Tháng ba năm một nghìn tám trăm chín mươi hai, tôi nghỉ một tháng ở Măng-tông, trên bờ biển Ri-vi-ê-ra. Ở chốn hẻo lánh này, người ta được hưởng riêng tất cả những gì người ta hưởng công khai ở Môn-tê Các-lô và Ni-xơ, cách đó vài dặm. Nghĩa là được hưởng nắng chan hoà, khí trời êm dịu, biển xanh biếc rực rỡ, mà không bị phá hỏng bởi cái ồn ào, rộn rịp, xa hoa, phô trương của con người. Măng-tông yên tĩnh, giản dị, thư thái, không làm dáng. Người giàu và người thích phô trương không tới đây. Ý tôi là, nói chung người giàu không tới đây. Thỉnh thoảng cũng có một người giàu tới, và chẳng bao lâu tôi quen một người như thế. Để che giấu ông phần nào, tôi sẽ gọi ông là Xmít.
Một hôm, trong khách sạn Người Anh, vào bữa ăn sáng thứ hai, ông bỗng kêu lên:
“Nhanh lên! Nhìn người đàn ông đang đi ra cửa kia kìa. Ghi nhớ từng chi tiết của ông ta.”
“Sao thế?”
“Anh có biết ông ta là ai không?”
“Có. Ông ấy ở đây mấy hôm trước khi ông tới. Nghe nói là một chủ xưởng tơ lụa ở Ly-ông, già, đã nghỉ, rất giàu. Tôi đoán ông ấy chẳng còn ai thân thích trên đời, vì lúc nào trông ông cũng buồn bã, mơ màng, không nói chuyện với ai. Tên ông ấy là Tê-ô-phin Ma-nhăng.”
Tôi tưởng ông Xmít sẽ giải thích vì sao ông quan tâm tới ông Ma-nhăng nhiều đến thế. Nhưng không, ông chìm vào suy tư, và dường như trong mấy phút liền, ông quên mất tôi và cả thế giới xung quanh. Thỉnh thoảng ông lại luồn ngón tay vào mái tóc bạc mềm như tơ cho dễ nghĩ, trong khi bữa sáng cứ nguội dần. Cuối cùng ông nói:
“Không, mất rồi. Tôi không nhớ lại được.”
“Không nhớ lại được cái gì?”
“Một trong những truyện ngắn tuyệt đẹp của An-đéc-xen. Nhưng tôi quên mất rồi. Có một đoạn thế này: một đứa trẻ có con chim nhốt trong lồng. Nó yêu con chim, nhưng vô tâm bỏ bê. Con chim cất tiếng hót mà chẳng ai nghe, chẳng ai để ý. Rồi dần dà, đói khát hành hạ con vật, tiếng hót của nó thành ai oán, yếu ớt, rồi tắt hẳn. Con chim chết. Đứa trẻ tới, lòng đau như cắt vì hối hận. Rồi trong nước mắt cay đắng, tiếng than khóc thảm thiết, nó gọi bạn bè tới, và chúng chôn cất con chim với nghi lễ trọng thể, với nỗi đau thương dịu dàng nhất. Chúng không biết, tội nghiệp, rằng chẳng riêng gì trẻ con mới để các nhà thơ chết đói, rồi bỏ ra cho đám ma và tượng đài của họ số tiền lẽ ra đủ để họ sống, sống sung túc, dễ chịu. Còn bây giờ...”
Nhưng tới đây thì chúng tôi bị ngắt lời.
Khoảng mười giờ tối hôm ấy, tôi gặp ông Xmít. Ông mời tôi lên phòng khách riêng của ông, hút thuốc và uống rượu uýt-ki pha nước nóng cho vui. Đó là một chốn ấm cúng, với những chiếc ghế êm ái, những ngọn đèn vui mắt, và một lò sưởi để ngỏ thân thiện, đốt củi ô-liu khô. Để mọi thứ thật trọn vẹn, ngoài kia còn có tiếng sóng ầm ì vọng lại. Sau cốc uýt-ki thứ hai và một hồi chuyện trò lười biếng, mãn nguyện, ông Xmít nói:
“Giờ thì cả hai ta đã đủ men rồi. Tôi đủ men để kể một câu chuyện kỳ lạ, còn anh đủ men để nghe. Đó là một bí mật đã nhiều năm, bí mật giữa tôi và ba người khác. Nhưng giờ tôi sẽ phá niêm phong. Anh ngồi thoải mái chưa?”
“Hoàn toàn thoải mái. Ông kể đi.”
Sau đây là những gì ông kể với tôi:
“Ngày xưa, tôi là một hoạ sĩ trẻ, thật ra là rất trẻ. Tôi lang thang khắp các vùng quê nước Pháp, vẽ chỗ này một chút, vẽ chỗ kia một chút. Chẳng bao lâu có hai chàng trai Pháp dễ thương nhập bọn với tôi, họ cũng đang làm cái việc như tôi. Chúng tôi nghèo bao nhiêu thì vui bấy nhiêu, hay vui bao nhiêu thì nghèo bấy nhiêu, anh muốn nói thế nào thì tuỳ. Clốt Phre và Các Bu-lăng-giê, tên hai cậu ấy là thế. Hai cậu bạn thân yêu, thân yêu vô cùng, những tâm hồn tươi sáng nhất từng cười vào mặt cái nghèo, và sống vui vẻ đàng hoàng trong mọi hoàn cảnh.
Cuối cùng chúng tôi mắc cạn hẳn ở một làng nhỏ vùng Brơ-ta-nhơ. Ở đó có một hoạ sĩ cũng nghèo như chúng tôi cưu mang chúng tôi, cứu chúng tôi khỏi chết đói theo đúng nghĩa đen. Đó là Phrăng-xoa Mi-lê.”
“Sao cơ! Phrăng-xoa Mi-lê vĩ đại ấy à?”
“Vĩ đại à? Hồi ấy anh ta có vĩ đại hơn chúng tôi tí nào đâu. Anh ta chẳng có chút danh tiếng nào, kể cả ở làng mình. Anh ta nghèo tới mức chẳng có gì nuôi chúng tôi ngoài củ cải, mà có lúc đến củ cải cũng hết. Bốn chúng tôi trở thành bạn thân, bạn chí cốt, không thể rời nhau. Chúng tôi cùng nhau vẽ, vẽ hết sức mình, chất hàng thành đống, chất hàng thành đống, nhưng hiếm khi bán được bức nào. Chúng tôi có những ngày thật đẹp bên nhau. Nhưng ôi trời ơi, thỉnh thoảng chúng tôi túng quẫn biết chừng nào!
Chuyện ấy kéo dài hơn hai năm một chút. Cuối cùng, một hôm, Clốt nói:
‘Các cậu ơi, chúng mình tới đường cùng rồi. Các cậu hiểu chưa? Hoàn toàn tới đường cùng. Ai cũng đình công hết rồi, người ta lập cả một liên minh chống lại chúng mình. Tớ đã đi khắp làng, đúng như tớ nói đấy. Họ không cho chịu thêm một xu nào nữa, chừng nào chưa trả hết nợ lặt vặt.’
Chúng tôi nghe mà lạnh người. Mặt ai cũng thộn ra vì thất vọng. Chúng tôi nhận ra hoàn cảnh của mình giờ đã tuyệt vọng thật rồi. Một hồi im lặng kéo dài. Cuối cùng Mi-lê thở dài:
‘Tớ chẳng nghĩ ra được gì, chẳng nghĩ ra gì cả. Các cậu gợi ý gì đi.’
Không ai đáp, trừ phi một sự im lặng buồn thảm cũng được gọi là câu trả lời. Các đứng dậy, đi đi lại lại một lúc, bồn chồn, rồi nói:
‘Thật là nhục nhã! Nhìn đống tranh này mà xem, chồng chất bao nhiêu bức tranh đẹp chẳng kém bất cứ ai ở châu Âu vẽ, dù người ấy là ai cũng mặc. Phải, mà khối người lạ đi ngang qua cũng đã nói thế, hay gần như thế.’
Mi-lê nói: ‘Nhưng họ có mua đâu.’
‘Mặc kệ, họ đã nói thế, mà điều ấy cũng đúng nữa. Nhìn bức Kinh chiều của cậu kia kìa! Có ai bảo tớ được rằng...’
‘Chà, Các ơi, bức Kinh chiều của tớ! Có người trả tớ năm phrăng đấy.’
‘Bao giờ?’
‘Ai trả?’
‘Người ấy đâu rồi?’
‘Sao cậu không bán?’
‘Thôi nào, đừng nói cùng một lúc thế. Tớ tưởng ông ta sẽ trả cao hơn. Tớ chắc chắn thế, trông ông ta có vẻ thế. Nên tớ đòi tám phrăng.’
‘Rồi sao nữa?’
‘Ông ta bảo sẽ quay lại.’
‘Sấm sét ơi! Này, Phrăng-xoa...’
‘Ôi, tớ biết, tớ biết! Tớ sai rồi, tớ ngốc quá. Các cậu ơi, tớ chỉ muốn tốt cho cả bọn thôi, các cậu công nhận cho tớ thế, và tớ...’
‘Ơ, dĩ nhiên rồi, bọn tớ biết mà, cầu Trời phù hộ cho trái tim thân yêu của cậu. Nhưng cậu đừng ngốc thêm lần nữa nhé.’
‘Tớ á? Giá mà bây giờ có ai tới trả cho bức ấy một cái bắp cải, các cậu cứ xem!’
‘Bắp cải! Ôi, đừng nhắc tới, nghe chảy cả nước miếng. Nói chuyện gì đỡ khổ hơn đi.’
Các nói: ‘Các cậu ơi, tranh này có thiếu giá trị không? Trả lời tớ đi.’
‘Không!’
‘Có phải chúng có giá trị rất lớn, rất cao không? Trả lời tớ đi.’
‘Phải.’
‘Giá trị lớn và cao tới mức, nếu gắn vào đó một cái tên lừng lẫy, thì chúng sẽ bán được giá rất hời. Có phải thế không?’
‘Dĩ nhiên là thế. Chẳng ai nghi ngờ điều đó.’
‘Nhưng mà, tớ không đùa đâu nhé, có phải thế không?’
‘Ơ kìa, dĩ nhiên là thế, mà bọn tớ cũng có đùa đâu. Nhưng thế thì sao? Thế thì sao? Chuyện ấy dính gì tới chúng mình?’
‘Dính thế này, các đồng chí ạ: chúng mình sẽ gắn một cái tên lừng lẫy vào chúng!’
Cuộc chuyện trò sôi nổi ngừng bặt. Những gương mặt quay sang nhìn Các dò hỏi. Câu đố gì thế này? Mượn đâu ra một cái tên lừng lẫy? Mà ai sẽ đi mượn?
Các ngồi xuống, nói:
‘Bây giờ, tớ có một đề nghị hoàn toàn nghiêm túc. Tớ nghĩ đây là cách duy nhất để chúng mình khỏi phải vào trại tế bần, và tớ tin đây là một cách hoàn toàn chắc ăn. Tớ dựa ý kiến này vào vô số sự thật đã được xác lập từ lâu trong lịch sử loài người. Tớ tin kế hoạch của tớ sẽ làm cả bọn giàu to.’
‘Giàu to! Cậu mất trí rồi.’
‘Không, tớ không mất trí.’
‘Có, cậu mất trí rồi. Cậu gọi thế nào là giàu?’
‘Mỗi người một trăm nghìn phrăng.’
‘Nó mất trí rồi. Tớ biết mà.’
‘Phải, nó mất trí thật. Các ơi, cảnh thiếu thốn đã quá sức cậu rồi, và...’
‘Các này, cậu nên uống viên thuốc rồi lên giường ngủ ngay đi.’
‘Băng nó lại trước đã. Băng đầu nó lại, rồi...’
‘Không, băng gót chân nó ấy. Óc nó tụt dần xuống đấy mấy tuần nay rồi, tớ để ý thấy mà.’
Mi-lê nói, làm ra vẻ nghiêm khắc: ‘Im hết đi! Để thằng bé nói đã. Nào, Các, nói kế hoạch của cậu ra đi. Là cái gì?’
‘Được, vậy thì, để mở đầu, tớ đề nghị các cậu lưu ý sự thật này trong lịch sử loài người: tài năng của biết bao nghệ sĩ vĩ đại không bao giờ được công nhận cho tới khi họ chết đói, chết hẳn. Chuyện này xảy ra thường xuyên tới mức tớ dám lấy nó làm một định luật. Định luật thế này: tài năng của mọi nghệ sĩ vĩ đại vô danh, bị bỏ rơi, nhất định phải được công nhận, và tranh của họ sẽ lên giá cao, sau khi họ chết. Kế hoạch của tớ là thế này: chúng mình phải bốc thăm, một người trong chúng mình phải chết.’
Câu nói rơi xuống điềm tĩnh và bất ngờ tới mức chúng tôi suýt quên cả giật mình. Rồi lại một tràng khuyên nhủ ầm ĩ, toàn khuyên về y khoa, để giúp bộ óc của Các. Nhưng cậu kiên nhẫn chờ cho trận cười lắng xuống, rồi nói tiếp kế hoạch của mình:
‘Phải, một người trong chúng mình phải chết, để cứu những người còn lại, và cứu cả chính mình. Chúng mình sẽ bốc thăm. Người được chọn sẽ thành người lừng lẫy, còn tất cả chúng mình sẽ giàu. Ngồi yên nào, ngồi yên. Đừng ngắt lời. Tớ nói cho các cậu biết, tớ biết tớ đang nói gì.
Ý tưởng là thế này. Trong ba tháng tới, người sắp chết sẽ vẽ hết sức mình, tăng số tranh nhiều hết mức có thể. Không phải tranh đâu, không! Mà là phác thảo sơ sài, bài nghiên cứu, mẩu nghiên cứu, mảnh vụn nghiên cứu, mỗi tấm vài chục nét cọ quệt qua. Dĩ nhiên là vô nghĩa, nhưng là của anh ấy, có ký hiệu chữ ký của anh ấy. Mỗi ngày làm ra năm chục tấm, tấm nào cũng có một nét riêng, một thói tay dễ nhận ra là của anh ấy. Những thứ ấy mới bán được, các cậu biết đấy. Sau khi vĩ nhân mất đi, chúng được các bảo tàng trên thế giới sưu tập với giá hoang đường. Chúng mình sẽ chuẩn bị sẵn cả tấn, cả tấn!
Còn trong suốt thời gian ấy, những người còn lại sẽ bận rộn nuôi người sắp chết, và vận động ở Pa-ri, vận động đám lái buôn tranh, chuẩn bị cho sự kiện sắp tới, các cậu hiểu chứ. Rồi khi mọi thứ đã nóng hổi, vừa chín tới, chúng mình tung tin cái chết ra, và tổ chức một đám tang lẫy lừng. Các cậu hiểu ý chưa?’
‘Chưa, ít ra là chưa hiểu hẳn...’
‘Chưa hiểu hẳn à? Các cậu không thấy sao? Người ấy không chết thật. Anh ấy đổi tên rồi biến mất. Chúng mình chôn một hình nộm, rồi khóc lóc thảm thiết, cả thế giới khóc cùng. Và tớ...’
Nhưng cậu ấy không được nói hết câu. Cả bọn vỡ oà trong một tràng hoan hô vang dội. Ai cũng nhảy dựng lên, nhảy nhót quanh phòng, ôm cổ nhau, ngây ngất vì biết ơn và sung sướng. Chúng tôi bàn bạc kế hoạch vĩ đại ấy hàng mấy tiếng đồng hồ, chẳng hề thấy đói. Cuối cùng, khi mọi chi tiết đã được thu xếp ổn thoả, chúng tôi bốc thăm, và Mi-lê trúng cử. Trúng cử để chết, như chúng tôi vẫn gọi.
Rồi chúng tôi gom góp những thứ mà người ta không bao giờ rời tay, cho tới khi đem chúng ra đặt cược cho sự giàu có tương lai, tức là những món kỷ vật và những thứ tương tự. Chúng tôi đem cầm, được đủ tiền cho một bữa tối chia tay và một bữa sáng đạm bạc, còn dư vài phrăng làm lộ phí, và một ít củ cải các thứ để Mi-lê sống được dăm ngày.
Sáng sớm hôm sau, ăn sáng xong, ba chúng tôi lập tức lên đường, dĩ nhiên là đi bộ. Mỗi người mang theo một tá tranh nhỏ của Mi-lê, định đem đi bán. Các nhắm thẳng tới Pa-ri, nơi cậu sẽ bắt đầu công việc xây dựng tên tuổi cho Mi-lê, chuẩn bị cho ngày trọng đại sắp tới. Clốt và tôi thì chia nhau, toả đi khắp nước Pháp.
Bây giờ anh sẽ ngạc nhiên khi biết chúng tôi làm ăn dễ dàng, thoải mái tới mức nào. Tôi đi bộ hai ngày rồi mới bắt đầu làm ăn. Rồi tôi ngồi vẽ một biệt thự ở ngoại ô một thị trấn lớn, vì tôi thấy ông chủ nhà đang đứng ở hiên trên. Ông ta đi xuống xem tôi vẽ, đúng như tôi đoán. Tôi vẽ thật nhanh, định giữ cho ông ta chú ý. Thỉnh thoảng ông ta buột ra một tiếng trầm trồ tán thưởng. Một lúc sau ông ta hăng hái lên tiếng, bảo tôi là bậc thầy!
Tôi đặt cọ xuống, thò tay vào túi, lôi ra một bức Mi-lê, chỉ vào ký hiệu chữ ký ở góc tranh, và nói đầy kiêu hãnh:
‘Chắc ông nhận ra cái này chứ? Đấy, chính ông ấy dạy tôi! Tôi nghĩ tôi cũng phải biết nghề chứ!’
Người đàn ông có vẻ lúng túng như kẻ có tội, và im lặng. Tôi buồn rầu nói:
‘Chẳng lẽ ông định bảo ông không biết chữ ký của Phrăng-xoa Mi-lê!’
Dĩ nhiên ông ta không biết chữ ký ấy. Nhưng dù sao ông ta cũng là người biết ơn nhất mà anh từng thấy, vì được gỡ khỏi một tình thế khó xử một cách dễ dàng như thế. Ông nói:
‘Không! Ơ, đúng là của Mi-lê thật rồi! Chẳng hiểu vừa nãy tôi nghĩ gì nữa. Dĩ nhiên bây giờ thì tôi nhận ra rồi.’
Tiếp đó ông muốn mua bức tranh. Nhưng tôi bảo tuy tôi không giàu, nhưng cũng chưa nghèo tới mức ấy. Tuy vậy, cuối cùng tôi để lại cho ông với giá tám trăm phrăng.”
“Tám trăm cơ à!”
“Phải. Mi-lê thì sẵn sàng bán nó lấy một miếng sườn lợn. Phải, tôi lấy được tám trăm phrăng cho cái thứ nhỏ xíu ấy. Bây giờ tôi chỉ mong mua lại được nó với giá tám mươi nghìn. Nhưng thời ấy qua rồi. Tôi vẽ một bức rất đẹp về ngôi nhà của người đàn ông ấy, và định bán cho ông ta mười phrăng. Nhưng thế thì không ổn, vì tôi là học trò của một bậc thầy như thế, nên tôi bán cho ông ta một trăm. Tôi gửi ngay tám trăm phrăng từ thị trấn ấy về cho Mi-lê, rồi hôm sau lại lên đường.
Nhưng tôi không đi bộ nữa, không. Tôi đi xe. Từ đó tới giờ tôi toàn đi xe. Mỗi ngày tôi bán một bức tranh, chẳng bao giờ cố bán hai. Lúc nào tôi cũng bảo khách hàng:
‘Tôi thật là ngốc khi bán một bức tranh của Phrăng-xoa Mi-lê. Vì ông ấy không sống nổi ba tháng nữa đâu, và khi ông ấy mất rồi, có trả bao nhiêu tiền, có van nài thế nào cũng chẳng mua được tranh của ông ấy nữa.’
Tôi cẩn thận loan cái sự thật nho nhỏ ấy đi xa hết mức có thể, để chuẩn bị cho thiên hạ đón sự kiện.
Tôi xin nhận công về cái kế bán tranh của chúng tôi, đó là ý của tôi. Tôi đã gợi ý nó trong buổi tối cuối cùng, khi chúng tôi vạch chiến dịch. Cả ba đều đồng ý thử nó một cách nghiêm túc trước khi bỏ để tìm cách khác. Nó thành công với cả ba người. Tôi chỉ đi bộ có hai ngày, Clốt cũng hai ngày, cả hai đều sợ làm Mi-lê nổi tiếng quá gần nhà. Còn Các chỉ đi bộ có nửa ngày, cái thằng ranh mãnh, sáng dạ, vô lương tâm ấy, sau đó nó đi lại như một ông công tước.
Thỉnh thoảng chúng tôi lại làm quen với một ông chủ bút báo tỉnh, rồi tung một mẩu tin đi khắp các báo. Không phải mẩu tin loan báo đã phát hiện ra một hoạ sĩ mới, mà là mẩu tin làm như thể ai cũng biết Phrăng-xoa Mi-lê rồi. Không phải mẩu tin ca ngợi ông ấy theo bất cứ cách nào, mà chỉ là đôi lời về tình trạng hiện nay của bậc thầy, khi thì đầy hy vọng, khi thì ảm đạm, nhưng lúc nào cũng thoảng nỗi lo sợ điều tồi tệ nhất. Chúng tôi luôn đánh dấu những đoạn tin ấy, rồi gửi báo cho tất cả những ai đã mua tranh của chúng tôi.
Các chẳng mấy chốc đã tới Pa-ri, và cậu ấy làm ăn rất mạnh tay. Cậu kết bạn với các phóng viên, khiến tình trạng của Mi-lê được đưa tin sang tận nước Anh, khắp lục địa châu Âu, sang cả nước Mỹ, đi khắp mọi nơi.
Sáu tuần sau ngày khởi sự, ba chúng tôi gặp nhau ở Pa-ri, quyết định dừng lại, thôi không bảo Mi-lê gửi thêm tranh nữa. Cơn sốt đã lên cao tới thế, mọi thứ đã chín muồi tới thế, nên chúng tôi thấy không ra tay ngay bây giờ, lập tức, mà chờ thêm nữa thì sẽ là sai lầm. Thế là chúng tôi viết thư bảo Mi-lê lên giường nằm và bắt đầu héo hon thật nhanh, vì chúng tôi muốn anh ấy chết trong vòng mười ngày nếu anh ấy chuẩn bị kịp.
Rồi chúng tôi tính toán, thấy cả bọn đã bán được tám mươi lăm bức tranh nhỏ và bài nghiên cứu, thu về sáu mươi chín nghìn phrăng. Các là người bán bức cuối cùng, và là vụ bán ngoạn mục nhất. Cậu ấy bán bức Kinh chiều được hai nghìn hai trăm phrăng. Chúng tôi tôn vinh cậu ấy biết bao! Chẳng ngờ rằng rồi sẽ có ngày nước Pháp phải vật lộn để giành lấy bức tranh ấy, và một người nước ngoài chộp được nó với giá năm trăm năm mươi nghìn, trả tiền mặt.
Tối hôm ấy chúng tôi mở một bữa tiệc sâm-banh kết thúc. Hôm sau, Clốt và tôi thu xếp hành lý, đi chăm sóc Mi-lê trong những ngày cuối đời, không cho bọn tò mò lắm chuyện vào nhà, và gửi bản tin hằng ngày cho Các ở Pa-ri, để đăng trên báo chí khắp mấy châu lục cho cả thế giới đang ngóng chờ được biết. Rồi cái kết buồn cuối cùng cũng tới, và Các về kịp để giúp lo những nghi lễ tang thương sau cùng.
Anh còn nhớ đám tang vĩ đại ấy chứ, nó đã làm xôn xao cả địa cầu ra sao, những bậc lừng danh của cả hai thế giới đã tới dự, bày tỏ nỗi tiếc thương thế nào. Bốn chúng tôi, vẫn không thể rời nhau, khiêng quan tài, không cho ai giúp. Mà chúng tôi làm thế là đúng, vì trong quan tài chẳng có gì ngoài một hình nhân bằng sáp, những người khiêng khác hẳn sẽ thắc mắc về sức nặng. Phải, vẫn bốn đứa chúng tôi như xưa, những người từng thương yêu nhau chia sẻ thiếu thốn trong những ngày gian khó nay đã qua mãi mãi, khiêng cái quan...”
“Bốn người nào?”
“Bốn chúng tôi. Vì Mi-lê cũng khiêng quan tài của chính mình. Cải trang, anh biết đấy. Cải trang thành một người họ hàng, họ hàng xa.”
“Thật đáng kinh ngạc!”
“Nhưng vẫn là sự thật. Rồi đấy, anh còn nhớ tranh lên giá như thế nào. Tiền ư? Chúng tôi chẳng biết làm gì với nó cho hết. Ngày nay ở Pa-ri có một người sở hữu bảy mươi bức tranh của Mi-lê. Ông ta đã trả chúng tôi hai triệu phrăng. Còn những thúng phác thảo và bài nghiên cứu mà Mi-lê xúc ra trong sáu tuần chúng tôi đi đường ấy, thì anh sẽ kinh ngạc nếu biết bây giờ chúng tôi bán chúng với giá bao nhiêu, ấy là khi chúng tôi chịu bán một bức!”
“Đúng là một câu chuyện tuyệt vời, tuyệt vời thật!”
“Phải, có thể nói là như thế.”
“Thế rồi Mi-lê ra sao?”
“Anh giữ được bí mật chứ?”
“Được.”
“Anh còn nhớ người đàn ông tôi bảo anh nhìn trong phòng ăn sáng nay không? Đó chính là Phrăng-xoa Mi-lê.”
“Trời...”
“Đất ơi! Phải. Lần này người ta không để một thiên tài chết đói, rồi bỏ vào túi kẻ khác những phần thưởng lẽ ra anh ấy phải được hưởng. Lần này con chim biết hót ấy không bị để mặc hót tới cạn lòng mà chẳng ai nghe, rồi được trả công bằng nghi lễ lạnh lẽo của một đám tang to. Chúng tôi đã lo chuyện ấy.”
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn