Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Con chim văn điểu

của Natsume Sōseki

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 24.312 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Tháng mười, tôi dọn về Oa-xê-đa. Một mình trong…
  2. 2:58Đúng lúc ấy Mi-ê-ki-chi hăm hở bước vào từ…
  3. 6:08Mắt chim văn điểu đen láy. Quanh mí mắt…
  4. 9:44Chim văn điểu bỗng cắm mỏ vào giữa hũ…
  5. 13:15Theo lời Mi-ê-ki-chi, càng quen thì chim văn điểu…
  6. 16:28Chuyện ăn từ đầu ngón tay tôi dĩ nhiên…
  7. 19:50Hôm sau chim văn điểu lại không hót nữa.…
  8. 22:19Tôi bảo cô hầu: mang cái này đi bỏ…

Tháng mười, tôi dọn về Oa-xê-đa. Một mình trong căn phòng sách rộng như ngôi chùa, tôi đang chống cằm đỡ lấy gương mặt đã thu xếp cho nghiêm chỉnh, thì Mi-ê-ki-chi tới, bảo: thầy nuôi chim đi. Nuôi cũng được, tôi đáp. Nhưng để cho chắc, tôi hỏi nuôi con gì, thì cậu ta đáp: chim văn điểu.

Văn điểu thì có xuất hiện trong truyện của Mi-ê-ki-chi, hẳn phải là loài chim đẹp, tôi nghĩ vậy, bèn nhờ: thế thì cậu mua giùm. Nhưng Mi-ê-ki-chi cứ lặp đi lặp lại một câu: thầy nhất định phải nuôi đi. Ừ, mua, mua, tôi vẫn chống cằm, ậm ừ, thì Mi-ê-ki-chi im bặt. Có lẽ cậu ta đã chán cái chống cằm của tôi, lúc ấy tôi mới nhận ra.

Chừng ba phút sau, lần này cậu ta bảo thầy mua cái lồng đi. Cái này cũng được, tôi đáp. Thay vì dặn đi dặn lại "thầy nhất định phải mua", cậu ta bắt đầu giảng giải về lồng chim. Bài giảng ấy khá rắc rối, nhưng đáng tiếc là tôi quên sạch. Chỉ tới đoạn cậu ta bảo lồng tốt phải tới hai chục đồng, tôi mới vội bảo chẳng cần thứ đắt thế đâu. Mi-ê-ki-chi cười tủm tỉm.

Rồi tôi hỏi rốt cuộc mua ở đâu, cậu ta đáp một câu thật tầm thường: có gì đâu, hiệu chim nào cũng có. Còn lồng thì sao, tôi hỏi lại. Lồng ấy à, lồng thì cái ấy mà, có gì đâu, thế nào chẳng có ở đâu đó, cậu ta nói một câu rộng lượng như bắt mây. Nhưng cậu mà không biết chỗ nào thì không được đâu, tôi làm ra mặt như thể thế thật là không được. Mi-ê-ki-chi đưa tay áp lên má: nghe nói ở Cô-ma-gô-mê có một ông thợ làm lồng bậc thầy, nhưng ông ấy già rồi, có khi đã chết mất rồi cũng nên. Nói xong cậu ta có vẻ chơi vơi vô cùng.

Dẫu sao người khởi xướng thì phải chịu trách nhiệm là lẽ đương nhiên, nên tôi giao ngay mọi việc cho Mi-ê-ki-chi. Thế là cậu ta đòi đưa tiền ngay. Tiền thì tôi đưa thật. Mi-ê-ki-chi chẳng biết mua ở đâu một chiếc ví gấp ba bằng vải dệt hạt kê, giắt trong ngực áo, có thói quen bỏ hết tiền, của mình cũng như của người, vào trong chiếc ví ấy. Chính mắt tôi trông thấy Mi-ê-ki-chi nhét tờ năm đồng xuống tận đáy chiếc ví.

Như vậy, tiền đã chắc chắn rơi vào tay Mi-ê-ki-chi. Nhưng chim và lồng thì mãi chẳng thấy tới.

Rồi mùa thu chuyển sang những ngày hanh ấm cuối thu. Mi-ê-ki-chi tới luôn. Thường kể chuyện đàn bà con gái gì đó rồi về. Chuyện chim văn điểu với lồng chẳng thấy nhắc tới nữa. Nắng chiếu tốt qua cửa kính lên dải hiên rộng năm thước. Tôi còn nghĩ, nếu đằng nào cũng nuôi văn điểu, thì đặt lồng lên dải hiên này trong tiết trời ấm áp thế này, hẳn nó sẽ hót hay lắm.

Theo truyện của Mi-ê-ki-chi, chim văn điểu hót "chi-yô, chi-yô". Hình như cậu ta thích tiếng hót ấy lắm, nên dùng chữ "chi-yô, chi-yô" không biết bao nhiêu lần. Có khi cậu ta từng mê một cô gái tên là Chi-yô cũng nên. Nhưng chính cậu ta chẳng hề nói gì. Tôi cũng chẳng hỏi. Chỉ biết nắng chiếu tốt lên dải hiên. Và chim văn điểu chẳng hót.

Rồi sương giá bắt đầu xuống. Ngày ngày tôi sống trong căn phòng sách rộng như ngôi chùa, khi thu xếp gương mặt lạnh lẽo cho nghiêm chỉnh, khi để nó lôi thôi, khi chống cằm, khi thôi. Cửa đóng kín hai lớp. Chỉ có việc thêm than vào lò sưởi. Chim văn điểu thì rốt cuộc tôi quên mất.

Đúng lúc ấy Mi-ê-ki-chi hăm hở bước vào từ cổng. Trời vừa chập tối. Tôi đang rét, chồm cả nửa người trên lò than, cố ý hơ cho đỏ bộ mặt ủ ê, thì bỗng vui hẳn lên. Mi-ê-ki-chi dẫn theo Hô-ri-u. Hô-ri-u thật là bị vạ lây. Mỗi người xách một cái lồng. Mi-ê-ki-chi còn ôm thêm một cái hộp to, ra dáng đàn anh. Tờ năm đồng hoá thành chim văn điểu, lồng và hộp, ấy là vào buổi tối đầu đông này.

Mi-ê-ki-chi đắc ý lắm. Thầy xem này, cậu ta bảo. Hô-ri-u, đưa cái đèn dầu lại gần đây nữa, cậu ta bảo. Ấy thế mà vì rét, chóp mũi cậu ta đã hơi tím lại.

Quả là một cái lồng đẹp. Đế sơn mài. Nan tre vót mảnh, lại còn nhuộm màu. Vậy mà chỉ ba đồng, cậu ta nói. Rẻ nhỉ, Hô-ri-u, cậu ta nói. Ừ, rẻ, Hô-ri-u nói. Tôi chẳng biết rõ rẻ hay đắt, nhưng cũng nói: ừ, rẻ nhỉ. Loại tốt phải tới hai chục đồng đấy ạ, cậu ta nói. Hai chục đồng, đây là lần thứ hai. So với hai chục đồng thì rẻ là cái chắc.

Thưa thầy, lớp sơn này ấy mà, đem ra phơi nắng một thời gian thì màu đen sẽ phai đi, dần dần ánh son sẽ hiện ra. Còn nan tre này đã đem luộc kỹ một lần rồi, nên không sao đâu ạ, cậu ta cứ giảng giải mãi. Không sao cái gì cơ, tôi hỏi lại, thì cậu ta bảo: thôi, thầy xem chim đi, đẹp chưa này.

Quả là đẹp. Đặt lồng ở gian bên, đứng cách chừng bốn thước nhìn sang, nó chẳng động đậy chút nào. Trong bóng tối mờ, nó trắng toát. Trắng đến mức nếu không thu mình trong lồng thì chẳng ai nghĩ đó là chim. Trông có vẻ rét.

Chắc nó rét lắm nhỉ, tôi hỏi, thì cậu ta bảo chính vì thế mới làm cái hộp. Tối đến thì cho nó vào hộp này, cậu ta nói. Sao lại có hai cái lồng, tôi hỏi, thì cậu ta bảo thỉnh thoảng cho nó vào cái lồng xoàng này để tắm. Thế thì hơi phiền đấy, tôi đang nghĩ, thì cậu ta nói thêm: rồi nó ỉa làm bẩn lồng, nên thỉnh thoảng thầy dọn giùm nó nhé. Vì con chim văn điểu, Mi-ê-ki-chi cứng rắn lắm.

Tôi vâng vâng nhận lời cả, thì lần này Mi-ê-ki-chi rút trong tay áo ra một túi kê. Sáng nào cũng phải cho nó ăn cái này. Nếu không thay thức ăn, thì thầy lấy cái hũ thức ăn ra, chỉ thổi bay vỏ đi thôi. Không thế thì con chim phải nhặt từng hạt kê còn ruột. Nước cũng sáng nào cũng thay. Thầy hay ngủ dậy muộn, thế lại hay, cậu ta chăm chút cho con chim tận tình hết mức. Thế là tôi cũng nhận lời hết mọi sự. Đúng lúc ấy Hô-ri-u rút trong tay áo ra hũ đựng thức ăn và hũ đựng nước, ngay ngắn bày trước mặt tôi. Mọi thứ đã sửa soạn đâu vào đấy như thế, rồi bị giục làm, thì vì nể cũng phải chăm con chim. Trong bụng tôi chẳng chắc chắn gì lắm, nhưng cũng quyết định trước hết cứ làm thử xem. Nếu tôi không làm nổi, thì người nhà thế nào cũng lo được, tôi nghĩ.

Rồi Mi-ê-ki-chi cẩn thận đặt chiếc lồng vào trong hộp, mang ra dải hiên, bảo: em để nó ở đây nhé, rồi về. Tôi trải chăn đệm ngay giữa căn phòng sách rộng như ngôi chùa, lạnh lẽo nằm ngủ. Cảm giác như trong mơ phải gánh thêm một con chim văn điểu, hơi lạnh lẽo, nhưng ngủ đi rồi thì cũng yên ổn như mọi đêm.

Sáng hôm sau mở mắt, nắng đã chiếu lên cửa kính. Tôi nghĩ ngay phải cho chim ăn. Nhưng dậy thì uể oải quá. Lát nữa cho ăn, lát nữa cho ăn, cứ nghĩ thế mãi, rốt cuộc đã quá tám giờ. Chẳng biết làm sao, tôi nhân tiện đi rửa mặt, chân trần giẫm lên mặt hiên lạnh buốt, mở nắp hộp, mang lồng chim ra chỗ sáng. Chim văn điểu đang chớp chớp mắt. Nghĩ chắc nó muốn dậy sớm hơn, tôi thấy tội nghiệp.

Mắt chim văn điểu đen láy. Quanh mí mắt có một đường viền như ai khâu sợi tơ mảnh màu hồng nhạt. Mỗi lần chớp mắt, sợi tơ bỗng khép lại thành một sợi. Rồi lại tròn ra. Vừa lấy lồng ra khỏi hộp, chim văn điểu đã khẽ nghiêng chiếc cổ trắng, đưa đôi mắt đen ấy lần đầu tiên nhìn mặt tôi. Rồi nó kêu "chích chích".

Tôi khẽ đặt lồng chim lên nắp hộp. Chim văn điểu vụt rời cành đậu. Rồi lại đậu lên cành. Cành đậu có hai cây. Hai que gỗ xanh ngả đen, bắc ngang như cây cầu, cách nhau vừa phải. Nhìn bàn chân nó nhẹ nhàng đặt trên một que, thấy thật mảnh mai. Ở đầu những ngón chân dài màu hồng nhạt có những chiếc móng như ngọc trai gọt, khéo léo quặp lấy que đậu vừa tay. Bỗng có gì loé lên trước mắt. Chim văn điểu đã quay đầu trên cành đậu. Nó cứ nghiêng đầu sang trái sang phải. Chiếc đầu đang nghiêng chợt ngẩng thẳng lại, hơi vươn ra phía trước, thì bộ lông trắng lại loáng lên. Chân nó đã đáp gọn vào khoảng giữa cành đậu bên kia. "Chích chích", nó kêu. Rồi từ xa nhìn vào mặt tôi.

Tôi vào buồng tắm rửa mặt. Lúc trở ra, tôi vòng qua bếp, mở tủ, lấy túi kê Mi-ê-ki-chi mua tối qua, đổ thức ăn vào hũ, hũ kia đổ đầy nước, rồi lại ra dải hiên phòng sách.

Mi-ê-ki-chi là người chu đáo, tối qua đã cẩn thận giảng giải những điều cần biết khi cho chim ăn. Theo lời cậu ta, mở cửa lồng tuỳ tiện thì chim sẽ bay mất. Cho nên phải lấy tay phải mở cửa lồng, tay trái đỡ ở dưới, chặn lối ra từ phía ngoài, không thì nguy. Lúc lấy hũ thức ăn ra cũng phải làm như thế. Cậu ta còn làm cả điệu bộ cho tôi xem, nhưng hai tay dùng cả như thế thì làm sao đưa hũ thức ăn vào lồng được, tôi lại quên không hỏi.

Chẳng biết làm sao, tôi cầm nguyên hũ thức ăn, lấy mu bàn tay khẽ đẩy cửa lồng lên. Đồng thời lấy tay trái chặn ngay chỗ hở. Con chim khẽ ngoảnh lại. Rồi kêu "chích chích". Tôi lúng túng không biết làm gì với bàn tay trái đang chặn lối ra. Trông nó chẳng giống loài chim rình lúc người ta sơ hở mà trốn, nên tôi thấy thế nào ấy, áy náy. Mi-ê-ki-chi dạy điều không hay.

Tôi từ từ thò bàn tay to vào lồng. Chim văn điểu bỗng đập cánh. Nó vỗ cánh mạnh đến nỗi những sợi lông tơ ấm bay trắng qua kẽ nan tre vót mảnh. Tôi bỗng thấy ghét bàn tay to của mình. Vừa đặt được hũ kê và hũ nước vào giữa hai cành đậu, tôi rụt tay ra ngay. Cửa lồng tự rơi xuống "cạch". Chim văn điểu trở về cành đậu. Nó ngoẹo chiếc cổ trắng sang một bên, ngước nhìn tôi ở bên ngoài lồng. Rồi nó duỗi thẳng chiếc cổ đang ngoẹo, nhìn kê và nước dưới chân. Tôi vào phòng ăn dùng bữa.

Hồi ấy là lúc tôi đang viết tiểu thuyết đều đặn mỗi ngày. Giữa bữa này với bữa khác, phần lớn tôi ngồi bàn cầm bút. Những lúc yên tĩnh, tôi nghe được tiếng ngòi bút chạy trên giấy. Theo lệ trong nhà, chẳng ai bước vào căn phòng sách rộng như ngôi chùa. Có những buổi sáng, buổi trưa, buổi tối tôi cảm thấy trong tiếng bút có ý nghĩa của nỗi cô đơn. Nhưng cũng khá nhiều lúc tiếng bút ấy bỗng ngưng bặt, hoặc phải ngưng. Những lúc ấy, tôi có thói quen kẹp cây bút giữa kẽ ngón tay, đặt cằm lên lòng bàn tay, nhìn qua cửa kính ra khu vườn gió quật tơi bời. Xong rồi thì véo thử cái cằm vừa đặt lên tay. Thế mà bút với giấy vẫn chưa chịu đi với nhau, thì lấy hai ngón tay kéo dài cái cằm vừa véo. Thì ngoài hiên, chim văn điểu bỗng kêu hai tiếng: "chi-yô, chi-yô".

Gác bút, khẽ ra xem, thì chim văn điểu vẫn quay về phía tôi, trên cành đậu ưỡn bộ ngực trắng như sắp chúi xuống, kêu cao một tiếng "chi-yô". Một tiếng "chi-yô" hay đến nỗi tôi nghĩ giá Mi-ê-ki-chi nghe được hẳn sẽ mừng lắm. Mi-ê-ki-chi từng quả quyết rồi mới về: rồi nó quen thì sẽ kêu "chi-yô" đấy, nhất định kêu đấy.

Tôi lại ngồi xổm bên lồng. Chim văn điểu xoay chiếc đầu tròn phồng hai ba lần, dọc rồi ngang. Rồi một khối trắng nhỏ vụt rời cành đậu. Thoắt cái, nửa móng chân xinh xắn của nó đã thò ra sau vành hũ thức ăn. Chiếc hũ mà móc ngón út vào cũng lật ngay ấy, lại im lìm như quả chuông. Chim văn điểu nhẹ thật. Tôi thấy như nó là hồn của một làn tuyết mỏng.

Chim văn điểu bỗng cắm mỏ vào giữa hũ thức ăn. Rồi lắc qua lắc lại hai ba lần. Những hạt kê đã san phẳng đẹp đẽ rơi lả tả xuống đáy lồng. Chim văn điểu ngẩng mỏ lên. Nơi cổ họng có tiếng động khẽ. Nó lại cắm mỏ vào giữa đám kê. Lại có tiếng động khẽ. Tiếng ấy thật hay. Lặng lẽ lắng nghe, thấy nó tròn trịa, nhỏ nhẻ, mà lại nhanh vô cùng. Như có một người tí hon nhỏ bằng bông hoa tím, cầm chiếc búa vàng gõ liên hồi vào những quân cờ bằng mã não.

Nhìn màu mỏ nó, thấy như màu hồng pha chút tím nhạt. Màu hồng ấy loang dần, tới chỗ đầu mỏ mổ kê thì thành trắng. Cái trắng của ngà voi hơi trong. Lúc chiếc mỏ ấy cắm vào đám kê thì nhanh lắm. Những hạt kê tung ra hai bên cũng có vẻ nhẹ bẫng. Chim văn điểu gần như chúc ngược cả người, cắm chiếc mỏ nhọn vào giữa những hạt vàng, rồi chẳng tiếc gì mà lắc chiếc đầu tròn phồng sang phải sang trái. Hạt kê bay tung xuống đáy lồng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy mà riêng chiếc hũ thức ăn vẫn lặng im phăng phắc. Nặng thật. Đường kính chiếc hũ tôi đoán chừng một tấc rưỡi.

Tôi khẽ trở vào phòng sách, buồn bã cho ngòi bút chạy trên giấy. Ngoài hiên chim văn điểu kêu "chích chích". Thỉnh thoảng cũng kêu "chi-yô, chi-yô". Bên ngoài gió bấc đang thổi.

Buổi chiều, tôi xem chim văn điểu uống nước. Nó đặt đôi chân mảnh lên vành hũ, ngửa đầu, nâng niu nuốt từng giọt nước đón trong chiếc mỏ nhỏ. Cứ đà này thì một hũ nước chắc dùng được chừng mười ngày, tôi nghĩ rồi lại vào phòng sách. Tối, tôi cất nó vào hộp. Lúc đi ngủ, nhìn qua cửa kính ra ngoài, thấy trăng đã lên, sương giá đang xuống. Chim văn điểu trong hộp chẳng động đậy chút nào.

Hôm sau, lại tội nghiệp nó, tôi dậy muộn, lấy lồng ra khỏi hộp cũng quá tám giờ. Hẳn nó đã thức trong hộp từ lâu. Vậy mà chim văn điểu chẳng có vẻ gì là phật ý. Lồng vừa ra chỗ sáng, nó liền chớp chớp mắt, hơi rụt cổ lại, nhìn mặt tôi.

Ngày xưa tôi từng quen một người con gái đẹp. Có lần nàng tựa bàn nghĩ ngợi điều gì, tôi khẽ đi tới từ phía sau, cầm đầu chiếc dải thắt áo màu tím có tua, buông dài xuống, vuốt qua vuốt lại chỗ gáy thon của nàng từ phía trên, thì nàng uể oải ngoảnh lại. Lúc ấy đôi lông mày nàng hơi chau lại thành hình chữ bát. Vậy mà nơi đuôi mắt và khoé miệng đã chớm nụ cười. Đồng thời nàng rụt chiếc cổ xinh xắn xuống tận vai. Khi chim văn điểu nhìn tôi, tôi chợt nhớ tới người con gái ấy. Giờ nàng đã đi lấy chồng. Tôi trêu nàng bằng chiếc dải thắt áo tím ấy, ấy là hai ba ngày sau khi chuyện cưới xin của nàng đã định.

Trong hũ thức ăn vẫn còn tám phần kê. Nhưng lẫn khá nhiều vỏ. Hũ nước thì vỏ kê nổi kín mặt, đục ngầu. Phải thay thôi. Tôi lại thò bàn tay to vào lồng. Dù đã hết sức cẩn thận, chim văn điểu vẫn xoã đôi cánh trắng mà nhảy loạn. Một sợi lông nhỏ có rụng thôi, tôi cũng thấy có lỗi với nó. Vỏ kê tôi thổi sạch. Vỏ bị thổi đi, gió bấc mang đi đâu mất. Nước cũng thay. Nước máy nên lạnh lắm.

Hôm ấy tôi sống cả ngày với tiếng bút buồn bã. Xen giữa, thỉnh thoảng lại nghe tiếng "chi-yô, chi-yô". Hay chim văn điểu cũng buồn nên mới kêu, tôi nghĩ. Nhưng ra hiên xem, thì thấy nó cứ bay qua bay lại giữa hai cành đậu, bên này bên kia, không ngớt. Chẳng có vẻ gì là bất mãn.

Tối, cất vào hộp. Sáng hôm sau thức dậy, bên ngoài sương trắng xoá. Chim văn điểu chắc cũng đã thức, nhưng tôi mãi chẳng muốn dậy. Đến cầm tờ báo bên gối cũng thấy ngại. Vậy mà vẫn hút một điếu thuốc. Hút xong điếu này sẽ dậy lấy nó ra khỏi lồng, tôi vừa nghĩ vừa nhìn theo làn khói từ miệng bay ra. Thì trong làn khói ấy, thoáng hiện lên gương mặt người con gái ngày xưa, rụt cổ, nheo mắt, lại hơi chau mày. Tôi ngồi bật dậy trên đệm. Khoác vội áo ngoài lên áo ngủ, ra ngay dải hiên. Rồi mở nắp hộp, lấy chim văn điểu ra. Vừa ra khỏi hộp, nó kêu hai tiếng: "chi-yô, chi-yô".

Theo lời Mi-ê-ki-chi, càng quen thì chim văn điểu càng nhìn mặt người mà hót. Quả thật con chim Mi-ê-ki-chi từng nuôi, hễ có cậu ta bên cạnh là cứ hót "chi-yô, chi-yô" mãi. Không những thế, nghe nói nó còn ăn thức ăn từ đầu ngón tay Mi-ê-ki-chi. Tôi cũng ước một ngày nào đó được cho nó ăn từ đầu ngón tay mình.

Sáng hôm sau tôi lại lười. Cũng chẳng nhớ tới gương mặt người con gái ngày xưa. Rửa mặt, ăn sáng xong, như sực nhớ ra, tôi mới ra hiên xem, thì chẳng biết từ lúc nào chiếc lồng đã đặt trên hộp. Chim văn điểu đã vui vẻ nhảy qua nhảy lại trên cành đậu. Rồi thỉnh thoảng nó vươn cổ, từ phía dưới ngó ra ngoài lồng. Dáng điệu ấy hồn nhiên lắm. Người con gái tôi trêu bằng chiếc dải thắt áo tím ngày xưa có chiếc cổ áo dài, dáng người thon thả, có thói quen hơi nghiêng đầu mà nhìn người.

Kê vẫn còn. Nước cũng còn. Chim văn điểu mãn nguyện. Tôi chẳng thay kê cũng chẳng thay nước, rút vào phòng sách.

Quá trưa, tôi lại ra hiên. Định nhân tiện vận động sau bữa ăn, vừa đi quanh dải hiên dài năm sáu gian vừa đọc sách. Nhưng ra tới nơi thì kê đã hết bảy phần. Nước cũng đục ngầu cả. Tôi vứt cuốn sách ra hiên, vội vã thay thức ăn và nước cho nó.

Hôm sau tôi lại dậy muộn. Mà lại rửa mặt ăn cơm xong mới ngó ra hiên. Về tới phòng sách, nghĩ biết đâu người nhà đã mang lồng ra như hôm qua, tôi chỉ thò mỗi cái đầu ra hiên xem, thì quả nhiên đã mang ra. Hơn nữa thức ăn và nước cũng đã thay mới. Mãi tôi mới yên tâm rụt đầu vào phòng. Đúng lúc ấy chim văn điểu kêu "chi-yô, chi-yô". Thế là tôi lại thò cái đầu vừa rụt vào ra xem. Nhưng chim văn điểu không kêu lần nữa. Nó ngơ ngác nhìn qua cửa kính ra khu vườn phủ sương. Rốt cuộc tôi trở về bàn.

Trong phòng sách, tiếng bút vẫn sột soạt như mọi khi. Cuốn tiểu thuyết đang viết dở đã tiến được khá xa. Đầu ngón tay lạnh buốt. Than Sa-cư-ra vùi sáng nay đã trắng tro, chiếc ấm sắt đặt trên kiềng gần như nguội hẳn. Giỏ than trống không. Tôi vỗ tay gọi, nhưng tiếng không vọng tới bếp. Đứng dậy mở cửa, thì thấy chim văn điểu khác hẳn mọi khi, đậu yên lặng trên cành. Nhìn kỹ thì chỉ có một chân. Tôi đặt giỏ than xuống hiên, cúi xuống nhìn vào lồng. Nhìn mãi cũng chỉ thấy một chân. Chim văn điểu dồn cả thân mình lên một chiếc chân mảnh mai, lặng lẽ yên vị trong lồng.

Tôi thấy lạ. Mi-ê-ki-chi giảng giải mọi điều về chim văn điểu, hình như chỉ bỏ sót điều này. Khi tôi đổ than vào giỏ quay lại, chim văn điểu vẫn chỉ có một chân. Tôi đứng ngắm một lúc ngoài hiên lạnh, mà nó chẳng có vẻ gì là cựa quậy. Tôi lặng lẽ nhìn chằm chằm, thì chim văn điểu cứ dần dần khép đôi mắt tròn lại. Chắc nó buồn ngủ, tôi nghĩ, định khẽ vào phòng, nhưng vừa nhấc một bước chân, chim văn điểu lại mở mắt. Đồng thời từ trong bộ ngực trắng muốt, nó thò ra một chiếc chân mảnh. Tôi đóng cửa, thêm than vào lò.

Cuốn tiểu thuyết mỗi lúc một bận. Sáng ra tôi vẫn cứ ngủ dậy muộn. Từ lần người nhà chăm chim giùm, tôi thấy như trách nhiệm của mình nhẹ đi. Khi người nhà quên thì tôi cho ăn, cho uống. Mang lồng ra, cất lồng vào. Khi tôi không làm, thì gọi người nhà làm. Tôi như chỉ còn mỗi việc nghe tiếng chim hót.

Dẫu vậy, mỗi lần ra hiên, tôi vẫn dừng trước lồng xem chim thế nào. Phần nhiều nó chẳng bận lòng vì cái lồng chật, cứ thong thả bay qua bay lại giữa hai cành đậu ra chiều mãn nguyện. Những ngày đẹp trời, nó tắm nắng nhạt qua cửa kính mà hót mãi. Nhưng chẳng như Mi-ê-ki-chi nói, nó chẳng hề có vẻ gì là cố ý nhìn mặt tôi mà hót.

Chuyện ăn từ đầu ngón tay tôi dĩ nhiên là không có. Thỉnh thoảng những lúc vui, tôi chấm chút vụn bánh mì lên đầu ngón trỏ, khẽ chìa qua kẽ nan tre, nhưng chim văn điểu nhất định không lại gần. Thử đưa sâu vào hơi sỗ sàng, thì nó hoảng vì ngón tay to, chỉ xoã cánh trắng mà nhảy loạn trong lồng. Thử hai ba lần, tôi thấy tội nghiệp, bèn bỏ hẳn trò này mãi mãi. Đời nay có ai làm được chuyện ấy không, thật đáng ngờ lắm. Hẳn là việc của các bậc thánh thời xưa. Mi-ê-ki-chi chắc chắn đã nói dối.

Một hôm, tôi đang ngồi trong phòng sách, như mọi khi cho tiếng bút kêu, viết những điều buồn bã, thì chợt nghe một tiếng động lạ. Ngoài hiên có tiếng sột soạt, sột soạt. Nghe như tiếng một người đàn bà đang vén vạt áo dài, nhưng với một người đàn bà thường thì to quá. Tôi nghĩ có lẽ nên tả là tiếng nếp quần của đôi búp bê vua chúa đi trên bệ bày búp bê ngày lễ. Tôi bỏ cuốn tiểu thuyết đang viết, cầm nguyên cây bút ra hiên xem. Thì ra chim văn điểu đang tắm.

Nước vừa mới thay. Chim văn điểu nhúng đôi chân nhẹ bẫng vào giữa hũ nước, ngập tới lông ngực, thỉnh thoảng xoè đôi cánh trắng ra hai bên, hơi ép bụng xuống như ngồi thụp trong hũ, rồi giũ toàn thân lông một lượt. Rồi nó nhảy phắt lên vành hũ. Một lát lại nhảy xuống. Đường kính hũ nước chỉ chừng một tấc rưỡi. Lúc nhảy xuống, đuôi thừa ra, đầu cũng thừa ra, lưng thì dĩ nhiên thừa ra. Chỉ có chân và ngực là ngâm trong nước. Vậy mà chim văn điểu vẫn hớn hở tắm.

Tôi vội lấy chiếc lồng để thay. Rồi chuyển con chim sang lồng ấy. Rồi cầm bình tưới vào buồng tắm, hứng nước máy, tưới rào rào từ trên lồng xuống. Khi bình tưới cạn, những giọt nước từ bộ lông trắng rơi xuống lăn thành từng hạt châu. Chim văn điểu không ngớt chớp chớp mắt.

Ngày xưa, có lần người con gái tôi trêu bằng chiếc dải thắt áo tím đang ngồi khâu vá trong phòng, tôi từ trên gác sau nhà lấy chiếc gương bỏ túi hắt ánh nắng xuân vào mặt nàng cho vui. Nàng ngẩng đôi má ửng hồng, đưa bàn tay thon lên che trước trán, chớp mắt ngạc nhiên. Có lẽ người con gái ấy và con chim văn điểu này cùng một tâm trạng.

Ngày tháng trôi qua, chim văn điểu hót hay hơn. Nhưng nó hay bị bỏ quên. Có lần hũ thức ăn chỉ còn toàn vỏ kê. Có lần đáy lồng đầy phân. Một tối tôi đi dự tiệc về muộn, ánh trăng đông chiếu qua cửa kính, dải hiên rộng sáng mờ mờ, chiếc lồng chim lặng lẽ đặt trên nắp hộp. Ở một góc lồng, thân chim văn điểu trắng mờ nổi lên trên cành đậu, như có như không. Tôi lật vạt áo choàng, cất ngay lồng chim vào hộp.

Hôm sau chim văn điểu vẫn hót líu lo như mọi khi. Từ đó, thỉnh thoảng những đêm lạnh tôi lại quên cất nó vào hộp. Một tối, như mọi khi tôi đang chăm chú nghe tiếng bút trong phòng sách, thì bỗng phía hiên có tiếng "cạch" như có vật gì đổ. Nhưng tôi không đứng dậy. Vẫn cứ viết cuốn tiểu thuyết đang gấp. Cất công đứng dậy ra xem mà chẳng có gì thì bực mình, nên tuy không phải là không lo, tôi vẫn chỉ hơi dỏng tai rồi làm như không biết. Tối ấy quá mười hai giờ tôi mới đi ngủ. Nhân đi vệ sinh, vì lo, để cho chắc tôi vòng ra hiên xem thử...

Chiếc lồng đã rơi khỏi nắp hộp. Đổ nghiêng. Hũ nước, hũ thức ăn đều lật úp. Kê vương vãi khắp hiên. Cành đậu bung ra. Chim văn điểu lặng lẽ bám chặt vào song lồng. Tôi quyết từ mai thề không cho mèo vào dải hiên này nữa.

Hôm sau chim văn điểu không hót. Tôi đổ kê đầy có ngọn. Đổ nước tràn bờ. Chim văn điểu đứng một chân, rất lâu không rời cành đậu. Ăn trưa xong, tôi định viết thư cho Mi-ê-ki-chi, vừa viết được hai ba dòng, thì chim văn điểu kêu "chích chích". Tôi ngừng bút. Chim văn điểu lại kêu "chích chích". Ra xem thì kê và nước đã vơi khá nhiều. Lá thư tôi bỏ dở, xé vứt đi.

Hôm sau chim văn điểu lại không hót nữa. Nó rời cành đậu, ép bụng xuống đáy lồng. Chỗ ngực hơi phồng lên, những sợi lông nhỏ rối như sóng gợn. Sáng ấy tôi nhận được thư Mi-ê-ki-chi nhờ tới một chỗ vì một việc đang bàn. Thư nhờ tới trước mười giờ, nên tôi để mặc con chim mà đi. Gặp Mi-ê-ki-chi, việc kia dây dưa đủ điều, cùng ăn trưa. Cùng ăn tối. Lại còn hẹn cả buổi gặp ngày mai rồi mới về nhà. Về tới nơi đã chín giờ tối. Chuyện con chim tôi quên sạch. Mệt, tôi đi nằm ngủ ngay.

Hôm sau vừa mở mắt, tôi đã nhớ ngay tới việc kia. Dù đương sự có ưng thuận đi nữa, gả về một chỗ như thế thì tương lai chẳng tốt lành gì. Chỉ vì còn trẻ con nên bảo đi đâu cũng chịu đi thôi. Một khi đã đi rồi thì đâu dễ mà ra. Ở đời có biết bao người vừa mãn nguyện vừa rơi vào bất hạnh. Nghĩ ngợi như thế, tôi đánh răng, ăn sáng xong, lại ra đi giải quyết cho xong việc kia.

Về tới nhà khoảng ba giờ chiều. Treo áo choàng ở tiền sảnh, định theo hành lang vào phòng sách, ra tới dải hiên, thì thấy lồng chim đã đặt trên nắp hộp. Nhưng chim văn điểu nằm ngửa dưới đáy lồng. Hai chân duỗi cứng song song, thẳng một đường với thân. Tôi đứng bên lồng, lặng lẽ nhìn con chim. Đôi mắt đen đã nhắm. Màu mí mắt đã đổi xanh nhợt.

Trong hũ thức ăn chỉ đọng toàn vỏ kê. Chẳng còn một hạt nào để mổ. Hũ nước cạn tới mức đáy sáng lên. Mặt trời đã ngả về tây, nắng lọt qua cửa kính, chiếu xiên lên chiếc lồng. Lớp sơn trên đế lồng, đúng như lời Mi-ê-ki-chi, chẳng biết từ lúc nào đã phai màu đen, ánh son đã hiện ra.

Tôi ngắm cái đế son ửng màu trong nắng đông. Ngắm chiếc hũ thức ăn trống không. Ngắm hai cành đậu bắc cầu vô ích. Và ngắm con chim văn điểu cứng đờ nằm bên dưới.

Tôi cúi xuống, hai tay ôm lấy chiếc lồng. Rồi mang vào phòng sách. Đặt lồng xuống giữa gian mười chiếu, quỳ ngay ngắn trước nó, mở cửa lồng, thò bàn tay to vào, nắm lấy con chim. Bộ lông mềm đã lạnh ngắt.

Rút nắm tay ra khỏi lồng, mở bàn tay, chim văn điểu nằm yên trên lòng bàn tay. Tôi cứ để bàn tay mở như thế, nhìn con chim chết một lúc lâu. Rồi khẽ đặt nó lên tấm đệm. Rồi vỗ tay thật mạnh.

Cô gái giúp việc mười sáu tuổi "dạ" một tiếng, chống tay quỳ bên ngưỡng cửa. Tôi bỗng chộp con chim trên đệm, ném ra trước mặt cô. Cô cúi đầu nhìn xuống chiếu, im lặng. Tôi trừng mắt nhìn mặt cô hầu, nói: không cho ăn nên rốt cuộc nó chết rồi. Cô hầu vẫn im lặng.

Tôi quay lại phía bàn. Rồi viết một tấm bưu thiếp cho Mi-ê-ki-chi. Lời lẽ như sau: "Người nhà không cho ăn nên rốt cuộc con chim văn điểu đã chết. Người ta không nhờ mà đem nhốt vào lồng, rồi đến cái bổn phận cho ăn cũng không làm cho trọn, thật là tàn nhẫn hết mức."

Tôi bảo cô hầu: mang cái này đi bỏ vào hòm thư, rồi mang con chim ấy đi chỗ khác. Cô hầu hỏi lại: mang đi đâu ạ? Muốn mang đi đâu thì mang, tôi quát, cô hoảng hốt mang nó xuống bếp.

Một lúc sau, ngoài vườn sau, bọn trẻ nhao nhao: chôn chim đi, chôn chim đi. Ông thợ vườn được thuê dọn vườn nói: cô chủ ơi, chỗ này được đấy. Tôi chẳng thiết tha gì, nhưng vẫn ngồi trong phòng sách đưa bút.

Hôm sau đầu nặng trịch, mãi tới mười giờ tôi mới dậy. Vừa rửa mặt vừa nhìn ra vườn sau, thì thấy chỗ hôm qua có tiếng ông thợ vườn, có một tấm bảng gỗ nhỏ cắm cạnh một khóm cỏ tháp bút xanh. Bảng thấp hơn khóm cỏ nhiều. Xỏ guốc ra vườn, giẫm vỡ lớp sương giá trong bóng râm, lại gần xem, thì trên mặt bảng viết: "Cấm trèo lên gò đất này". Nét chữ của con gái tôi, bé Phư-đê-cô.

Buổi chiều Mi-ê-ki-chi gửi thư trả lời. Thư chỉ viết: "Con chim văn điểu tội nghiệp quá." Chẳng thấy nói người nhà có lỗi, cũng chẳng thấy nói tàn nhẫn gì cả.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNatsume Sōseki (1867 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 文鳥 (Bunchō), Natsume Sōseki, báo Ōsaka Asahi Shimbun, tháng 6 năm 1908
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →