Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Con sói

của Guy de Maupassant

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 10.752 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Đây là chuyện ông lão hầu tước Đác-vin kể…
  2. 1:28Trong tim họ có niềm đam mê khủng khiếp,…
  3. 2:54Thế rồi vào khoảng giữa mùa đông năm một…
  4. 4:36Cuối cùng, cả hai, tức tối và buồn bã,…
  5. 5:11Ông chưa nói dứt lời thì ngựa của ông…
  6. 7:17Và đột nhiên, trên con đường mòn đang bị…
  7. 9:03Rồi ông lao vào con quái vật. Ông cảm…
  8. 10:11"Giá mà anh Giăng tội nghiệp được nhìn thấy…

Đây là chuyện ông lão hầu tước Đác-vin kể cho chúng tôi nghe vào cuối bữa tiệc lễ thánh Huy-be, ở nhà ông nam tước Đê Ra-ven.

Ban ngày người ta đã săn được một con hươu. Ông hầu tước là người duy nhất trong số khách không tham gia cuộc săn đuổi ấy, vì ông chẳng bao giờ đi săn.

Suốt bữa tiệc lớn, người ta hầu như chỉ nói chuyện tàn sát muông thú. Ngay cả các bà cũng thích thú với những câu chuyện đẫm máu và thường là khó tin, còn những người kể thì diễn lại những cuộc tấn công, những trận giao chiến giữa người với thú, giơ tay lên, kể bằng giọng sang sảng.

Ông Đác-vin nói hay, với một thứ chất thơ hơi kêu, nhưng rất có hiệu quả. Hẳn là ông đã kể đi kể lại chuyện này nhiều lần, vì ông kể trôi chảy, chẳng ngập ngừng ở những chữ được chọn khéo léo để gợi hình.

"Thưa các ông, tôi chưa bao giờ đi săn, bố tôi cũng không, ông nội tôi cũng không, và ông cố tôi cũng không nốt. Ông cố tôi là con của một người đã săn bắn nhiều hơn tất cả các ông. Người ấy chết năm một nghìn bảy trăm sáu mươi tư. Tôi sẽ kể các ông nghe ông ấy chết thế nào.

Ông tên là Giăng, có vợ, là bố của đứa bé sau này là ông cố của tôi, và ông sống cùng em trai, Phrăng-xoa Đác-vin, trong toà lâu đài của dòng họ chúng tôi ở xứ Lo-ren, giữa rừng sâu.

Phrăng-xoa Đác-vin ở vậy không lấy vợ, vì mê săn.

Cả hai anh em săn quanh năm suốt tháng, không nghỉ, không ngừng, không biết mệt. Họ chỉ yêu có thế, chẳng hiểu gì khác, chẳng nói gì khác, chỉ sống vì có thế.

Trong tim họ có niềm đam mê khủng khiếp, không gì lay chuyển ấy. Nó đốt cháy họ, đã xâm chiếm toàn bộ con người họ, không chừa chỗ cho bất cứ thứ gì khác.

Họ cấm không ai được làm phiền họ khi đang săn, vì bất cứ lý do gì. Ông cố của tôi ra đời trong lúc bố ông đang đuổi theo một con cáo. Ông Giăng Đác-vin không hề dừng cuộc săn, chỉ chửi thề:

"Mẹ kiếp, cái thằng ranh ấy đáng lẽ phải đợi tới lúc con cáo bị hạ đã chứ!"

Em trai ông, Phrăng-xoa, còn hăng hơn ông nữa. Vừa thức dậy, ông đã đi xem chó, rồi xem ngựa, rồi bắn chim quanh lâu đài cho tới lúc lên đường săn một con thú lớn nào đó.

Trong vùng người ta gọi họ là ngài Hầu tước và ngài Cậu Út. Vì giới quý tộc hồi ấy không làm như giới quý tộc vớ vẩn thời nay, muốn lập ra trong các tước hiệu một thứ bậc từ trên xuống. Con trai một hầu tước chẳng phải là bá tước, con trai một tử tước chẳng phải là nam tước, cũng như con trai một ông tướng chẳng sinh ra đã là đại tá. Nhưng cái thói háo danh nhỏ nhen ngày nay lại thấy được lợi trong cách sắp xếp ấy.

Tôi quay lại chuyện tổ tiên tôi.

Nghe nói họ cao lớn quá cỡ, xương xẩu, lông lá, hung bạo và khoẻ mạnh. Người em còn cao hơn cả người anh, có một giọng nói vang dội tới mức, theo một truyền thuyết mà ông rất lấy làm tự hào, hễ ông quát lên là lá cây khắp khu rừng đều rung rinh.

Và mỗi khi hai anh em cùng lên yên đi săn, hẳn là một cảnh tượng tuyệt vời khi nhìn hai gã khổng lồ ấy nhảy lên lưng những con ngựa lớn của mình.

Thế rồi vào khoảng giữa mùa đông năm một nghìn bảy trăm sáu mươi tư ấy, trời rét quá mức, và chó sói trở nên hung dữ.

Chúng tấn công cả những người nông dân về muộn, lảng vảng quanh nhà cửa ban đêm, tru từ lúc mặt trời lặn cho tới lúc mặt trời mọc, và làm vơi đi những chuồng trại.

Và chẳng bao lâu có một tin đồn lan ra. Người ta nói tới một con sói khổng lồ, lông xám, gần như trắng, đã ăn thịt hai đứa trẻ, đã ngấu nghiến cánh tay một người đàn bà, đã cắn chết tất cả chó giữ nhà trong vùng, và cứ không chút sợ hãi lẻn vào các khu vườn rào kín, tới ngửi hít dưới khe cửa. Dân chúng ai cũng quả quyết đã cảm thấy hơi thở của nó làm chao đi ngọn đèn. Và chẳng bao lâu một cơn hoảng loạn lan khắp cả tỉnh. Hễ trời tối là không ai dám ra ngoài nữa. Bóng đêm như bị hình ảnh con thú ấy ám ảnh.

Anh em nhà Đác-vin quyết định tìm cho ra nó mà giết đi, và họ mời tất cả các nhà quý tộc trong vùng tới dự những cuộc săn lớn.

Vô ích. Người ta có lùng sục các khu rừng, có bới tung các bụi rậm cũng chẳng bao giờ gặp nó. Người ta giết được nhiều sói, nhưng không phải con ấy. Và đêm nào sau cuộc vây lùng, con vật, như để trả thù, lại tấn công một người lữ khách nào đó hay ăn thịt một con gia súc nào đó, lúc nào cũng ở thật xa nơi người ta đã tìm nó.

Cuối cùng một đêm, nó lẻn vào chuồng lợn của lâu đài Đác-vin và ăn thịt hai con lợn đẹp nhất.

Hai anh em giận sôi lên, coi cuộc tấn công ấy là một sự khiêu khích của con quái vật, một sự xúc phạm thẳng mặt, một lời thách thức. Họ mang theo tất cả những con chó săn khoẻ nhất, đã quen truy đuổi những con thú dữ, rồi lên đường săn, lòng sôi sục căm giận.

Từ lúc rạng đông cho tới khi mặt trời đỏ ối lặn xuống sau những hàng cây lớn trơ trụi, họ lùng sục các bụi rậm mà chẳng tìm thấy gì.

Cuối cùng, cả hai, tức tối và buồn bã, cho ngựa đi bước một trở về theo một con đường viền bụi cây hai bên, lấy làm lạ vì tài nghệ của mình bị con sói ấy đánh lừa, và bỗng thấy một thứ sợ hãi bí ẩn xâm chiếm.

Người anh nói:

"Con vật này không phải thường đâu. Cứ như là nó suy nghĩ như người ấy."

Người em đáp:

"Có lẽ phải nhờ ông anh họ giám mục của chúng ta làm phép một viên đạn, hay nhờ một vị linh mục nào đó đọc những câu cần đọc."

Rồi họ im lặng.

Ông Giăng nói tiếp:

"Nhìn mặt trời xem, đỏ thế kia. Đêm nay con sói lớn sẽ gây ra tai hoạ gì đây."

Ông chưa nói dứt lời thì ngựa của ông chồm lên, còn ngựa của Phrăng-xoa thì đá hậu. Một bụi cây lớn phủ đầy lá khô mở ra trước mặt họ, và một con thú khổng lồ, xám toàn thân, vọt ra, phóng qua rừng.

Cả hai cùng gầm gừ lên một tiếng vui sướng, rồi cúi rạp xuống cổ những con ngựa to nặng, dồn cả thân mình thúc chúng lao về phía trước, phóng chúng đi hết tốc lực, thúc giục chúng, lôi cuốn chúng, làm chúng phát cuồng bằng giọng nói, bằng cử chỉ, bằng cựa thúc ngựa, tới mức những kỵ sĩ khoẻ mạnh ấy như đang kẹp những con vật nặng nề giữa hai đùi mà nhấc bổng chúng lên, như thể họ đang bay.

Họ cứ thế phi như bay, phá tan những bụi rậm, vượt qua những khe núi, leo lên những sườn dốc, lao xuống những hẻm sâu, và thổi tù và hết cỡ phổi để gọi người và chó của mình tới.

Thế rồi bỗng nhiên, trong cuộc phi ngựa cuồng loạn ấy, ông tổ của tôi đâm trán vào một cành cây to tướng làm vỡ toác sọ. Và ông ngã vật xuống đất, chết ngay, trong khi con ngựa hoảng loạn của ông phóng đi, biến mất vào bóng tối đang bao trùm những cánh rừng.

Người em nhà Đác-vin dừng phắt lại, nhảy xuống đất, ôm lấy anh, và thấy óc chảy ra từ vết thương cùng với máu.

Thế là ông ngồi xuống bên cái xác, đặt lên đầu gối cái đầu đỏ lòm méo mó, và ông chờ đợi, ngắm nhìn khuôn mặt bất động của người anh. Dần dần một nỗi sợ xâm chiếm ông, một nỗi sợ lạ lùng mà ông chưa bao giờ cảm thấy, nỗi sợ bóng tối, nỗi sợ cô đơn, nỗi sợ khu rừng vắng vẻ, và cả nỗi sợ con sói kỳ quái vừa giết anh mình để trả thù họ.

Bóng tối mỗi lúc một dày đặc, cái rét cắt da làm cây cối nứt răng rắc. Phrăng-xoa đứng dậy, run lẩy bẩy, không thể ở lại đó lâu hơn nữa, cảm thấy mình gần như sắp ngất đi. Chẳng còn nghe thấy gì nữa, cả tiếng chó lẫn tiếng tù và, tất cả đều câm lặng khắp chân trời vô hình. Và sự im lặng ảm đạm của buổi tối băng giá ấy có một cái gì đáng sợ và kỳ lạ.

Ông dùng đôi bàn tay khổng lồ nâng tấm thân to lớn của Giăng lên, dựng nó dậy rồi đặt nó nằm vắt ngang trên yên ngựa để mang về lâu đài. Rồi ông chậm rãi lên đường, đầu óc rối bời như người say, bị những hình ảnh khủng khiếp và kỳ lạ đuổi theo.

Và đột nhiên, trên con đường mòn đang bị bóng đêm xâm lấn, một cái bóng lớn đi qua. Đó là con thú. Một cơn kinh hoàng làm người thợ săn rung lên. Một thứ gì lạnh lẽo như một giọt nước trượt dọc sống lưng ông, và ông làm một dấu thánh giá lớn, như một thầy tu bị quỷ ám, hoảng loạn trước sự trở lại đột ngột của kẻ rình mò đáng sợ. Nhưng mắt ông lại rơi xuống cái xác bất động nằm trước mặt, và bỗng nhiên, chuyển phắt từ sợ hãi sang giận dữ, ông run lên vì một cơn thịnh nộ không sao kìm được.

Thế là ông thúc ngựa lao theo con sói.

Ông đuổi theo nó qua những lùm cây, những khe núi và những rừng cây cao, băng qua những khu rừng mà ông không còn nhận ra nữa, mắt dán vào vệt trắng đang chạy trốn trong màn đêm đã phủ xuống mặt đất.

Con ngựa của ông dường như cũng được tiếp thêm một sức mạnh và một nhiệt huyết lạ thường. Nó phi nước đại, cổ vươn dài, thẳng về phía trước, làm cái đầu và đôi chân của người chết vắt ngang trên yên va vào cây cối, vào đá tảng. Bụi gai giật đứt những sợi tóc. Vầng trán đập vào những thân cây to tướng, làm máu bắn tung toé lên chúng. Đôi cựa thúc ngựa xé toạc từng mảng vỏ cây.

Và bỗng nhiên, con thú và người kỵ sĩ ra khỏi rừng, lao xuống một thung lũng nhỏ, đúng lúc vầng trăng đỏ hiện ra trên những đỉnh núi. Thung lũng ấy đầy đá, bị những tảng đá khổng lồ vây kín, không có lối thoát nào. Và con sói bị dồn vào đường cùng quay lại.

Thế là Phrăng-xoa rú lên một tiếng mừng rỡ, tiếng vang dội lại như một tràng sấm, rồi ông nhảy xuống ngựa, tay cầm con dao săn.

Con thú dựng lông, cong lưng, chờ ông. Mắt nó sáng rực như hai ngôi sao. Nhưng trước khi xông vào trận đánh, người thợ săn khoẻ mạnh ôm lấy anh mình, đặt anh ngồi lên một tảng đá, lấy đá chèn đỡ cái đầu giờ chỉ còn là một vết máu, rồi gào vào tai anh, như thể đang nói với một người điếc:

"Nhìn này, Giăng, nhìn đây này!"

Rồi ông lao vào con quái vật. Ông cảm thấy mình đủ sức lật đổ cả một ngọn núi, bóp nát đá trong tay. Con thú định cắn ông, tìm cách xé bụng ông. Nhưng ông đã túm lấy cổ nó, thậm chí chẳng cần dùng tới vũ khí, và ông bóp cổ nó từ từ, lắng nghe hơi thở trong cổ họng nó và nhịp đập trong tim nó dần ngừng lại. Và ông cười, sướng điên cuồng, mỗi lúc một siết chặt hơn vòng tay ghê gớm của mình, vừa gào lên trong cơn mê sảng vui sướng:

"Nhìn này, Giăng, nhìn này!"

Mọi sự chống cự đều ngừng hẳn. Thân con sói mềm nhũn ra. Nó đã chết.

Thế là Phrăng-xoa ôm lấy nó bằng cả hai tay, mang nó tới quăng dưới chân người anh, nhắc đi nhắc lại bằng một giọng âu yếm:

"Đây, đây, đây này, Giăng bé bỏng của em, nó đây này!"

Rồi ông đặt lại hai cái xác chồng lên nhau trên yên ngựa, và lại lên đường.

Ông trở về lâu đài, vừa cười vừa khóc, như ông khổng lồ Gác-găng-tuy-a hôm con trai Păng-ta-gruy-en ra đời, vừa reo hò đắc thắng, vừa giậm chân hoan hỉ khi kể chuyện con thú chết, lại vừa rên rỉ và giật râu mình khi kể cái chết của anh.

Và về sau, nhiều lần nhắc lại ngày hôm ấy, ông lại nói, nước mắt lưng tròng:

"Giá mà anh Giăng tội nghiệp được nhìn thấy tôi bóp cổ con kia, thì anh ấy đã chết mãn nguyện, tôi tin chắc thế!"

Bà goá của ông tổ tôi đã truyền cho đứa con trai mồ côi nỗi ghê sợ săn bắn, và nỗi ghê sợ ấy đã truyền từ đời cha sang đời con cho tới tận tôi."

Hầu tước Đác-vin im lặng. Có người hỏi:

"Câu chuyện này là truyền thuyết, phải không ông?"

Và người kể chuyện đáp:

"Tôi thề với các ông là nó có thật từ đầu tới cuối."

Thế là một bà cất giọng nhỏ nhẹ dịu dàng tuyên bố:

"Dù sao thì có được những đam mê như thế cũng đẹp đấy chứ."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Loup, 1882, tập Clair de lune, 1884
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →