Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một. Cô thôn nữ trong rừng

Cô tiểu thư giả làm thôn nữ · Chương 1/2 · của Aleksandr Pushkin

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 19.716 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Nàng Đu-sen-ca ơi, nàng mặc gì cũng đẹp. Thơ…
  2. 5:10Nhưng để tâm đến anh nhiều hơn ai hết…
  3. 7:23Cô để em kể từ đầu đã. Bọn em…
  4. 8:49Em không biết ạ, chứ em thì cậu ấy…
  5. 11:38Đến gần khu rừng nhỏ ở ranh giới điền…
  6. 13:19Nói dối, cô nói. Đừng tưởng em ngốc. Em…
  7. 14:45Cậu nói gì thế? Li-da vội vàng cãi. Lạy…
  8. 15:49Rồi ông dẫn ra mấy ví dụ về những…

Chương 1: Phần một. Cô thôn nữ trong rừng

Nàng Đu-sen-ca ơi, nàng mặc gì cũng đẹp. Thơ Bô-gđa-nô-vích.

Ở một tỉnh xa xôi của nước ta có điền trang của ông I-van Pê-tơ-rô-vích Bê-rê-xtốp. Thời trẻ ông phục vụ trong đội cận vệ, đầu năm một nghìn bảy trăm chín mươi bảy thì xin giải ngũ, về làng, và từ đó không đi đâu nữa. Ông lấy một cô gái quý tộc nghèo, bà mất khi sinh nở, đúng lúc ông đang đi săn xa. Công việc đồng áng chẳng mấy chốc đã an ủi được ông. Ông xây nhà theo thiết kế của chính mình, lập một xưởng dệt dạ, tăng lợi tức lên gấp ba, và tự coi mình là người khôn ngoan nhất vùng. Điều ấy hàng xóm cũng chẳng cãi, vì họ vẫn kéo cả nhà lẫn chó săn đến chơi nhà ông. Ngày thường ông mặc áo nhung kẻ, ngày lễ thì mặc áo choàng dạ dệt ở nhà. Ông tự ghi sổ chi tiêu, và chẳng đọc gì ngoài tờ Công báo của Viện Nguyên lão. Nói chung người ta quý ông, tuy cũng cho là ông kiêu.

Chỉ có ông Gri-gô-ri I-va-nô-vích Mu-rôm-xki, người hàng xóm gần nhất, là không hợp với ông. Ông này đúng là một vị chúa đất Nga chính hiệu. Phá gần hết gia sản ở Mát-xcơ-va, lại vừa goá vợ, ông về cái làng cuối cùng còn lại của mình, và ở đó vẫn tiếp tục chơi ngông, nhưng theo một kiểu mới. Ông làm một khu vườn kiểu Anh, tốn gần hết số lợi tức còn lại. Bọn giữ ngựa của ông mặc như nài ngựa Anh. Con gái ông có một bà gia sư người Anh. Ông canh tác ruộng đất theo phương pháp Anh.

Nhưng lúa mì Nga đâu chịu mọc theo kiểu ngoại.

Thế nên dù đã cắt giảm chi tiêu đáng kể, lợi tức của ông Gri-gô-ri I-va-nô-vích chẳng tăng lên được chút nào. Ngay cả ở làng quê, ông vẫn tìm ra cách vay thêm nợ mới. Dù vậy ông vẫn được coi là người không ngốc, vì ông là điền chủ đầu tiên trong tỉnh nghĩ ra việc đem điền trang cầm cho Hội đồng Bảo trợ, một nước đi hồi ấy được coi là hết sức phức tạp và táo bạo.

Trong số những người chê trách ông, ông Bê-rê-xtốp là người nói nặng nhất. Ghét cay ghét đắng mọi cái mới là nét nổi bật trong tính cách ông. Ông không thể bình thản mà nói về cái bệnh mê nước Anh của người hàng xóm, và lúc nào cũng tìm được dịp để chê bai. Mỗi khi dẫn khách đi xem điền trang của mình, đáp lại những lời khen về cách làm ăn của ông, ông lại cười ranh mãnh:

– Vâng ạ! Ở nhà tôi đâu như nhà ông hàng xóm Gri-gô-ri I-va-nô-vích. Chúng tôi đâu dám phá sản theo kiểu Anh! Cứ theo kiểu Nga mà no bụng là được rồi.

Những câu đùa như thế, nhờ lòng nhiệt tình của hàng xóm, đều được đưa đến tai ông Gri-gô-ri I-va-nô-vích, kèm đủ lời thêm thắt, giải thích. Ông mê nước Anh chịu đựng lời phê bình kém kiên nhẫn y như các nhà báo nước ta. Ông nổi điên, gọi kẻ chỉ trích mình là con gấu, là đồ nhà quê.

Quan hệ giữa hai vị chủ đất là như thế khi con trai ông Bê-rê-xtốp về làng. Anh học ở một trường đại học, định vào quân đội, nhưng cha không đồng ý. Còn làm quan văn thì chàng trai tự thấy mình hoàn toàn không có khiếu. Hai cha con chẳng ai chịu ai, và cậu A-léc-xây tạm sống đời công tử, để ria mép cho chắc ăn.

A-léc-xây quả là một chàng trai khôi ngô. Thật đáng tiếc nếu tấm thân thon thả của anh chẳng bao giờ được bó trong bộ quân phục, nếu thay vì ngồi oai trên lưng ngựa, anh lại mất cả tuổi xuân cúi gập người trên giấy tờ bàn giấy. Thấy anh đi săn bao giờ cũng phi ngựa đầu tiên, chẳng cần nhìn đường, hàng xóm đều đồng thanh bảo rằng anh chẳng bao giờ thành một ông trưởng phòng ra hồn được.

Các tiểu thư liếc nhìn anh, có cô còn nhìn đắm đuối. Nhưng A-léc-xây chẳng mấy để tâm đến họ, và họ cho rằng anh lạnh lùng như thế là vì đã có một mối tình. Quả thật, người ta chuyền tay nhau bản chép địa chỉ trên một lá thư của anh: "Gửi cô A-cu-li-na Pê-tơ-rốp-na Cu-rốt-ki-na, ở Mát-xcơ-va, đối diện tu viện A-léc-xê-ép, nhà ông thợ đồng Xa-vê-li-ép. Kính nhờ chuyển thư này cho A. N. R."

Những bạn đọc nào chưa từng sống ở làng quê thì không thể hình dung các cô tiểu thư tỉnh lẻ đáng yêu đến thế nào! Lớn lên giữa khí trời trong lành, dưới bóng những cây táo trong vườn, các cô học hiểu biết về đời qua sách vở. Cô quạnh, tự do và đọc sách sớm khơi dậy trong các cô những tình cảm, những đam mê mà các người đẹp sống tản mát ở thủ đô không hề biết. Với một cô tiểu thư, tiếng chuông xe ngựa đã là một cuộc phiêu lưu, một chuyến đi lên thị trấn gần nhất là một kỷ nguyên trong đời, và một vị khách đến thăm để lại một kỷ niệm lâu dài, đôi khi là mãi mãi.

Tất nhiên ai muốn cười những điều kỳ quặc của các cô thì cứ cười. Nhưng những câu đùa của kẻ quan sát hời hợt không thể xoá được những phẩm chất cốt yếu của các cô, mà quan trọng nhất là cá tính riêng, là bản sắc, thứ mà theo nhà văn Giăng Pôn, thiếu nó thì không có sự vĩ đại của con người. Ở thủ đô, phụ nữ có lẽ được học hành tốt hơn. Nhưng thói quen giao du chẳng mấy chốc làm mòn tính cách, khiến các tâm hồn giống hệt nhau như những chiếc mũ. Điều này tôi nói ra không phải để phán xét hay chê trách, nhưng lời bình của chúng tôi vẫn giữ nguyên, như một nhà chú giải xưa đã viết.

Dễ hình dung A-léc-xây gây ấn tượng thế nào trong giới tiểu thư vùng ta. Anh là người đầu tiên xuất hiện trước các cô với vẻ u sầu và chán chường. Anh là người đầu tiên nói với các cô về những niềm vui đã mất, về tuổi xuân tàn úa của mình. Thêm vào đó, anh đeo một chiếc nhẫn đen khắc hình đầu lâu. Tất cả những điều ấy hết sức mới mẻ ở cái tỉnh ấy. Các tiểu thư mê anh như điên.

Nhưng để tâm đến anh nhiều hơn ai hết là cô con gái của ông mê nước Anh của tôi, cô Li-da, hay Bét-xi, như ông Gri-gô-ri I-va-nô-vích vẫn thường gọi. Hai ông bố không đi lại với nhau, cô chưa từng thấy A-léc-xây, trong khi các cô gái trẻ hàng xóm chỉ toàn nói về anh. Cô mười bảy tuổi. Đôi mắt đen làm sinh động khuôn mặt ngăm ngăm rất dễ thương của cô. Cô là con một, do đó được nuông chiều. Tính nghịch ngợm và những trò tinh quái liên miên của cô làm cha cô thích thú, nhưng làm bà gia sư, cô Giắc-xơn, tuyệt vọng. Cô Giắc-xơn là một bà cô bốn mươi tuổi khó tính, đánh phấn trắng, kẻ lông mày, mỗi năm đọc lại cuốn Pa-mê-la hai lần, được trả hai nghìn rúp cho việc ấy, và đang chết dần vì buồn chán ở cái nước Nga man rợ này.

Người hầu hạ Li-da là cô Na-xti-a. Cô lớn tuổi hơn, nhưng cũng bồng bột chẳng kém cô chủ. Li-da rất quý cô, kể cho cô nghe mọi điều bí mật, cùng cô bày đủ trò. Tóm lại, ở làng Pri-lu-chi-nô, Na-xti-a là một nhân vật quan trọng hơn nhiều so với bất cứ người tâm phúc nào trong bi kịch Pháp.

Một hôm, Na-xti-a vừa mặc áo cho cô chủ vừa nói:

– Hôm nay cô cho em đi chơi nhé.

– Được thôi. Mà đi đâu?

– Đi Tu-ghi-lô-vô, sang nhà ông Bê-rê-xtốp ạ. Bên ấy vợ ông đầu bếp mừng ngày thánh bổn mạng, hôm qua có sang mời bọn em sang ăn trưa.

– Hay nhỉ! Li-da nói. Chủ thì giận nhau, tớ lại mời nhau ăn.

– Chủ thì mặc chủ, việc gì đến bọn em! Na-xti-a đáp. Vả lại em là người của cô chứ có phải của ông nhà đâu. Cô đã cãi nhau với cậu Bê-rê-xtốp con bao giờ đâu. Còn mấy ông già ấy, thích đánh nhau thì cứ để các ông ấy đánh nhau.

– Na-xti-a, em cố mà gặp cho được A-léc-xây Bê-rê-xtốp nhé, rồi kể cho chị nghe thật kỹ anh ta trông thế nào, là người ra sao.

Na-xti-a hứa. Còn Li-da nóng lòng chờ cô về suốt cả ngày. Tối, Na-xti-a về.

– Thưa cô Li-da-vê-ta Gri-gô-ri-ép-na, cô vừa bước vào phòng đã nói, em gặp cậu Bê-rê-xtốp con rồi. Ngắm chán chê. Cả ngày ở cùng nhau mà.

– Thế nào? Kể đi, kể từ đầu đi.

– Vâng ạ. Bọn em đi, có em, cô A-ni-xi-a Ê-gô-rốp-na, cô Nê-ni-la, con Đun-ca…

– Rồi, biết rồi. Rồi sao nữa?

– Cô để em kể từ đầu đã. Bọn em đến đúng bữa trưa. Phòng chật ních người. Có người bên Côn-bi-nô, người bên Da-kha-ri-ê-vô, vợ ông quản lý với mấy cô con gái, người bên Khlu-pi-nô…

– Thì sao! Còn Bê-rê-xtốp?

– Cô khoan đã. Bọn em ngồi vào bàn, vợ ông quản lý ngồi chỗ nhất, em ngồi cạnh bà ấy… mấy cô con gái bà ấy phụng phịu, nhưng em mặc kệ…

– Ôi, Na-xti-a, em chán quá đi mất với cái chuyện gì cũng kể tỉ mỉ!

– Sao cô sốt ruột thế! Rồi bọn em đứng dậy khỏi bàn… mà bọn em ngồi những ba tiếng, bữa ăn ngon lắm, bánh thạch sữa màu xanh, màu đỏ, lại có cả màu sọc… Rồi bọn em đứng dậy, ra vườn chơi đuổi bắt, thì cậu chủ trẻ xuất hiện.

– Thế nào? Có thật là anh ta đẹp trai thế không?

– Đẹp trai lạ lùng, có thể nói là tuấn tú. Người thon thả, cao ráo, má hồng rực…

– Thật à? Thế mà chị cứ tưởng mặt anh ta xanh xao. Thế nào? Em thấy anh ta ra sao? Buồn bã, trầm ngâm à?

– Cô nói gì thế? Một người sôi nổi như thế em sinh ra chưa thấy bao giờ. Cậu ấy còn nghĩ ra trò chạy đuổi bắt với bọn em.

– Chạy đuổi bắt với bọn em! Không thể nào!

– Thể nào ấy chứ! Mà cậu ấy còn nghĩ ra cái gì nữa cơ! Bắt được ai là hôn lấy hôn để!

– Tuỳ em thôi, Na-xti-a, nhưng em nói dối.

– Tuỳ cô thôi, nhưng em không nói dối. Em phải vất vả lắm mới thoát được cậu ấy. Suốt cả ngày cậu ấy cứ quấn lấy bọn em như thế.

– Thế sao người ta lại bảo anh ta đang yêu, chẳng thèm nhìn ai?

– Em không biết ạ, chứ em thì cậu ấy nhìn nhiều quá đi chứ, cả con Ta-nhi-a con ông quản lý cũng thế, cả cô Pa-sa bên Côn-bi-nô nữa. Nói ra thì tội, cậu ấy chẳng để ai thiệt cả, nghịch ngợm thế đấy!

– Lạ thật! Thế người trong nhà nói gì về anh ta?

– Người ta bảo cậu chủ tuyệt lắm, tốt bụng, vui tính. Chỉ có mỗi một điều không hay: thích chạy theo các cô gái quá. Nhưng em thấy thế cũng chưa phải là chuyện lớn. Rồi dần dần cậu ấy sẽ chín chắn.

– Chị muốn được gặp anh ta biết bao! Li-da thở dài nói.

– Thì có gì khó đâu? Tu-ghi-lô-vô cách nhà mình có ba dặm. Cô cứ đi dạo về phía ấy, hoặc cưỡi ngựa đi, thế nào cũng gặp. Ngày nào cậu ấy cũng vác súng đi săn từ sáng sớm.

– Không, thế không hay. Anh ta có thể nghĩ chị chạy theo anh ta. Vả lại cha chị với cha anh ta đang giận nhau, nên chị cũng chẳng làm quen với anh ta được… Ôi, Na-xti-a! Em biết không? Chị sẽ cải trang làm cô gái quê!

– Phải đấy. Cô mặc áo vải thô, mặc váy xa-ra-phan, rồi cứ mạnh dạn đi về phía Tu-ghi-lô-vô. Em đảm bảo với cô là cậu Bê-rê-xtốp chẳng bỏ qua cô đâu.

– Mà chị nói giọng dân quê ở đây giỏi lắm. Ôi, Na-xti-a, Na-xti-a thân yêu! Ý hay tuyệt!

Thế là Li-da đi ngủ với ý định nhất quyết thực hiện kế hoạch vui vẻ của mình.

Ngay hôm sau, cô bắt tay vào thực hiện kế hoạch. Cô sai người ra chợ mua vải lanh thô, vải bông xanh và khuy đồng. Na-xti-a giúp cô cắt áo và váy xa-ra-phan, cả phòng các cô hầu gái xúm vào khâu, đến tối thì mọi thứ đã xong.

Li-da mặc thử đồ mới, đứng trước gương thú nhận rằng chưa bao giờ cô thấy mình đáng yêu đến thế. Cô tập lại vai diễn của mình: vừa đi vừa cúi chào thật thấp, rồi lắc lắc đầu mấy cái như mấy con mèo đất nung, nói giọng nhà quê, lấy tay áo che miệng mà cười. Na-xti-a hoàn toàn tán thưởng.

Chỉ có một điều làm cô khó xử. Cô thử đi chân đất qua sân, nhưng cỏ đâm vào bàn chân non nớt của cô, còn cát sỏi thì cô thấy không sao chịu nổi. Lại Na-xti-a giúp cô. Cô đo chân Li-da, chạy ra đồng tìm anh chăn bò Trô-phim, đặt anh ta đan một đôi giày cói theo đúng số đo.

Hôm sau, trời chưa rạng, Li-da đã dậy. Cả nhà còn ngủ. Na-xti-a ra ngoài cổng đợi anh chăn bò. Tiếng tù và nổi lên, đàn bò của làng lũ lượt đi qua sân nhà chủ. Đi qua trước mặt Na-xti-a, Trô-phim đưa cho cô đôi giày cói nhỏ nhắn sặc sỡ, nhận nửa rúp tiền công. Li-da lặng lẽ cải trang làm cô gái quê, thì thầm dặn Na-xti-a cách đối phó với cô Giắc-xơn, rồi ra cửa sau, chạy qua vườn rau ra cánh đồng.

Rạng đông rực rỡ phía đông. Những dải mây vàng như đang chờ mặt trời, như các triều thần chờ đức vua. Bầu trời trong, cái mát buổi sớm, sương đêm, làn gió nhẹ và tiếng chim hót khiến lòng Li-da tràn ngập niềm vui hồn nhiên như trẻ thơ. Sợ gặp người quen, cô như không đi mà bay.

Đến gần khu rừng nhỏ ở ranh giới điền trang của cha, Li-da bước chậm lại. Ở đây cô phải chờ A-léc-xây. Tim cô đập mạnh, chẳng hiểu vì sao. Nhưng nỗi sợ đi kèm những trò nghịch ngợm tuổi trẻ cũng lại chính là cái thú chủ yếu của chúng. Li-da bước vào bóng râm của khu rừng. Tiếng rì rào trầm trầm, cuộn sóng của cây rừng chào đón cô gái. Niềm vui của cô lắng xuống. Dần dần cô chìm vào mơ mộng ngọt ngào. Cô nghĩ… nhưng liệu có ai nói chính xác được một tiểu thư mười bảy tuổi, một mình trong rừng, lúc năm giờ sáng một buổi xuân, đang nghĩ gì không?

Cô cứ thế đi trên con đường rợp bóng cây cao hai bên, đầu óc mơ màng, thì bỗng một con chó săn đẹp đẽ sủa vào cô. Li-da hoảng sợ kêu lên. Cùng lúc ấy vang lên một giọng nói bằng tiếng Pháp: "Ngoan nào, Xbô-ga, lại đây!" Và một chàng thợ săn trẻ hiện ra từ sau bụi cây.

– Đừng sợ, cô em, anh nói với Li-da. Chó của anh không cắn đâu.

Li-da đã kịp hoàn hồn, và biết ngay cách tận dụng tình thế.

– Không đâu, cậu ơi, cô nói, làm ra vẻ nửa sợ nửa thẹn. Em sợ lắm. Nó dữ thế kia cơ mà, nó lại nhảy xổ vào bây giờ.

A-léc-xây, bạn đọc đã nhận ra anh, trong lúc ấy chăm chú nhìn cô gái quê trẻ.

– Nếu em sợ thì anh đưa em đi, anh nói với cô. Em cho anh đi cạnh em nhé?

– Ai cấm cậu đâu? Li-da đáp. Ai muốn đi thì đi, đường là đường chung.

– Em ở đâu đến?

– Ở Pri-lu-chi-nô. Em là con gái bác thợ rèn Va-xi-li, em đi hái nấm.

Li-da xách một cái giỏ có dây.

– Còn cậu? Người bên Tu-ghi-lô-vô hả?

– Đúng thế, A-léc-xây đáp. Anh là người hầu phòng của cậu chủ trẻ.

A-léc-xây muốn kéo hai người ngang hàng nhau. Nhưng Li-da nhìn anh rồi bật cười.

– Nói dối, cô nói. Đừng tưởng em ngốc. Em thấy rõ cậu chính là cậu chủ.

– Sao em lại nghĩ thế?

– Thì nhìn cái gì cũng biết.

– Nhưng mà cái gì?

– Thì sao lại không phân biệt được chủ với tớ? Ăn mặc khác hẳn, nói năng khác hẳn, đến gọi chó cũng chẳng gọi như bọn em.

Mỗi lúc A-léc-xây càng thích Li-da hơn. Đã quen không khách sáo gì với các cô gái quê xinh xắn, anh toan ôm cô. Nhưng Li-da nhảy lùi ra xa, bỗng làm ra vẻ nghiêm khắc, lạnh lùng đến mức tuy A-léc-xây thấy buồn cười, anh cũng không dám làm gì thêm.

– Nếu cậu muốn sau này chúng mình là bạn, cô nói, giọng nghiêm trang, thì xin cậu đừng quên mình.

– Ai dạy em cái khôn ngoan ấy thế? A-léc-xây phá lên cười, hỏi. Có phải cô Na-xti-a, người quen của anh, cô hầu của tiểu thư nhà em không? Hoá ra văn minh lan ra bằng những con đường như thế đấy!

Li-da thấy mình suýt nữa ra khỏi vai, bèn sửa lại ngay.

– Thế cậu tưởng sao? Cô nói. Bộ em không bao giờ lên nhà chủ à? Đừng lo, em nghe nhiều, thấy nhiều rồi. Nhưng mà, cô nói tiếp, đứng tán chuyện với cậu thì chẳng hái được nấm nào. Cậu đi đường cậu, em đi đường em. Thôi chào cậu nhé…

Li-da định đi, A-léc-xây nắm tay giữ cô lại.

– Em tên là gì, em yêu?

– A-cu-li-na, Li-da đáp, cố gỡ những ngón tay mình ra khỏi tay A-léc-xây. Cậu buông em ra nào. Em phải về nhà rồi.

– Này, cô bạn A-cu-li-na của anh, thế nào anh cũng sẽ đến chơi nhà cha em, bác thợ rèn Va-xi-li.

– Cậu nói gì thế? Li-da vội vàng cãi. Lạy Chúa, cậu đừng đến. Ở nhà mà biết em đứng tán chuyện riêng với cậu chủ trong rừng thì em chết. Cha em, bác thợ rèn Va-xi-li, sẽ đánh em đến chết mất.

– Nhưng anh nhất định muốn gặp lại em.

– Thì hôm nào em lại đến đây hái nấm.

– Hôm nào?

– Thì mai cũng được.

– A-cu-li-na thân yêu, anh muốn hôn em quá, nhưng không dám. Vậy mai nhé, đúng giờ này, phải không?

– Vâng, vâng.

– Em không lừa anh đấy chứ?

– Không lừa đâu.

– Thề đi.

– Thì em thề có ngày thứ sáu thánh, em sẽ đến.

Hai người trẻ chia tay nhau. Li-da ra khỏi rừng, băng qua cánh đồng, lẻn vào vườn, rồi chạy bán sống bán chết vào trại, nơi Na-xti-a đang chờ. Ở đó cô thay quần áo, lơ đãng trả lời những câu hỏi của cô bạn tâm phúc đang nóng ruột, rồi ra phòng khách.

Bàn đã dọn, bữa sáng đã sẵn sàng, cô Giắc-xơn đã đánh phấn trắng, thắt eo nhỏ như cái ly, đang cắt những lát bánh mì mỏng. Cha khen cô dậy sớm đi dạo.

– Chẳng có gì tốt cho sức khoẻ bằng dậy từ lúc rạng đông, ông nói.

Rồi ông dẫn ra mấy ví dụ về những người sống lâu trích từ báo Anh, nhận xét rằng tất cả những người sống quá trăm tuổi đều không uống rượu vốt-ca, và dậy từ lúc rạng đông cả mùa đông lẫn mùa hè. Li-da không nghe ông nói. Trong đầu cô đang nhắc lại mọi chi tiết của buổi gặp sáng nay, toàn bộ cuộc trò chuyện giữa A-cu-li-na với chàng thợ săn trẻ, và lương tâm cô bắt đầu cắn rứt.

Cô cãi lại chính mình rằng cuộc chuyện trò của họ không hề vượt quá giới hạn đứng đắn, rằng trò nghịch này chẳng thể đưa đến hậu quả gì, nhưng vô ích, lương tâm cô vẫn kêu to hơn lý trí. Lời hứa hẹn ngày mai làm cô lo lắng nhất. Cô gần như đã quyết định không giữ lời thề long trọng ấy. Nhưng A-léc-xây chờ cô không được, có thể sẽ vào làng tìm con gái bác thợ rèn Va-xi-li, cô A-cu-li-na thật, một cô gái béo, mặt rỗ, và thế là đoán ra trò nghịch dại dột của cô. Ý nghĩ ấy làm Li-da kinh hãi, và cô quyết định sáng hôm sau lại ra rừng trong vai A-cu-li-na.

Về phần mình, A-léc-xây say mê vô cùng. Cả ngày anh nghĩ về cô bạn mới quen. Đêm đến, hình bóng cô gái ngăm ngăm xinh đẹp còn đeo đuổi anh cả trong giấc mơ. Trời vừa hửng sáng, anh đã mặc quần áo xong. Chẳng kịp nạp đạn vào súng, anh đã ra đồng cùng con Xbô-ga trung thành, chạy đến chỗ hẹn.

Gần nửa giờ trôi qua trong chờ đợi khắc khoải không chịu nổi với anh. Cuối cùng anh thấy thấp thoáng giữa bụi cây một chiếc váy xa-ra-phan màu xanh, liền chạy ra đón A-cu-li-na thân yêu. Cô mỉm cười trước niềm vui biết ơn sôi nổi của anh. Nhưng A-léc-xây nhận ra ngay trên mặt cô có vẻ buồn rầu, lo âu. Anh muốn biết vì sao.

Li-da thú nhận rằng cô thấy việc mình làm là dại dột, cô hối hận lắm, lần này cô không muốn sai lời, nhưng đây sẽ là lần gặp cuối cùng, và cô xin anh hãy chấm dứt mối quen biết chẳng thể đưa họ đến điều gì tốt đẹp. Tất nhiên những lời ấy được nói bằng giọng nhà quê. Nhưng những ý nghĩ và tình cảm khác thường ở một cô gái mộc mạc khiến A-léc-xây sửng sốt.

Anh đem hết tài ăn nói ra để khuyên A-cu-li-na bỏ ý định ấy. Anh quả quyết rằng ý muốn của anh hoàn toàn trong sáng, hứa không bao giờ để cô phải hối hận, hứa nghe lời cô trong mọi chuyện. Anh van cô đừng tước đi của anh niềm an ủi duy nhất: được gặp riêng cô, dù cách ngày một lần, dù chỉ hai lần mỗi tuần. Anh nói bằng ngôn ngữ của niềm đam mê thật sự, và lúc ấy anh đang yêu thật.

Li-da im lặng nghe anh. Cuối cùng cô nói:

– Cậu hứa với em là không bao giờ vào làng tìm em hoặc hỏi han về em. Cậu hứa là không đòi gặp em lần nào khác ngoài những lần chính em hẹn.

A-léc-xây toan thề có ngày thứ sáu thánh, nhưng cô mỉm cười ngăn anh lại.

– Em không cần cậu thề, Li-da nói. Chỉ cần cậu hứa là đủ.

Sau đó họ chuyện trò thân mật, cùng nhau đi dạo trong rừng, cho tới khi Li-da bảo anh: đến giờ rồi. Họ chia tay nhau. Còn lại một mình, A-léc-xây không hiểu nổi sao một cô gái quê mộc mạc chỉ qua hai lần gặp đã nắm được quyền lực thật sự đối với anh. Quan hệ với A-cu-li-na có cái quyến rũ của sự mới mẻ đối với anh. Và tuy những điều kiện của cô gái quê kỳ lạ kia anh thấy nặng nề, ý nghĩ không giữ lời thậm chí chẳng hề nảy ra trong đầu anh. Chuyện là A-léc-xây, mặc cho chiếc nhẫn định mệnh, mặc cho những lá thư bí ẩn và vẻ chán đời u sầu, vẫn là một chàng trai tốt bụng, sôi nổi, có một trái tim trong sạch, biết cảm nhận những niềm vui hồn nhiên.

Nếu chỉ chiều theo ý thích của riêng mình, tôi hẳn sẽ tả thật chi tiết những cuộc gặp gỡ của hai người trẻ, cái tình cảm và lòng tin lẫn nhau mỗi ngày một lớn, những việc họ làm, những chuyện họ nói. Nhưng tôi biết phần lớn bạn đọc sẽ không chia sẻ cái thú ấy với tôi. Những chi tiết như thế nói chung hẳn sẽ có vẻ ngọt lợ. Vậy nên tôi xin bỏ qua, chỉ nói vắn tắt rằng chưa đầy hai tháng, chàng A-léc-xây của tôi đã yêu đến mất hồn, còn Li-da cũng chẳng kém say đắm, tuy kín đáo hơn anh.

Cả hai đều hạnh phúc với hiện tại, ít nghĩ đến tương lai. Ý nghĩ về một mối ràng buộc không thể chia lìa khá thường thoáng qua đầu họ, nhưng họ chưa bao giờ nói với nhau về điều đó. Lý do rõ ràng thôi. A-léc-xây dù gắn bó với A-cu-li-na thân yêu đến đâu, vẫn nhớ khoảng cách giữa anh với một cô gái quê nghèo. Còn Li-da biết hai người cha căm ghét nhau đến thế nào, và không dám mong họ làm lành. Thêm vào đó, lòng tự ái của cô ngấm ngầm được kích thích bởi một niềm hy vọng mơ hồ, lãng mạn, là một ngày kia được thấy cậu chủ đất Tu-ghi-lô-vô quỳ dưới chân con gái bác thợ rèn làng Pri-lu-chi-nô.

Bỗng một sự việc quan trọng suýt nữa đã làm thay đổi quan hệ giữa hai người.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cô tiểu thư giả làm thôn nữ

  1. 1Phần một. Cô thôn nữ trong rừng20 phút
  2. 2Phần hai. Tiểu thư đánh phấnĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAleksandr Pushkin (1799 – 1837)
Năm mất1837
Xuất bản lần đầu1831
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Барышня-крестьянка, trong Truyện Bel-kin, 1831
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →