Chương 1: Chương một. Đêm trở về
Coóc-nây Va-xi-li-ép năm mươi tư tuổi khi ông về làng lần cuối cùng. Mái tóc xoăn rậm của ông chưa có lấy một sợi bạc, chỉ ở chòm râu đen bên gò má là đã lốm đốm bạc. Mặt ông nhẵn nhụi, hồng hào, gáy rộng và rắn chắc, cả tấm thân khoẻ mạnh đã phủ một lớp mỡ vì cuộc sống no đủ ở thành phố.
Hai mươi năm trước ông mãn hạn lính, và lúc đi lính về đã có tiền. Lúc đầu ông mở một cửa hàng, rồi bỏ cửa hàng, quay sang buôn gia súc. Ông đi tới tận Tréc-ca-xư mua “hàng”, tức là gia súc, rồi lùa về Mát-xcơ-va.
Ở làng Gai, trong ngôi nhà gạch mái tôn của ông, có bà mẹ già, vợ với hai con, một bé gái và một bé trai, lại còn đứa cháu mồ côi, một cậu câm mười lăm tuổi, và một người làm thuê. Coóc-nây lấy vợ hai lần. Người vợ đầu yếu ớt, bệnh tật, chết không có con, và khi đã là một người goá vợ không còn trẻ, ông lấy vợ lần thứ hai, một cô gái khoẻ mạnh, xinh đẹp, con một bà goá nghèo ở làng bên. Các con là của người vợ thứ hai.
Chuyến “hàng” cuối cùng ở Mát-xcơ-va, Coóc-nây bán được giá tới mức ông gom được gần ba nghìn rúp. Nghe một người đồng hương nói rằng gần làng ông, một ông địa chủ phá sản đang bán rẻ một khu rừng, ông nảy ý làm thêm cả nghề gỗ. Ông biết nghề này, từ trước khi đi lính ông đã làm phụ tá cho người quản lý rừng của một nhà buôn.
Ở ga xe lửa, chỗ rẽ vào làng Gai, Coóc-nây gặp một người đồng hương, lão Cu-dơ-ma chột mắt ở làng Gai. Chuyến tàu nào Cu-dơ-ma cũng đánh đôi ngựa còm lông xù của mình từ làng ra đón khách. Cu-dơ-ma nghèo, nên ghét tất cả những người giàu, nhất là lão nhà giàu Coóc-nây, người mà lão từng biết từ hồi còn là thằng Coóc-niu-sca.
Coóc-nây mặc áo lông ngắn, ngoài khoác áo lông dài, tay xách cái va li nhỏ, bước ra bậc thềm nhà ga, ưỡn bụng, đứng lại, thở phì phò, nhìn quanh. Trời đã sáng. Thời tiết yên ả, u ám, hơi se lạnh.
— Sao, chưa đón được khách à, bác Cu-dơ-ma? Ông nói. Chở tôi đi nhé?
— Thì đưa một rúp. Chở.
— Bảy hào là đủ rồi.
— Ăn cho phệ bụng ra, mà còn muốn bòn của người nghèo ba hào.
— Thôi được, đi thì đi, Coóc-nây nói.
Rồi đặt cái va li với cái bọc vào chiếc xe trượt nhỏ, ông ngồi chễm chệ ở ghế sau.
Cu-dơ-ma ngồi ghế đánh xe.
— Được. Đi.
Ra khỏi những ổ gà quanh nhà ga, xe tới một con đường phẳng.
— Thế nào, ở chỗ các anh, không phải chỗ tôi, mà chỗ các anh trong làng ấy, thế nào? Coóc-nây hỏi.
— Chẳng có gì hay.
— Sao thế? Bà mẹ già nhà tôi còn sống chứ?
— Bà cụ thì còn sống. Hôm nọ còn đi nhà thờ. Bà cụ nhà ông còn sống. Bà chủ trẻ nhà ông cũng sống. Có làm sao đâu. Bà ấy thuê người làm mới rồi.
Rồi Cu-dơ-ma cười một cách lạ lùng, như Coóc-nây cảm thấy.
— Người làm nào? Thế Pi-ốt đâu?
— Pi-ốt ốm. Bà ấy thuê Ép-xti-nhây Tóc Trắng ở Ca-men-ca, Cu-dơ-ma nói, nghĩa là người làng bà ấy.
— Thế à? Coóc-nây nói.
Ngay từ hồi Coóc-nây hỏi cưới Mác-pha, đám đàn bà trong làng đã đồn đại điều gì đó về Ép-xti-nhây.
— Thế đấy, ông Coóc-nây Va-xi-li-ích ạ, Cu-dơ-ma nói. Đàn bà bây giờ chúng nó tự do quá rồi.
— Còn phải nói! Coóc-nây đáp. Con ngựa xám nhà anh già rồi, ông thêm vào, muốn chấm dứt câu chuyện.
— Chính tôi cũng chẳng trẻ. Ngựa giống chủ, Cu-dơ-ma đáp lời Coóc-nây, vừa quất con ngựa thiến lông xù chân vòng kiềng.
Giữa đường có một nhà trọ. Coóc-nây bảo dừng lại rồi vào nhà. Cu-dơ-ma quay đầu ngựa vào cái máng trống, sửa lại dây yên, không nhìn Coóc-nây, chờ ông gọi mình.
— Vào đây đi bác Cu-dơ-ma, Coóc-nây nói, bước ra bậc thềm, uống một cốc.
— Thì được, Cu-dơ-ma đáp, làm ra vẻ chẳng vội vàng gì.
Coóc-nây gọi một chai rượu, rót mời Cu-dơ-ma. Cu-dơ-ma từ sáng chưa ăn gì, lập tức ngà ngà. Và vừa ngà ngà là lão bắt đầu cúi sát vào Coóc-nây mà thì thầm kể những chuyện người ta đồn trong làng. Người ta đồn rằng Mác-pha, vợ ông, đã thuê người tình cũ làm người làm, và đang sống với hắn.
— Tôi thì sao. Tôi thương ông thôi, Cu-dơ-ma say rượu nói. Có điều chẳng hay, thiên hạ người ta cười. Chắc là chẳng sợ tội. Thì đợi đấy, tôi bảo. Đợi rồi ông ấy về. Thế đấy, ông bạn ạ, ông Coóc-nây Va-xi-li-ích.
Coóc-nây im lặng nghe những gì Cu-dơ-ma nói, và hai hàng lông mày rậm cứ hạ xuống mãi, hạ xuống mãi trên đôi mắt đen nhánh như than.
— Sao, anh có định đãi rượu không? Ông chỉ nói thế khi chai rượu đã cạn. Không thì đi.
Ông trả tiền cho chủ quán rồi đi ra.
Ông về tới nhà lúc nhá nhem. Người đầu tiên ông gặp chính là cái anh Ép-xti-nhây Tóc Trắng mà suốt dọc đường ông không thể không nghĩ tới. Coóc-nây chào anh ta. Nhìn khuôn mặt gầy gầy, tóc trắng hoe của Ép-xti-nhây đang cuống quýt, Coóc-nây chỉ ngơ ngác lắc đầu. “Con chó già nó bịa đặt”, ông nghĩ về lời Cu-dơ-ma. “Mà ai biết được. Rồi mình sẽ tìm ra.”
Cu-dơ-ma đứng cạnh ngựa, nháy con mắt độc nhất của mình về phía Ép-xti-nhây.
— Thế là cậu ở nhà chúng tôi à? Coóc-nây hỏi.
— Thì phải làm việc ở đâu đó chứ, Ép-xti-nhây đáp.
— Gian trên đã sưởi chưa?
— Sao lại chưa? Bà Mát-vê-ép-na ở trong ấy, Ép-xti-nhây đáp.
Coóc-nây bước lên bậc thềm. Mác-pha nghe tiếng người nói, ra gian ngoài, thấy chồng, mặt đỏ bừng lên, vội vàng, đặc biệt dịu dàng chào ông.
— Thế mà con với mẹ đã thôi không chờ nữa rồi, cô nói, rồi đi theo Coóc-nây vào gian trên.
— Thế nào, không có tôi các người sống ra sao?
— Vẫn như cũ thôi, cô nói, rồi bế lên tay đứa con gái hai tuổi đang níu váy đòi sữa, sải những bước dài cương quyết ra gian ngoài.
Mẹ Coóc-nây, cũng đôi mắt đen như của Coóc-nây, khó nhọc lê đôi chân đi ủng dạ, bước vào gian trên.
— Cảm ơn con đã về thăm, bà nói, cái đầu run run lắc lắc.
Coóc-nây kể với mẹ rằng mình về vì việc gì, rồi nhớ tới Cu-dơ-ma, ông đi ra đưa tiền cho lão. Vừa mở cửa ra gian ngoài, ông thấy ngay trước mặt mình, ở cửa ra sân, là Mác-pha với Ép-xti-nhây. Họ đứng sát nhau, và cô đang nói gì đó. Thấy Coóc-nây, Ép-xti-nhây lủi ra sân, còn Mác-pha thì tới bên cái ấm xa-mô-va, sửa lại cái ống khói đang ù ù trên đó.
Coóc-nây lặng lẽ đi qua cái lưng còng của cô, cầm lấy cái bọc, gọi Cu-dơ-ma vào gian nhà lớn uống trà. Trước khi uống trà, Coóc-nây chia quà Mát-xcơ-va cho người nhà: cho mẹ chiếc khăn len, cho thằng Phết-ca cuốn sách có tranh, cho đứa cháu câm chiếc áo gi-lê, và cho vợ tấm vải hoa may váy.
Uống trà, Coóc-nây ngồi cau có, im lặng. Chỉ thỉnh thoảng miễn cưỡng mỉm cười khi nhìn thằng câm, nó làm cả nhà vui vì niềm vui của nó. Nó mừng mãi không thôi vì chiếc áo gi-lê. Nó gấp lại rồi mở ra, mặc vào rồi hôn tay mình, nhìn Coóc-nây mà cười.
Sau bữa trà và bữa tối, Coóc-nây lập tức về gian trên, nơi ông ngủ cùng Mác-pha và đứa con gái nhỏ. Mác-pha còn ở gian nhà lớn dọn bát đĩa. Coóc-nây ngồi một mình bên bàn, tì khuỷu tay chống cằm, mà chờ. Cơn giận vợ cứ cựa quậy mãi, mạnh dần trong ông. Ông lấy cái bàn tính trên tường xuống, lấy cuốn sổ tay trong túi ra, và để khuây khoả, ông bắt đầu tính toán. Ông tính, liếc nhìn ra cửa, lắng nghe tiếng người nói ở gian nhà lớn.
Mấy lần ông nghe cửa gian nhà lớn mở, có ai đó ra gian ngoài, nhưng đều không phải cô. Cuối cùng nghe tiếng bước chân cô, cửa giật một cái, bật ra, và cô bước vào, má đỏ hây, xinh đẹp, quàng khăn đỏ, bế đứa con gái trên tay.
— Đi đường chắc mệt lắm, cô nói, mỉm cười, như không để ý cái vẻ cau có của ông.
Coóc-nây liếc nhìn cô, rồi lại tính, dù chẳng còn gì để tính nữa.
— Muộn rồi đấy, cô nói, đặt đứa con xuống, rồi đi vào sau tấm vách ngăn.
Ông nghe cô dọn giường, đặt đứa con gái đi ngủ.
“Người ta cười”, ông nhớ lời Cu-dơ-ma. “Đợi đấy…” ông nghĩ, thở khó nhọc, rồi chầm chậm đứng dậy, cất mẩu bút chì bị gặm vào túi áo gi-lê, treo cái bàn tính lên đinh, cởi áo vét, rồi tới bên cửa tấm vách ngăn. Cô đứng quay mặt về phía các bức ảnh thánh, đang cầu nguyện. Ông dừng lại, chờ. Cô làm dấu thánh lâu lắm, cúi lạy, thì thầm đọc kinh. Ông có cảm giác cô đã đọc hết mọi bài kinh từ lâu, và cố tình nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nhưng rồi cô phủ phục sát đất, đứng thẳng lên, thì thầm mấy lời kinh trong miệng, rồi quay mặt về phía ông.
— Con A-gát-ca ngủ rồi đấy, cô nói, chỉ đứa con gái, rồi mỉm cười, ngồi xuống chiếc giường kêu cọt kẹt.
— Ép-xti-nhây ở đây lâu chưa? Coóc-nây nói, bước vào cửa.
Cô bình thản vắt một bím tóc dày qua vai ra trước ngực, rồi bắt đầu dùng những ngón tay nhanh nhẹn tháo bím. Cô nhìn thẳng vào ông, và đôi mắt cô đang cười.
— Ép-xti-nhây à? Ai mà biết, chừng hai hay ba tuần gì đó.
— Mày sống với nó à? Coóc-nây nói.
Cô buông bím tóc khỏi tay, nhưng lập tức lại nắm lấy mái tóc cứng dày của mình, lại bắt đầu tết.
— Người ta nghĩ ra lắm chuyện. Sống với Ép-xti-nhây? Cô nói, đặc biệt nhấn vang cái tên Ép-xti-nhây. Nghĩ ra chuyện gì không biết! Ai nói với ông?
— Nói đi: thật hay không? Coóc-nây nói, nắm chặt thành nắm đấm đôi bàn tay vạm vỡ đang đút trong túi.
— Thôi đừng nói chuyện vớ vẩn nữa. Có cởi ủng cho ông không?
— Tao hỏi mày, ông nhắc lại.
— Của quý gì cho cam. Mê cái anh Ép-xti-nhây, cô nói. Mà ai nói dối ông thế?
— Mày nói gì với nó ở gian ngoài?
— Nói gì à. Nói phải đóng đai cho cái thùng. Mà ông bám lấy tôi làm gì?
— Tao bảo mày: nói thật đi. Tao giết mày, đồ khốn kiếp.
Ông túm lấy bím tóc cô.
Cô giật bím tóc khỏi tay ông. Mặt cô méo đi vì đau.
— Chỉ được mỗi cái đánh người… Tôi đã được gì tốt đẹp ở ông? Sống thế này, chẳng biết người ta sẽ làm gì nữa.
— Làm gì? Ông nói, xông tới cô.
— Sao lại giật đứt nửa bím tóc? Kìa, rụng từng nắm đây này. Bám lấy làm gì. Mà đúng là…
Cô không nói hết câu. Ông túm lấy tay cô, lôi cô khỏi giường, rồi bắt đầu đánh vào đầu, vào sườn, vào ngực. Càng đánh, cơn giận trong ông càng bùng lên. Cô la hét, chống đỡ, muốn chạy, nhưng ông không cho. Đứa con gái thức dậy, lao tới mẹ.
— Mẹ ơi, nó gào khóc.
Coóc-nây túm lấy tay đứa bé, giật nó khỏi mẹ, rồi như ném con mèo con, ném nó vào góc. Đứa bé rít lên một tiếng, rồi mấy giây liền không nghe tiếng nó nữa.
— Đồ cướp! Mày giết con rồi, Mác-pha hét lên, định nhổm dậy tới bên con.
Nhưng ông lại túm lấy cô, đánh vào ngực mạnh tới mức cô ngã ngửa ra, và cũng thôi không la nữa. Chỉ còn đứa bé gào khóc tuyệt vọng, không ngừng hơi.
Bà mẹ già, đầu không khăn, mái tóc bạc rối bù, cái đầu run run, lảo đảo bước vào buồng, không nhìn Coóc-nây, cũng không nhìn Mác-pha, tới bên đứa cháu đang khóc ngằn ngặt, bế nó lên.
Coóc-nây đứng thở nặng nhọc, nhìn quanh, như vừa ngủ dậy, không hiểu mình đang ở đâu, ai đang ở đây với mình.
Mác-pha ngẩng đầu lên, vừa rên vừa lấy áo lau khuôn mặt máu me.
— Đồ ác độc đáng ghét! Cô nói. Tao có sống với Ép-xti-nhây, và đã sống với anh ấy đấy. Mày cứ đánh chết tao đi. Mà con A-gát-ca cũng chẳng phải con mày, tao có nó với anh ấy, cô nói nhanh một mạch, rồi lấy khuỷu tay che mặt, chờ cú đánh.
Nhưng Coóc-nây như chẳng hiểu gì, chỉ thở phì phò, nhìn quanh.
— Mày xem mày làm gì con bé đây: trật cả tay ra rồi, bà mẹ già nói, chỉ cho ông xem cánh tay nhỏ bị vẹo, lủng lẳng của đứa bé vẫn đang gào khóc không ngớt.
Coóc-nây quay người, lặng lẽ đi ra gian ngoài, ra bậc thềm.
Ngoài trời vẫn lạnh và u ám như trước. Những bông sương giá rơi lên đôi má, cái trán đang nóng bừng của ông. Ông ngồi xuống bậc thềm, vốc từng nắm tuyết trên lan can mà ăn. Sau cánh cửa nghe tiếng Mác-pha rên, tiếng đứa bé khóc thảm thiết. Rồi cửa gian ngoài mở, ông nghe mẹ ông bế đứa bé ra khỏi gian trên, qua gian ngoài sang gian nhà lớn. Ông đứng dậy, vào gian trên. Ngọn đèn vặn nhỏ đang cháy le lói trên bàn. Sau vách ngăn, tiếng rên của Mác-pha to hơn ngay khi ông bước vào. Ông lặng lẽ mặc quần áo, lấy cái va li dưới ghế ra, xếp đồ đạc của mình vào, lấy dây buộc lại.
— Sao mày giết tao? Sao thế? Tao làm gì mày? Mác-pha nói bằng một giọng thảm thiết.
Coóc-nây không đáp, nhấc va li lên mang ra cửa.
— Đồ tù khổ sai. Đồ cướp! Đợi đấy. Hay là không có toà án nào xử mày? Cô nói bằng một giọng hoàn toàn khác, giận dữ.
Coóc-nây không đáp, lấy chân đẩy cửa, rồi đóng sầm mạnh tới mức tường rung lên.
Vào gian nhà lớn, Coóc-nây đánh thức thằng câm, bảo nó thắng ngựa. Thằng câm chưa tỉnh hẳn, ngạc nhiên, dò hỏi nhìn ông chú, hai tay gãi đầu. Cuối cùng hiểu ra người ta bảo mình làm gì, nó bật dậy, đi ủng dạ, mặc chiếc áo lông ngắn rách, cầm đèn lồng đi ra sân.
Trời đã sáng hẳn khi Coóc-nây cùng thằng câm ngồi trên chiếc xe trượt nhỏ ra khỏi cổng, đi ngược lại con đường mà tối qua ông đã cùng Cu-dơ-ma đi tới.
Ông tới ga năm phút trước khi tàu chạy. Thằng câm thấy ông mua vé, cầm va li, ngồi vào toa, gật đầu chào nó, rồi toa tàu lăn đi khuất mắt.
Mác-pha, ngoài những vết đánh trên mặt, còn bị gãy hai xương sườn và vỡ đầu. Nhưng người đàn bà trẻ khoẻ mạnh, cường tráng ấy nửa năm sau đã bình phục, chẳng còn dấu vết gì của trận đòn. Còn đứa bé gái thì tàn tật nửa người suốt đời. Hai xương tay của nó bị gãy, và cánh tay mãi mãi cong vẹo.
Còn về Coóc-nây thì từ lúc ông đi, chẳng ai biết gì nữa. Chẳng biết ông còn sống hay đã chết.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn