Chương 1: Con quái vật tới thị trấn
Trên cửa lớn của một nhà thờ rất, rất cổ trong một thị trấn yên tĩnh ở một xứ xa xôi, có tạc bằng đá hình một con quái điểu lớn. Nhà điêu khắc ngày xưa đã làm việc rất công phu, nhưng hình ông tạc ra trông chẳng dễ chịu chút nào. Nó có cái đầu to, cái mõm há rộng khổng lồ với hàm răng dữ tợn. Trên lưng nó mọc lên đôi cánh lớn, đầy móc và gai nhọn. Phía trước nó có hai chân chắc nịch, móng vuốt chìa ra. Nhưng phía sau thì không có chân, thân nó kéo dài thành một cái đuôi dài và khoẻ, cuối đuôi có một mũi nhọn như lưỡi câu. Cái đuôi ấy cuộn tròn dưới thân, đầu đuôi vểnh lên ngay sau đôi cánh.
Nhà điêu khắc, hay những người đã đặt làm bức tượng đá ấy, rõ ràng rất ưng ý với nó, vì những bản sao nhỏ của nó, cũng bằng đá, được đặt rải rác dọc hai bên nhà thờ, không cao lắm so với mặt đất, để người ta dễ ngắm và ngẫm nghĩ về hình thù kỳ lạ của chúng. Bên ngoài nhà thờ còn rất nhiều tượng khác: các vị thánh, các vị tử đạo, những cái đầu kỳ dị của người, thú và chim, cùng những sinh vật khác không gọi được tên vì chẳng ai biết chính xác chúng là gì. Nhưng không bức nào kỳ lạ và thú vị bằng con quái điểu lớn trên cửa và những con quái điểu nhỏ hai bên nhà thờ.
Cách thị trấn rất, rất xa, giữa chốn hoang vu đáng sợ mà con người hầu như chưa biết tới, có con Quái Điểu mà hình của nó được tạc trên cửa nhà thờ. Bằng cách nào đó, nhà điêu khắc ngày xưa đã thấy nó, và sau đó, theo trí nhớ của mình, đã tạc hình nó bằng đá. Quái Điểu không hề biết chuyện này, cho tới hàng trăm năm sau, nó nghe một con chim, một con thú hoang, hay bằng một cách nào đó giờ khó mà tìm ra, kể rằng có một hình giống nó trên nhà thờ cổ ở thị trấn xa. Mà con Quái Điểu này chẳng biết mình trông thế nào. Nó chưa từng thấy gương, còn những dòng suối nơi nó sống thì cuồn cuộn dữ dội đến nỗi không tìm đâu ra được một khoảng nước lặng để soi bóng. Theo chỗ người ta biết được, nó là con cuối cùng của giống loài, nên chưa bao giờ thấy một con quái điểu nào khác. Vì thế, khi nghe nói về bức tượng đá của mình, nó rất nóng lòng muốn biết mình trông ra sao, và cuối cùng quyết định tới nhà thờ cổ, tự mình xem mình là loại sinh vật thế nào.
Thế là nó rời chốn hoang vu đáng sợ, bay mãi, bay mãi, cho tới những xứ có người ở, nơi sự xuất hiện của nó trên trời gây ra hoảng loạn lớn. Nhưng nó không đáp xuống đâu cả, cứ bay đều đều cho tới vùng ngoại ô của thị trấn có bức tượng của nó trên nhà thờ. Ở đó, vào lúc chiều muộn, nó đáp xuống một đồng cỏ xanh bên một dòng suối, nằm duỗi dài trên cỏ nghỉ ngơi. Đôi cánh lớn của nó mỏi nhừ, vì cả trăm năm hay hơn nữa nó chưa bay chuyến nào dài như thế.
Tin nó tới lan nhanh khắp thị trấn. Dân chúng sợ hết hồn vì có một vị khách phi thường như thế, chạy trốn vào nhà, đóng chặt cửa. Quái Điểu gọi to bảo có ai đó ra gặp nó, nhưng nó càng gọi, người ta càng sợ không dám ló mặt. Cuối cùng nó thấy hai người làm thuê đang vội vã băng qua đồng về nhà, bèn quát bằng một giọng khủng khiếp bắt họ dừng lại. Không dám trái lời, hai người đứng lại, run lẩy bẩy.
– Các người bị làm sao thế hả? – Quái Điểu quát. – Cả thị trấn không có lấy một người đủ can đảm nói chuyện với ta à?
– Tôi nghĩ, – một người làm thuê nói, giọng run đến nỗi khó nghe ra lời, – có lẽ… thầy phó tế… sẽ ra.
– Thế thì đi gọi ông ta! – Quái Điểu nói. – Ta muốn gặp ông ta.
Thầy phó tế giữ một chức vụ thấp trong nhà thờ cổ. Thầy vừa làm xong lễ buổi chiều, đang ra khỏi một cửa bên cùng ba bà già, cả giáo đoàn ngày thường của thầy. Thầy là một chàng trai trẻ hiền lành, rất tha thiết muốn làm điều tốt cho dân thị trấn. Ngoài bổn phận ở nhà thờ, nơi ngày thường nào thầy cũng làm lễ, thầy còn đi thăm người ốm và người nghèo, khuyên bảo và giúp đỡ những người gặp hoạn nạn, và dạy một trường học toàn những đứa trẻ hư nhất thị trấn, những đứa không ai khác muốn dây vào. Hễ dân chúng cần làm việc gì khó, họ đều tìm tới thầy phó tế. Vì thế mà người làm thuê nghĩ ngay tới thầy giáo sĩ trẻ khi thấy cần phải có ai đó ra nói chuyện với Quái Điểu.
Thầy phó tế chưa nghe chuyện lạ ấy, chuyện mà cả thị trấn đều biết, trừ thầy và ba bà già. Khi được báo tin, lại được biết Quái Điểu đòi gặp mình, thầy vô cùng kinh ngạc và sợ hãi.
– Tôi ư! – Thầy kêu lên. – Nó có bao giờ nghe nói tới tôi đâu! Nó cần gì ở tôi?
– Ôi! Thầy phải đi ngay! – Hai người kêu lên. – Bây giờ nó đang giận lắm vì phải chờ lâu quá. Thầy không mau tới thì chẳng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Thầy phó tế tội nghiệp thà bị chặt tay còn hơn phải ra gặp một con quái điểu đang giận dữ. Nhưng thầy cảm thấy đi là bổn phận của mình, vì sẽ thật đau xót nếu dân thị trấn gặp hoạ chỉ vì thầy không đủ can đảm vâng lời triệu tập của Quái Điểu. Thế là, mặt tái nhợt, sợ hãi, thầy lên đường.
– Hay lắm, – Quái Điểu nói ngay khi chàng trai tới gần. – Ta mừng vì thấy có người đủ can đảm tới gặp ta.
Thầy phó tế không thấy mình can đảm lắm, nhưng vẫn cúi đầu chào.
– Đây có phải thị trấn, – Quái Điểu hỏi, – có cái nhà thờ mang hình ta trên một cánh cửa không?
Thầy phó tế nhìn sinh vật khủng khiếp trước mặt, thấy nó chắc chắn giống hệt bức tượng đá trên nhà thờ.
– Phải, – thầy nói. – Ngài nói đúng.
– Vậy thì, – Quái Điểu nói, – ngươi đưa ta tới đó nhé? Ta rất muốn được xem nó.
Thầy phó tế lập tức nghĩ rằng nếu Quái Điểu vào thị trấn mà dân chúng không biết nó tới để làm gì, chắc sẽ có người sợ chết khiếp. Vì vậy thầy tìm cách kéo dài thời gian để chuẩn bị tinh thần cho họ.
– Giờ trời đang tối dần, – thầy nói, vừa nói vừa rất sợ lời mình làm Quái Điểu nổi giận, – và những thứ trên mặt tiền nhà thờ không nhìn rõ được. Nếu ngài muốn xem rõ bức tượng đá của mình thì tốt hơn là chờ tới sáng.
– Thế cũng được, – Quái Điểu nói. – Ta thấy ngươi là người biết lẽ phải. Ta mệt rồi, ta sẽ ngủ một giấc trên đám cỏ mềm này, trong khi nhúng đuôi xuống con suối nhỏ cạnh đây cho mát. Đầu đuôi ta nóng đỏ lên mỗi khi ta giận hay bị kích động, mà giờ nó đang khá nóng. Ngươi đi đi, nhưng nhớ sáng sớm mai tới đây dẫn đường cho ta tới nhà thờ.
Thầy phó tế mừng rỡ cáo từ, vội vã vào thị trấn. Trước nhà thờ, thầy thấy rất nhiều người đang tụ tập để nghe thầy kể về cuộc gặp với Quái Điểu. Khi biết nó tới không phải để gieo rắc tàn phá, mà chỉ để xem hình đá của mình trên nhà thờ, họ chẳng tỏ ra nhẹ nhõm hay vui mừng gì, mà bắt đầu trách móc thầy phó tế vì đã đồng ý dẫn con quái vật vào thị trấn.
– Tôi làm gì được? – Chàng trai kêu lên. – Nếu tôi không dẫn nó vào, nó sẽ tự đến, và có khi rốt cuộc lại dùng cái đuôi nóng đỏ đốt cả thị trấn.
Dân chúng vẫn không hài lòng, và người ta đề ra rất nhiều kế để ngăn Quái Điểu vào thị trấn. Vài người lớn tuổi giục thanh niên ra giết nó, nhưng thanh niên chế giễu cái ý nghĩ lố bịch ấy. Rồi có người bảo nên phá bức tượng đá đi, để Quái Điểu không có cớ vào thị trấn. Đề nghị này được hưởng ứng đến nỗi nhiều người chạy đi lấy búa, đục và xà beng để giật đổ, đập vỡ con quái điểu bằng đá. Nhưng thầy phó tế dốc hết sức lực cả tinh thần lẫn thể xác để chống lại kế ấy. Thầy cam đoan với dân chúng rằng làm thế sẽ khiến Quái Điểu giận dữ khôn lường, vì không thể giấu nó được chuyện hình của nó đã bị phá trong đêm. Nhưng dân chúng quyết đập vỡ con quái điểu đá đến nỗi thầy phó tế thấy mình chẳng còn cách nào khác hơn là đứng đó bảo vệ nó. Suốt đêm thầy đi tới đi lui trước cửa nhà thờ, ngăn những người mang thang tới định trèo lên con quái điểu đá lớn mà đập nó ra từng mảnh bằng búa và xà beng. Sau nhiều giờ, dân chúng đành bỏ cuộc, về nhà ngủ. Nhưng thầy phó tế vẫn đứng gác cho tới sáng sớm, rồi vội vã ra cánh đồng nơi đã để Quái Điểu nằm.
Con quái vật vừa thức dậy, chống hai chân trước đứng lên, rũ mình, rồi bảo nó đã sẵn sàng vào thị trấn. Thế là thầy phó tế đi bộ trở lại, còn Quái Điểu chầm chậm bay trên không, ngay trên đầu người dẫn đường một quãng ngắn. Ngoài phố không thấy một bóng người. Họ đi thẳng tới trước nhà thờ, và thầy phó tế chỉ cho nó xem con quái điểu đá.
Con Quái Điểu thật đáp xuống khoảng sân nhỏ trước nhà thờ, chăm chú ngắm hình mình được tạc. Nó ngắm rất lâu. Trước tiên nó nghiêng đầu sang bên này, rồi nghiêng sang bên kia. Rồi nó nhắm mắt phải, nhìn bằng mắt trái, sau đó nhắm mắt trái, nhìn bằng mắt phải. Rồi nó dịch sang một bên một chút mà ngắm, rồi lại dịch sang bên kia. Một lúc sau, nó nói với thầy phó tế, người nãy giờ vẫn đứng bên cạnh:
– Đúng là, hẳn là, một bức chân dung tuyệt vời! Khoảng cách rộng giữa hai mắt kia, vầng trán rộng kia, cái hàm đồ sộ kia! Ta cảm thấy nó hẳn phải giống ta. Nếu có chỗ nào chê được, thì là cái cổ có vẻ hơi cứng. Nhưng chẳng hề gì. Đó là một bức chân dung đáng khâm phục, đáng khâm phục!
Quái Điểu ngồi ngắm hình mình suốt buổi sáng và suốt buổi chiều. Thầy phó tế sợ không dám bỏ nó lại mà đi, và suốt ngày cứ mong nó sớm ngắm chán rồi bay về nhà. Nhưng tới tối thì chàng trai tội nghiệp đã kiệt sức, thấy mình phải ăn và ngủ. Thầy thật thà nói điều ấy với Quái Điểu, rồi hỏi nó có muốn ăn chút gì không. Thầy nói thế vì thấy phép lịch sự buộc mình phải nói, nhưng vừa nói xong thầy đã sợ khiếp rằng con quái vật sẽ đòi nửa tá trẻ con, hay một bữa ngon lành nào đó kiểu thế.
– Ồ không, – Quái Điểu nói. – Giữa hai ngày phân, ta không bao giờ ăn. Vào ngày xuân phân và ngày thu phân, ta ăn một bữa no, đủ cho ta nửa năm. Ta cực kỳ điều độ trong nếp sống, và không cho rằng ăn lung tung bất thường là tốt cho sức khoẻ. Nhưng nếu ngươi cần ăn thì cứ đi đi, còn ta sẽ trở lại đám cỏ mềm chỗ ta ngủ đêm qua mà chợp mắt một giấc nữa.
Hôm sau Quái Điểu lại tới khoảng sân nhỏ trước nhà thờ, ở đó tới tối, đăm đăm ngắm con quái điểu đá trên cửa. Thầy phó tế tới xem nó một hai lần, và Quái Điểu có vẻ rất mừng khi gặp thầy. Nhưng chàng giáo sĩ trẻ không thể ở lại như hôm trước, vì có nhiều bổn phận phải làm. Không ai tới nhà thờ cả, nhưng dân chúng tới nhà thầy phó tế, lo lắng hỏi Quái Điểu sẽ ở lại bao lâu.
– Tôi không biết, – thầy đáp. – Nhưng tôi nghĩ nó sẽ sớm ngắm chán hình đá của mình rồi đi thôi.
Nhưng Quái Điểu không đi. Sáng nào nó cũng tới nhà thờ, nhưng một thời gian sau thì không ở đó suốt ngày nữa. Nó có vẻ đã rất quý thầy phó tế, và theo thầy đi khắp nơi trong khi thầy làm đủ mọi việc của mình. Nó chờ thầy ở cửa bên nhà thờ, vì ngày nào thầy phó tế cũng làm lễ sáng và tối, dù giờ chẳng ai tới.
"Nếu có ai tới," thầy tự nhủ, "thì phải thấy mình ở đúng chỗ của mình."
Khi chàng trai ra, Quái Điểu lại đi cùng thầy tới thăm người ốm và người nghèo, và thường nhìn qua cửa sổ ngôi trường nơi thầy phó tế đang dạy đám học trò bướng bỉnh. Mọi trường học khác đều đã đóng cửa, nhưng cha mẹ đám học trò của thầy phó tế bắt chúng phải tới trường, vì chúng hư quá, ở nhà cả ngày thì họ không chịu nổi, có quái điểu hay không cũng vậy. Nhưng phải nói rằng nói chung chúng ngoan hẳn mỗi khi con quái vật khổng lồ ấy ngồi dựng trên đuôi nhìn vào cửa sổ lớp học.
Khi thấy Quái Điểu không có dấu hiệu gì là sẽ đi, những người dân nào đi được đều rời khỏi thị trấn. Các giáo sĩ và những chức sắc cao hơn trong nhà thờ đã bỏ trốn ngay trong ngày đầu Quái Điểu tới, chỉ để lại thầy phó tế và vài người coi cửa, quét dọn nhà thờ. Những người dân có đủ tiền đều đóng cửa nhà, đi tới những vùng xa, chỉ còn lại người lao động và người nghèo. Sau vài ngày, những người này mới dám đi lại làm ăn, vì không làm thì họ sẽ chết đói. Họ đã bắt đầu hơi quen với việc nhìn thấy Quái Điểu, và vì đã được nghe rằng nó không ăn giữa hai ngày phân, nên họ không sợ nó như trước nữa.
Ngày qua ngày, Quái Điểu càng lúc càng quyến luyến thầy phó tế. Phần lớn thời gian nó ở gần thầy, và thường qua đêm trước căn nhà nhỏ nơi chàng giáo sĩ trẻ sống một mình. Tình bạn kỳ lạ ấy nhiều khi là gánh nặng cho thầy phó tế. Nhưng mặt khác, thầy không thể chối rằng mình được lợi và học hỏi được rất nhiều từ nó. Quái Điểu đã sống hàng trăm năm, đã thấy nhiều điều, và kể cho thầy phó tế nghe biết bao chuyện kỳ diệu.
"Như đọc một cuốn sách cổ vậy," chàng giáo sĩ trẻ tự nhủ. "Nhưng mình sẽ phải đọc bao nhiêu cuốn sách mới biết được những điều Quái Điểu đã kể cho mình về đất đai, khí trời, sông nước, về khoáng vật, kim loại, cây cỏ và mọi điều kỳ diệu trên thế gian!"
Cứ thế mùa hè trôi qua, sắp tàn. Và giờ dân thị trấn lại bắt đầu lo lắng rất nhiều.
– Chẳng bao lâu nữa, – họ nói, – là tới ngày thu phân, và lúc ấy con quái vật sẽ muốn ăn. Nó sẽ đói khủng khiếp, vì từ bữa trước tới giờ nó vận động nhiều thế. Nó sẽ ăn thịt con cái chúng ta. Chắc chắn nó sẽ ăn hết. Biết làm sao bây giờ?
Không ai trả lời được câu hỏi ấy, nhưng ai cũng đồng ý rằng không được để Quái Điểu ở lại tới ngày phân sắp tới. Sau khi bàn tán rất nhiều, một đám đông kéo tới nhà thầy phó tế, vào lúc Quái Điểu không ở cùng thầy.
– Tất cả là lỗi của thầy, – họ nói, – khi con quái vật ấy ở giữa chúng tôi. Thầy đã đưa nó tới đây, thì thầy phải lo cho nó đi. Nó ở lại đây chỉ vì thầy thôi, vì dù ngày nào nó cũng tới xem hình của nó, phần lớn thời gian nó ở với thầy. Nếu thầy không ở đây, nó sẽ không ở lại. Bổn phận của thầy là phải đi, thế là nó sẽ theo thầy, và chúng tôi sẽ thoát khỏi mối hoạ khủng khiếp đang treo trên đầu.
– Đi ư! – Thầy phó tế kêu lên, vô cùng đau lòng vì bị nói như thế. – Tôi đi đâu? Nếu tôi tới một thị trấn khác, chẳng phải tôi sẽ mang tai hoạ này tới đó sao? Tôi có quyền làm thế không?
– Không, – dân chúng nói, – thầy không được tới thị trấn nào khác. Chẳng có thị trấn nào đủ xa cả. Thầy phải tới chốn hoang vu đáng sợ nơi Quái Điểu sống. Thế là nó sẽ theo thầy, và ở lại đó.
Họ không nói họ có mong thầy phó tế cũng ở lại đó luôn hay không, và thầy cũng chẳng hỏi họ gì về chuyện ấy. Thầy cúi đầu, vào nhà suy nghĩ. Càng nghĩ, thầy càng thấy rõ rằng bổn phận của mình là phải ra đi, và nhờ thế giải thoát thị trấn khỏi Quái Điểu.
Tối hôm ấy thầy xếp đầy bánh mì và thịt vào một cái túi da, và sáng sớm hôm sau, thầy lên đường tới chốn hoang vu đáng sợ. Đó là một chuyến đi dài, mệt mỏi và buồn thảm, nhất là sau khi đã đi quá những nơi có người ở. Nhưng thầy phó tế vẫn dũng cảm đi tiếp, không hề nao núng. Đường dài hơn thầy tưởng, và lương thực chẳng mấy chốc vơi đi, đến nỗi mỗi ngày thầy chỉ được ăn một chút. Nhưng thầy vẫn giữ vững tinh thần, gắng đi tiếp, và sau nhiều ngày đi đường vất vả, thầy đã tới chốn hoang vu đáng sợ.
— Hết chương 1 —
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi