Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Buổi chiều đẹp trời

Cơn lũ sông Ga-ron · Chương 1/3 · của Émile Zola

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 18.848 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi tên là Lu-i Ru-biơ. Tôi bảy mươi tuổi,…
  2. 4:49Nào, một ngày tốt lành! Tối nay ta sẽ…
  3. 6:29Tôi nói tiếp:
  4. 10:13Sông Ga-ron! Sông Ga-ron!
  5. 11:30Sông Ga-ron! Sông Ga-ron!
  6. 13:28Tôi gọi hai chị người làm đang lội bì…
  7. 15:46Không, không, các cháu cứ chơi yên đi. Chẳng…
  8. 18:55Nước vẫn dâng lên. Pi-e đang canh chừng nó,…

Chương 1: Buổi chiều đẹp trời

Tôi tên là Lu-i Ru-biơ. Tôi bảy mươi tuổi, sinh ra ở làng Xanh Gio-ri, cách Tu-lu-dơ vài dặm, ở phía thượng nguồn sông Ga-ron. Suốt mười bốn năm tôi vật lộn với đất để có miếng bánh mì. Cuối cùng, sự sung túc cũng đến, và tháng trước tôi vẫn còn là người chủ trại giàu nhất xã.

Ngôi nhà của chúng tôi như được ban phúc. Hạnh phúc mọc lên ở đó. Mặt trời là anh em của chúng tôi, và tôi không nhớ có vụ mùa nào thất bát. Trong cái hạnh phúc ấy, cả trại có ngót một tá người. Có tôi, vẫn còn khoẻ mạnh, dẫn con cháu đi làm. Rồi em trai tôi là Pi-e, một anh chàng độc thân già, nguyên là trung sĩ. Rồi em gái tôi là A-ga-tơ, về ở với chúng tôi sau khi chồng mất, một người đàn bà đảm đang, to béo và vui tính, tiếng cười của cô vọng tới tận đầu kia làng. Rồi tới cả một tổ con cháu: con trai tôi là Giắc, vợ nó là Rô-dơ, và ba đứa con gái của chúng, Ê-mê, Vê-rô-ních và Ma-ri. Đứa lớn lấy Xi-pri-ăng Bu-i-xông, một chàng trai cao lớn, có với nó hai đứa nhỏ, đứa hai tuổi, đứa mười tháng. Đứa thứ hai mới đính hôn hôm qua, sắp lấy Gát-pa Ra-buy-tô. Còn đứa thứ ba, đúng là một cô tiểu thư, trắng trẻo, tóc vàng óng tới mức trông như sinh ra ở thành phố. Tính cả mọi người là mười. Tôi đã làm ông, làm cụ. Khi ngồi vào bàn ăn, em gái tôi là A-ga-tơ ngồi bên phải, em trai tôi là Pi-e ngồi bên trái. Đám con cháu khép vòng tròn theo thứ tự tuổi tác, một hàng đầu nhỏ dần cho tới thằng cu mười tháng đã ăn xúp như người lớn. Chao ôi, nghe tiếng thìa gõ vào đĩa mà xem! Cả tổ ăn khoẻ lắm. Và giữa hai miếng ăn, vui vẻ biết bao! Tôi thấy niềm kiêu hãnh và niềm vui chảy trong huyết quản mỗi khi lũ nhỏ chìa tay về phía tôi mà kêu:

— Cụ ơi, cho chúng cháu bánh mì đi!... Một miếng thật to nhé, cụ ơi!

Những ngày tốt đẹp làm sao! Cả trang trại như hát vang qua mọi khung cửa sổ. Buổi tối, Pi-e bày đủ trò vui, kể chuyện trung đoàn của chú. Chủ nhật, cô A-ga-tơ làm bánh nướng cho các cháu gái. Rồi những bài thánh ca Ma-ri thuộc, nó hát bằng giọng của một chú bé hát lễ. Nó giống một vị thánh, mái tóc vàng xoã trên cổ, hai tay đan vào nhau trên tạp dề. Tôi đã quyết định xây nhà thêm một tầng khi Ê-mê lấy Xi-pri-ăng. Và tôi cười bảo rằng sau khi Vê-rô-ních lấy Gát-pa thì phải xây thêm tầng nữa. Cứ thế, mỗi cặp vợ chồng mới lại thêm một tầng, rồi ngôi nhà sẽ chạm tới trời. Chúng tôi không muốn xa nhau. Chúng tôi thà xây cả một thành phố sau trang trại, trong khu đất rào của mình. Khi các gia đình hoà thuận, được sống và chết ở nơi mình lớn lên sao mà sung sướng!

Năm nay tháng Năm đã tuyệt đẹp. Từ lâu lắm rồi mùa màng chưa hứa hẹn tốt đến thế. Đúng hôm ấy, tôi cùng con trai là Giắc đi thăm đồng một vòng. Chúng tôi đi từ ba giờ. Những đồng cỏ của chúng tôi bên bờ sông Ga-ron trải ra, một màu xanh còn non. Cỏ cao tới ba bộ, một bãi liễu trồng từ năm ngoái đã đâm những chồi dài một mét. Từ đó chúng tôi đi thăm lúa mì và vườn nho, những thửa ruộng mua từng thửa một khi của cải đến dần. Lúa mì mọc dày, nho đang ra hoa rộ, hứa hẹn một vụ hái nho tuyệt vời. Và Giắc cười cái cười hiền hậu của nó, vỗ vai tôi:

— Thế nào, bố? Nhà mình chẳng bao giờ thiếu bánh mì hay rượu nữa. Bố đã gặp được Chúa hay sao mà giờ Người lại mưa tiền xuống ruộng nhà mình thế?

Chúng tôi hay đùa với nhau về cảnh nghèo ngày trước. Giắc nói đúng, hẳn tôi đã được lòng một vị thánh nào đó trên kia, hay chính Chúa, vì mọi điều may mắn trong vùng đều về phần chúng tôi. Khi có mưa đá, mưa đá dừng ngay bờ ruộng của chúng tôi. Nếu nho nhà hàng xóm bị bệnh, quanh vườn nho của chúng tôi như có một bức tường che chở. Rồi tôi thấy điều ấy là công bằng. Chẳng làm hại ai, tôi nghĩ hạnh phúc ấy là phần mình đáng được hưởng.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những ruộng đất của mình ở bên kia làng. Những vườn dâu trồng ở đó lên tốt lắm. Còn có những cây hạnh đang sai quả. Chúng tôi vui vẻ trò chuyện, bàn những dự định. Khi có đủ tiền, chúng tôi sẽ mua mấy mảnh đất nối liền những thửa ruộng của mình với nhau, để thành chủ cả một góc xã. Mùa màng năm nay, nếu giữ được đúng như hứa hẹn, sẽ cho phép chúng tôi thực hiện giấc mơ ấy.

Khi chúng tôi về gần tới nhà, Rô-dơ từ xa đã vẫy tay rối rít, kêu lên:

— Về mau đi!

Một con bò nhà vừa đẻ một con bê. Thế là cả nhà nhốn nháo. Cô A-ga-tơ lật đật chạy tới với tấm thân đồ sộ của mình. Các cháu gái ngắm con bê. Và sự ra đời của con vật ấy như thêm một lời ban phúc. Gần đây chúng tôi đã phải nới rộng chuồng trại, nơi có gần trăm con gia súc, bò, nhất là cừu, chưa kể ngựa.

Tôi kêu lên:

— Nào, một ngày tốt lành! Tối nay ta sẽ uống một chai rượu nấu.

Trong khi đó, Rô-dơ kéo chúng tôi ra một chỗ, báo rằng Gát-pa, chồng chưa cưới của Vê-rô-ních, vừa tới để bàn ngày cưới. Nó đã giữ cậu ở lại ăn tối. Gát-pa, con trai cả một chủ trại ở Mô-răng-giơ, là một chàng trai cao lớn hai mươi tuổi, cả vùng biết tiếng vì sức khoẻ phi thường. Trong một hội hè ở Tu-lu-dơ, cậu đã quật ngã Mác-xi-an, người ta gọi là Sư tử phương Nam. Lại thêm cậu hiền lành, tấm lòng vàng, thậm chí rụt rè quá, cứ đỏ mặt mỗi khi Vê-rô-ních bình thản nhìn thẳng vào cậu.

Tôi bảo Rô-dơ gọi cậu vào. Cậu đang ở cuối sân giúp mấy chị người làm phơi đống đồ giặt của cả quý. Khi cậu vào phòng ăn, nơi chúng tôi đang ngồi, Giắc quay về phía tôi mà nói:

— Bố nói đi.

Tôi bảo:

— Thế nào, cậu tới để chúng ta định ngày trọng đại phải không?

Cậu đáp, má đỏ ửng:

— Vâng, đúng thế ạ, bác Ru-biơ.

Tôi nói tiếp:

— Đừng đỏ mặt, cậu ạ. Nếu cậu muốn, thì ta định vào ngày lễ thánh Phê-li-xi-tê, mồng mười tháng Bảy. Hôm nay hai mươi ba tháng Sáu, chưa tới hai mươi ngày phải chờ. Bà nhà tôi khi xưa tên là Phê-li-xi-tê, ngày ấy sẽ mang lại may mắn cho các cháu. Thế nào? Đồng ý nhé?

— Vâng, đúng thế, ngày lễ thánh Phê-li-xi-tê, bác Ru-biơ ạ.

Rồi cậu vỗ vào tay tôi và tay Giắc một cái mạnh tới mức có thể đánh gục một con bò. Rồi cậu ôm hôn Rô-dơ, gọi là mẹ. Chàng trai to lớn với đôi nắm đấm đáng sợ ấy yêu Vê-rô-ních tới quên ăn quên uống. Cậu thú thật với chúng tôi rằng nếu chúng tôi không gả con bé cho cậu, cậu sẽ đổ bệnh mất.

Tôi nói tiếp:

— Giờ thì cậu ở lại ăn tối nhé? Vậy thì cả nhà vào ăn xúp thôi! Tôi đói muốn chết đây này!

Tối hôm ấy, chúng tôi mười một người ngồi quanh bàn. Người ta xếp Gát-pa ngồi cạnh Vê-rô-ních, cậu cứ ngồi nhìn con bé, quên cả đĩa ăn, xúc động vì cảm thấy nó đã là của mình tới mức có lúc những giọt nước mắt to ứa ra nơi khoé mắt. Xi-pri-ăng và Ê-mê, mới cưới nhau được ba năm, mỉm cười. Giắc và Rô-dơ, đã chung sống hai mươi lăm năm, thì nghiêm trang hơn. Vậy mà họ vẫn lén trao nhau những ánh mắt đượm tình thương cũ. Còn tôi, tôi như được sống lại trong đôi tình nhân trẻ, hạnh phúc của họ đặt một góc thiên đường lên bàn ăn của chúng tôi. Tối hôm ấy chúng tôi ăn một nồi xúp ngon làm sao! Cô A-ga-tơ, lúc nào cũng sẵn câu đùa, liều buông vài lời trêu chọc. Bấy giờ chú Pi-e tốt bụng lại muốn kể chuyện tình của chú với một cô tiểu thư ở Ly-ông. May mà đã tới món tráng miệng, ai cũng nói cùng lúc. Tôi đã xuống hầm lấy lên hai chai rượu nấu. Cả nhà nâng cốc chúc may mắn cho Gát-pa và Vê-rô-ních. Ở quê chúng tôi người ta nói thế: may mắn là chẳng bao giờ đánh nhau, có thật nhiều con và tích được nhiều túi tiền. Rồi người ta hát. Gát-pa thuộc những bài hát tình yêu bằng tiếng địa phương. Cuối cùng người ta xin Ma-ri hát một bài thánh ca. Con bé đứng dậy, nó có giọng như tiếng sáo, rất thanh, nghe buồn buồn trong tai.

Trong khi ấy, tôi đã ra đứng trước cửa sổ. Gát-pa ra đứng cạnh tôi, tôi hỏi cậu:

— Bên ấy có gì mới không?

Cậu đáp:

— Không ạ. Người ta nói chuyện những trận mưa to mấy hôm nay, bảo là có khi gây ra tai hoạ.

Quả thật, những ngày trước đó trời đã mưa suốt sáu mươi tiếng không ngớt. Sông Ga-ron lên to từ hôm qua. Nhưng chúng tôi tin nó. Chừng nào nó chưa tràn bờ, chúng tôi không thể nghĩ nó là một người hàng xóm xấu. Nó giúp chúng tôi biết bao nhiêu việc! Mặt nước của nó rộng và hiền hoà biết bao! Vả lại, nông dân chẳng dễ gì rời bỏ cái hang của mình, dù mái nhà sắp sập.

Tôi nhún vai kêu lên:

— Ối dào! Chẳng có gì đâu. Năm nào cũng thế: con sông gồng lưng như đang giận dữ, rồi chỉ một đêm là nó dịu lại, về nhà nó, ngoan hơn cả con cừu non. Cậu sẽ thấy, cậu ạ, lần này cũng chỉ để mà cười thôi... Kìa, cậu nhìn trời đẹp chưa!

Và tôi giơ tay chỉ lên trời. Lúc ấy bảy giờ, mặt trời đang lặn. Ôi, xanh biết bao! Bầu trời chỉ toàn màu xanh, một tấm khăn xanh mênh mông, trong vắt thăm thẳm, nơi mặt trời lặn bay như bụi vàng. Từ trên cao rơi xuống một niềm vui chậm rãi, lan khắp chân trời. Chưa bao giờ tôi thấy ngôi làng thiếp đi trong một sự bình yên dịu dàng đến thế. Trên những mái ngói, một màu hồng đang tắt dần. Tôi nghe tiếng cười của một bà hàng xóm, rồi tiếng trẻ con ở khúc quanh con đường trước nhà. Xa hơn, vọng lên, dịu đi vì khoảng cách, tiếng những đàn gia súc trở về chuồng. Tiếng sông Ga-ron trầm trầm rì rầm không dứt, nhưng tôi thấy nó như chính là tiếng của im lặng, vì tôi đã quá quen với tiếng gầm của nó. Dần dần bầu trời nhạt đi, ngôi làng ngủ say hơn. Đó là buổi tối của một ngày đẹp, và tôi nghĩ rằng tất cả hạnh phúc của chúng tôi, những vụ mùa lớn, ngôi nhà hạnh phúc, đám hỏi của Vê-rô-ních, đều như mưa từ trên cao xuống, tới với chúng tôi trong chính sự trong trẻo của ánh sáng. Một lời ban phúc mở rộng trên đầu chúng tôi, cùng với lời từ biệt của buổi chiều.

Trong khi ấy, tôi đã quay vào giữa phòng. Các cháu gái đang chuyện trò. Chúng tôi mỉm cười nghe chúng nói, thì bỗng nhiên, giữa sự thanh bình lớn lao của đồng quê, một tiếng thét khủng khiếp vang lên, một tiếng thét tuyệt vọng và chết chóc:

— Sông Ga-ron! Sông Ga-ron!

Chúng tôi lao ra sân.

Làng Xanh Gio-ri nằm dưới đáy một nếp đất, thấp hơn sông Ga-ron, cách chừng năm trăm mét. Những hàng dương cao cắt ngang đồng cỏ che khuất hẳn dòng sông.

Chúng tôi chẳng thấy gì. Mà tiếng thét vẫn vang lên mãi:

— Sông Ga-ron! Sông Ga-ron!

Bỗng từ con đường rộng trước mặt chúng tôi chạy ra hai người đàn ông và ba người đàn bà. Một người bế một đứa trẻ. Chính họ đang kêu thét, cuống cuồng, chạy hết tốc lực trên mặt đất cứng. Chốc chốc họ quay lại nhìn ra sau, mặt khiếp đảm, như thể có một bầy sói đang đuổi theo họ.

Xi-pri-ăng hỏi:

— Họ làm sao thế? Ông có nhìn thấy gì không, ông?

Tôi bảo:

— Không, không. Lá cây còn chẳng lay động.

Quả thật, đường chân trời thấp vẫn yên bình nằm ngủ. Nhưng tôi còn đang nói thì chúng tôi buột ra một tiếng kêu. Sau lưng những người đang chạy, giữa những thân cây dương, giữa những bụi cỏ lớn, chúng tôi vừa thấy hiện ra như một bầy thú xám, lốm đốm vàng, đang lao tới. Khắp nơi chúng nhô lên cùng một lúc, sóng đẩy sóng, những khối nước tan tác cuồn cuộn không dứt, sùi bọt trắng, làm mặt đất rung chuyển bằng tiếng phi nước đại trầm đục của cả đàn.

Tới lượt chúng tôi thét lên tuyệt vọng:

— Sông Ga-ron! Sông Ga-ron!

Trên đường, hai người đàn ông và ba người đàn bà vẫn chạy. Họ nghe tiếng phi khủng khiếp kia đuổi sát tiếng chạy của họ. Giờ thì sóng tới thành một hàng, cuộn tròn, đổ sập xuống với tiếng ầm ầm của một tiểu đoàn đang xung phong. Ngay cú va đầu tiên, chúng đã quật gãy ba cây dương, những vòm lá cao đổ xuống rồi biến mất. Một túp lều ván bị nuốt chửng. Một bức tường vỡ toang. Những chiếc xe bò đã tháo ngựa trôi đi như những cọng rơm. Nhưng nước dường như đặc biệt đuổi theo những người đang chạy. Ở khúc quanh con đường, chỗ ấy rất dốc, nước bỗng đổ ập xuống thành một tấm lớn, chặn mọi đường lui của họ. Vậy mà họ vẫn chạy, sải những bước dài làm nước bắn tung toé, không kêu thét nữa, điên dại vì kinh hoàng. Nước ngập tới đầu gối họ. Một con sóng khổng lồ chồm lên người đàn bà bế đứa trẻ. Tất cả chìm nghỉm.

Tôi kêu lên:

— Mau! Mau! Phải vào nhà... Nhà mình vững lắm. Chẳng có gì phải sợ.

Để cho chắc, chúng tôi lên ngay tầng hai. Người ta cho các cháu gái đi trước. Tôi khăng khăng đòi lên sau cùng. Ngôi nhà xây trên một gò đất, cao hơn mặt đường. Nước tràn vào sân, chầm chậm, với một tiếng động khe khẽ. Chúng tôi không sợ lắm.

Giắc nói để mọi người yên tâm:

— Ối dào, chẳng có gì đâu... Bố còn nhớ không, năm năm lăm, nước cũng vào sân như thế này. Ngập một bộ, rồi lại rút.

Xi-pri-ăng thì thầm:

— Dù sao cũng tai hại cho mùa màng.

Thấy đôi mắt to van lơn của các cháu gái, tôi lại nói:

— Không đâu, không đâu, chẳng có gì đâu.

Ê-mê đặt hai đứa con lên giường mình. Nó ngồi ở đầu giường, cùng với Vê-rô-ních và Ma-ri. Cô A-ga-tơ bàn chuyện hâm nóng chỗ rượu cô đã mang lên, cho cả nhà thêm can đảm. Giắc và Rô-dơ đứng ở một cửa sổ nhìn ra. Tôi đứng ở cửa sổ kia, cùng với em trai tôi, Xi-pri-ăng và Gát-pa.

Tôi gọi hai chị người làm đang lội bì bõm giữa sân:

— Lên đây đi! Đừng đứng đó mà ướt chân.

Họ đáp:

— Nhưng còn lũ súc vật? Chúng nó sợ, chúng nó húc nhau chết trong chuồng mất.

— Không, không, lên đây... Lát nữa. Rồi sẽ tính.

Nếu tai hoạ còn lớn hơn, thì không thể cứu được đàn gia súc. Tôi thấy chẳng cần làm người nhà khiếp sợ. Thế là tôi cố tỏ ra thật thản nhiên. Tì khuỷu tay lên cửa sổ, tôi nói chuyện, chỉ cho mọi người thấy nước lên tới đâu. Con sông, sau khi xông vào tấn công ngôi làng, đã chiếm tới cả những ngõ hẻm chật nhất. Không còn là một trận xung phong của những con sóng phi nước đại, mà là một sự bóp nghẹt chậm chạp và không gì cưỡng nổi. Cái lòng chảo dưới đáy nơi làng Xanh Gio-ri được dựng lên biến thành một cái hồ. Trong sân nhà chúng tôi, nước chẳng mấy chốc đã sâu một mét. Tôi thấy nó dâng lên, nhưng tôi cứ quả quyết là nó đứng yên, tôi còn bảo là nó đang rút.

Tôi quay sang Gát-pa mà bảo:

— Thế là cậu phải ngủ lại đây rồi, cậu ạ. Trừ phi vài giờ nữa đường thông... Cũng có thể lắm.

Cậu nhìn tôi, không đáp, mặt tái nhợt. Rồi tôi thấy ánh mắt cậu dán vào Vê-rô-ních, với một nỗi lo âu không tả xiết.

Lúc ấy là tám giờ rưỡi. Bên ngoài trời vẫn còn sáng, một thứ ánh sáng trắng, buồn thăm thẳm dưới bầu trời nhợt nhạt. Mấy chị người làm, trước khi lên, đã khéo nghĩ ra việc mang theo hai ngọn đèn. Tôi cho thắp lên, nghĩ rằng ánh sáng của chúng sẽ làm căn phòng đã tối nơi chúng tôi trú ẩn vui lên đôi chút. Cô A-ga-tơ đã lăn một cái bàn ra giữa phòng, muốn bày một ván bài. Người đàn bà đáng quý ấy, đôi mắt chốc chốc lại tìm mắt tôi, chủ yếu nghĩ tới việc làm lũ trẻ khuây khoả. Tính vui vẻ của cô giữ một sự can đảm tuyệt vời. Cô cười để chống lại nỗi kinh hoàng cô cảm thấy đang lớn dần quanh mình. Ván bài được bày ra. Cô A-ga-tơ ép Ê-mê, Vê-rô-ních và Ma-ri ngồi vào bàn. Cô dúi bài vào tay chúng, chính cô chơi say mê, xào bài, cắt bài, chia bài, nói liến thoắng tới mức gần như át cả tiếng nước. Nhưng các cháu gái tôi không sao quên được. Chúng vẫn trắng bệch, tay run như sốt, tai dỏng lên. Chốc chốc ván bài lại ngừng. Một đứa quay lại, khẽ hỏi tôi:

— Ông ơi, nước vẫn lên à?

Nước lên nhanh khủng khiếp. Tôi đùa, tôi đáp:

— Không, không, các cháu cứ chơi yên đi. Chẳng có gì nguy hiểm đâu.

Chưa bao giờ lòng tôi thắt lại vì một nỗi lo âu như thế. Đàn ông chúng tôi đều đứng chắn trước cửa sổ để che đi cảnh tượng khủng khiếp. Chúng tôi cố mỉm cười, quay mặt vào trong phòng, trước những ngọn đèn hiền hoà mà vòng ánh sáng rơi xuống mặt bàn dịu dàng như trong những buổi tối ngồi quây quần. Tôi nhớ lại những buổi tối mùa đông khi cả nhà tụ quanh chiếc bàn này. Vẫn là cảnh nhà yên ả ấy, đầy hơi ấm thương yêu. Và trong khi bình yên ở đó, tôi nghe sau lưng mình tiếng gầm của dòng sông sổng xích đang dâng lên mãi.

Em trai tôi là Pi-e bảo tôi:

— Anh Lu-i, nước chỉ còn cách cửa sổ ba bộ. Phải tính đi thôi.

Tôi siết tay chú bảo chú im. Nhưng không thể giấu được hiểm hoạ nữa. Trong chuồng, lũ súc vật đang húc nhau chết. Bỗng vang lên những tiếng be be, những tiếng rống của cả đàn hoảng loạn. Và những con ngựa hí lên những tiếng khàn khàn mà người ta nghe thấy từ rất xa, khi chúng sắp chết.

Ê-mê đứng bật dậy, hai tay ôm thái dương, run lên bần bật:

— Lạy Chúa! Lạy Chúa!

Tất cả đều đã đứng dậy, không ai ngăn được chúng chạy ra cửa sổ. Chúng đứng đó, thẳng đơ, câm lặng, tóc như dựng lên trong cơn gió của nỗi sợ. Hoàng hôn đã xuống. Một thứ ánh sáng đục bồng bềnh trên mặt nước phù sa. Bầu trời nhợt nhạt như một tấm vải trắng phủ lên mặt đất. Ở xa, những làn khói kéo lê. Mọi thứ nhoè đi, đó là một ngày tàn khiếp đảm đang tắt dần vào một đêm chết chóc. Và chẳng một tiếng người, chỉ có tiếng gầm của cái biển mở rộng tới vô cùng ấy, chỉ có tiếng rống và tiếng hí của lũ súc vật!

Những người đàn bà thì thầm nhắc mãi, như sợ nói to:

— Lạy Chúa! Lạy Chúa!

Một tiếng răng rắc khủng khiếp cắt ngang lời họ. Lũ súc vật điên cuồng vừa phá tung cửa chuồng. Chúng trôi qua trong làn nước vàng, bị cuốn đi, bị dòng nước mang theo. Lũ cừu trôi như những chiếc lá khô, từng đàn, xoay tròn giữa những xoáy nước. Những con bò, những con ngựa vật lộn, bước đi, rồi hụt chân. Nhất là con ngựa xám to của chúng tôi không chịu chết. Nó chồm lên, vươn cổ, thở phì phò như tiếng bễ lò rèn. Nhưng dòng nước hung hãn chộp lấy mông nó, và chúng tôi thấy nó gục xuống, buông xuôi.

Bấy giờ chúng tôi mới bật lên những tiếng kêu đầu tiên. Nó dâng lên cổ họng, ngoài ý muốn của chúng tôi. Chúng tôi cần được kêu lên. Tay chìa về phía tất cả những con vật thân yêu đang trôi đi, chúng tôi than khóc, chẳng ai nghe thấy ai, trút ra ngoài những giọt nước mắt và tiếng nức nở đã nén lại tới giờ. Ôi, đúng là khánh kiệt rồi! Mùa màng mất trắng, gia súc chết đuối, cơ nghiệp thay đổi chỉ trong mấy giờ! Chúa không công bằng. Chúng tôi chẳng làm gì Người, vậy mà Người lấy lại tất cả. Tôi giơ nắm đấm về phía chân trời. Tôi nhắc tới cuộc dạo chơi buổi chiều, tới những đồng cỏ, những ruộng lúa, những vườn nho mà chúng tôi thấy đầy hứa hẹn. Vậy là tất cả đều dối trá ư? Hạnh phúc dối trá. Mặt trời dối trá, khi nó lặn dịu dàng và êm ả như thế giữa sự thanh bình lớn lao của buổi chiều.

Nước vẫn dâng lên. Pi-e đang canh chừng nó, kêu tôi:

— Anh Lu-i, coi chừng, nước chạm cửa sổ rồi.

Lời cảnh báo ấy kéo chúng tôi ra khỏi cơn tuyệt vọng. Tôi tỉnh lại, nhún vai nói:

— Tiền bạc chẳng là gì. Chừng nào cả nhà còn đông đủ ở đây thì chẳng có gì phải tiếc... Cùng lắm thì lại bắt tay làm lại thôi.

Giắc sốt sắng tiếp lời:

— Phải, phải, bố nói đúng. Mà nhà mình chẳng gặp nguy hiểm gì đâu, tường vững lắm... Ta lên mái nhà thôi.

Chúng tôi chỉ còn chỗ trú ấy. Nước đã leo lên cầu thang từng bậc một, với tiếng óc ách dai dẳng, giờ đã tràn vào qua cửa. Người ta lao về phía gác xép, không ai rời ai lấy một bước, vì cái nhu cầu mà người ta có trong hiểm nguy là được cảm thấy mình sát bên nhau. Xi-pri-ăng biến đâu mất. Tôi gọi nó, và thấy nó từ những phòng bên quay lại, mặt thất thần. Bấy giờ, vì tôi cũng nhận ra hai chị người làm không có mặt và muốn chờ họ, nó nhìn tôi một cách lạ lùng, khẽ nói:

— Chết rồi. Góc nhà kho dưới phòng họ vừa sập.

Hai cô gái tội nghiệp hẳn đã đi lấy chỗ tiền dành dụm trong hòm. Nó kể cho tôi nghe, vẫn thì thầm, rằng họ đã dùng một cái thang bắc làm cầu để sang dãy nhà bên cạnh. Tôi dặn nó đừng nói gì. Một luồng lạnh buốt chạy qua gáy tôi. Đó là cái chết đang bước vào nhà.

Khi tới lượt chúng tôi leo lên, chúng tôi chẳng nghĩ cả tới việc tắt đèn. Những quân bài vẫn bày trên bàn. Trong phòng nước đã ngập một bộ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cơn lũ sông Ga-ron

  1. 1Buổi chiều đẹp trời20 phút
  2. 2Trên mái nhàĐang thu âm
  3. 3Rạng đôngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảÉmile Zola (1840 – 1902)
Năm mất1902
Xuất bản lần đầu1875
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: L’Inondation, trong tập Le Capitaine Burle, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →