắt gặp giữa ban ngày.

Đôi khi, đang vẽ giữa những tảng đá, tôi bỗng thấy bà đứng trên mép vách đá, như một cột tín hiệu. Bà say đắm ngắm biển cả mênh mông dát vàng ánh sáng và bầu trời lớn đỏ rực lửa. Đôi khi tôi nhận ra bà dưới đáy một thung lũng, đi thật nhanh bằng những bước chân nhún nhảy của người Anh. Và tôi đi về phía bà, bị cái gì đó lôi cuốn mà không biết, chỉ để được nhìn gương mặt ngây ngất như người thấy được điều linh thiêng của bà, gương mặt khô khốc, không sao tả nổi, mãn nguyện trong một niềm vui sâu kín bên trong.

Cũng nhiều lần tôi gặp bà ở góc một trang trại, ngồi trên cỏ dưới bóng một cây táo, cuốn sách Kinh Thánh nhỏ mở trên đùi, ánh mắt lơ đãng nhìn ra xa.

Bởi tôi chẳng muốn đi đâu nữa. Muôn sợi dây yêu thương với những cảnh vật rộng lớn và dịu dàng đã níu tôi lại ở vùng quê êm ả này. Tôi thấy dễ chịu trong cái trang trại không ai biết tới này, xa mọi thứ, gần với đất, với mảnh đất tốt lành, lành mạnh, xinh đẹp và xanh tươi mà một ngày kia chính chúng ta sẽ bón cho nó bằng thân xác mình. Và có lẽ, cũng phải thú thật, một chút tò mò cũng giữ chân tôi ở nhà bà Lơ-ca-sơ. Tôi muốn hiểu đôi chút về cô Ha-ri-ét kỳ lạ ấy, và biết được điều gì diễn ra trong tâm hồn cô độc của những bà già người Anh lang thang ấy.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cô Ha-ri-ét

  1. 1Phần một: Bà đầm Anh ở trang trại Bê-nu-vin14 phút
  2. 2Phần hai: Bức tranh tảng đáĐang thu âm
  3. 3Phần ba: Cái giếng trong sânĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Miss Harriet, in trên báo Le Gaulois ngày 9 tháng 7 năm 1883 với tên Miss Hastings, tập Miss Harriet, bản Conard 1910
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →