Thuyền Ta-ka-se là những con thuyền nhỏ đi ngược xuôi trên sông Ta-ka-se ở Ki-ô-tô. Thời Tô-cư-ga-oa, khi một tội nhân ở Ki-ô-tô bị kết án đày ra đảo, người nhà được gọi tới dinh nhà ngục, và được phép chia tay ở đó. Rồi tội nhân bị đưa lên thuyền Ta-ka-se, chở xuống Ô-xa-ca. Người áp giải là một viên đồng tâm, chức sai dịch dưới quyền quan phủ Ki-ô-tô. Theo lệ, viên đồng tâm cho phép một người đứng đầu trong họ hàng tội nhân đi cùng thuyền tới Ô-xa-ca. Đó không phải điều được bề trên chuẩn cho, nhưng người ta nhắm mắt làm ngơ, lặng lẽ cho qua.
Những tội nhân bị đày ra đảo thời ấy, dĩ nhiên đều bị coi là đã phạm tội nặng. Nhưng tuyệt nhiên không phải phần đông là những kẻ hung ác giết người, đốt nhà để cướp của. Quá nửa số tội nhân ngồi trên thuyền Ta-ka-se là những người chỉ vì một phút lầm lạc mà phạm phải tội không ngờ. Lấy một ví dụ thường gặp, như một người đàn ông bàn với người yêu cùng chết, cái việc thời ấy gọi là cùng nhau tự tử, rồi giết người đàn bà, mà chỉ mình mình sống sót.
Chở những tội nhân như thế, con thuyền Ta-ka-se rời bến lúc chuông chiều vừa điểm, lướt qua hai bên bờ là những dãy nhà thâm đen của Ki-ô-tô, chạy về phía đông, cắt ngang sông Ca-mô mà xuôi xuống. Trên thuyền, tội nhân và người nhà kể lể với nhau suốt đêm về thân phận mình. Bao giờ cũng là những lời kể lể hối tiếc chẳng thể nào vãn hồi. Viên đồng tâm làm việc áp giải ngồi bên nghe, nên biết được tường tận cảnh ngộ bi thảm của gia quyến kẻ phạm tội. Đó là những cảnh ngộ mà các vị quan chỉ nghe lời khai ngoài công đường của quan phủ, hay chỉ đọc biên bản trên bàn giấy nơi công sở, có nằm mơ cũng chẳng thể nào thấu được.
Người làm đồng tâm cũng mỗi người một tính. Có kẻ lạnh lùng, chỉ thấy phiền, muốn bịt tai lại. Lại có người thấm thía nỗi đau của kẻ khác như của chính mình, vì chức phận nên chẳng để lộ ra nét mặt, nhưng trong im lặng vẫn ngấm ngầm đau lòng. Gặp khi một tội nhân và người nhà rơi vào cảnh ngộ đặc biệt bi thảm, lại do một viên đồng tâm mềm lòng, dễ khóc áp giải, thì viên đồng tâm ấy không cầm nổi nước mắt.
Vì thế, việc áp giải trên thuyền Ta-ka-se bị đám đồng tâm ở phủ quan coi là một công việc khó chịu, ai cũng ngại.
Chuyện xảy ra vào thời nào nhỉ? Có lẽ vào khoảng niên hiệu Khoan Chính, khi ngài Sư-ra-ca-oa Ra-cư-ô đang nắm quyền chính ở Ê-đô. Một chiều xuân, hoa anh đào chùa Tri Ân Viện rơi theo tiếng chuông chiều, có một tội nhân hiếm lạ, xưa nay chưa từng có, bị đưa lên thuyền Ta-ka-se.
Hắn tên là Ki-xư-kê, chừng ba mươi tuổi, không nhà không cửa. Vốn chẳng có họ hàng nào để mà gọi tới dinh nhà ngục, nên hắn lên thuyền có một mình.
Viên đồng tâm Ha-nê-đa Sô-bê, người được lệnh áp giải và cùng xuống thuyền với hắn, chỉ nghe nói Ki-xư-kê là kẻ phạm tội giết em. Suốt quãng đường từ dinh nhà ngục ra bến thuyền, nhìn dáng điệu của Ki-xư-kê, người gầy gò, nước da xanh tái, ông thấy hắn thật ngoan ngoãn, thật hiền lành, kính trọng ông như một vị quan của triều đình, việc gì cũng chẳng dám trái ý. Mà đó lại không phải cái thói làm ra vẻ hiền lành để nịnh kẻ có quyền, như vẫn thường thấy ở bọn tù tội.
Sô-bê lấy làm lạ. Lên thuyền rồi, ông không chỉ canh giữ cho phải phép theo chức phận, mà còn không ngớt để ý kỹ từng cử chỉ của Ki-xư-kê.
Hôm ấy gió lặng từ lúc chiều tà, một lớp mây mỏng phủ khắp bầu trời làm nhoè vành trăng. Hơi ấm của mùa hè đang dần tới, như bốc lên thành sương từ đất hai bên bờ, từ đất lòng sông. Rời khỏi phố phường Hạ Kinh, cắt ngang sông Ca-mô rồi, chung quanh vắng lặng, chỉ nghe tiếng nước thì thầm khi mũi thuyền rẽ sóng.
Trên thuyền đêm, tội nhân cũng được phép ngủ, vậy mà Ki-xư-kê chẳng buồn nằm xuống, cứ ngước nhìn vầng trăng khi tỏ khi mờ theo những lớp mây dày mỏng, im lặng. Vầng trán hắn thanh thản, đôi mắt ánh lên một vẻ sáng mờ.
Sô-bê không nhìn thẳng, nhưng mắt không lúc nào rời mặt Ki-xư-kê. Và trong lòng ông cứ nhắc đi nhắc lại: lạ thật, lạ thật. Bởi vì gương mặt Ki-xư-kê, nhìn ngang nhìn dọc, đều có vẻ vui vẻ lắm, đến mức nếu không ngại có quan ngồi đó, có lẽ hắn đã huýt sáo, hay ngâm nga một khúc hát.
Sô-bê nghĩ thầm. Chẳng biết bao nhiêu lần ta đã áp giải trên con thuyền Ta-ka-se này. Nhưng tội nhân chở đi, lần nào cũng gần như y hệt nhau, dáng vẻ đáng thương không nỡ nhìn. Vậy mà gã này làm sao thế? Mặt mũi cứ như đang ngồi thuyền đi chơi. Nghe nói tội của hắn là giết em, nhưng dẫu đứa em có là đứa xấu xa đi nữa, dẫu có vì cớ sự gì mà giết đi nữa, thì theo lẽ thường tình con người, cũng chẳng thể nào thấy dễ chịu. Gã đàn ông gầy gò xanh xao này là một kẻ ác hiếm có trên đời, đến mức chẳng còn chút tình người nào ư? Ông thấy dường như không phải thế. Hay là hắn hoá điên rồi chăng? Không, không. Nếu thế thì sao chẳng có lời nói hay cử chỉ nào vô lý. Gã này làm sao thế nhỉ. Sô-bê càng nghĩ càng không hiểu nổi thái độ của Ki-xư-kê.
Một lúc sau, Sô-bê không nhịn được nữa, cất tiếng gọi:
— Ki-xư-kê. Ngươi đang nghĩ gì thế?
— Dạ.
Ki-xư-kê đáp, rồi nhìn quanh, như sợ bị quan bắt lỗi điều gì, ngồi lại cho ngay ngắn, dò nét mặt Sô-bê.
Sô-bê cảm thấy mình phải giải thích vì sao bỗng dưng lại hỏi, phải biện bạch cho việc muốn nói chuyện ngoài chức phận. Ông bèn nói:
— Không. Ta hỏi chẳng phải vì có cớ gì đâu. Thật ra từ nãy ta muốn nghe xem ngươi nghĩ thế nào khi bị đày ra đảo. Từ trước tới nay ta đã đưa bao nhiêu người ra đảo trên con thuyền này. Thân phận mỗi người mỗi khác, nhưng ai cũng buồn khổ vì phải ra đảo, và lần nào cũng khóc suốt đêm với người nhà đi tiễn cùng thuyền. Vậy mà nhìn dáng ngươi, ta thấy hình như ngươi chẳng lấy việc ra đảo làm khổ sở. Rốt cuộc ngươi nghĩ thế nào?
Ki-xư-kê mỉm cười:
— Được ngài hỏi han ân cần thế, con xin đội ơn ngài. Quả là việc ra đảo, đối với người khác hẳn là chuyện buồn lắm. Cái lòng ấy, con cũng có thể nghĩ mà hiểu được. Nhưng ấy là vì họ đã sống sung sướng ở chốn đời. Ki-ô-tô là đất tốt, nhưng những nỗi khổ mà con đã chịu ở đất tốt ấy cho tới nay, thì đi đâu chắc cũng chẳng có. Nhờ lòng từ bi của bề trên, con được tha chết mà cho ra đảo. Đảo có là chốn khổ cực đi nữa, chắc cũng chẳng phải chốn quỷ ở. Xưa nay con chưa từng có lấy một nơi nào gọi là nơi mình được phép ở. Lần này bề trên bảo con hãy ở trên đảo. Được yên ổn ở chỗ bề trên bảo ở, trước hết đã là điều đội ơn hơn cả. Lại thêm, con tuy người yếu ớt thế này, nhưng chưa từng ốm đau bao giờ, nên ra đảo rồi, việc có cực tới đâu, chắc cũng chẳng đến nỗi hại thân. Rồi lần này đày con ra đảo, bề trên lại ban cho con hai trăm đồng tiền. Con đang giữ nó ở đây.
Nói tới đây, Ki-xư-kê đặt tay lên ngực. Người bị đày ra đảo được ban hai trăm đồng tiền, đó là luật thời ấy.
Ki-xư-kê nói tiếp:
— Con phải thưa với ngài một chuyện xấu hổ, là cho tới hôm nay, con chưa từng có lần nào được giắt trong người hai trăm đồng tiền như thế này. Con muốn kiếm việc ở đâu đó, đi tìm việc khắp nơi, hễ tìm được là làm chẳng tiếc sức. Mà tiền công nhận được, lần nào cũng phải tay phải đưa sang tay trái mà trao cho người khác ngay. Được cầm tiền mặt mua đồ ăn đã là lúc con khấm khá lắm rồi, còn phần nhiều là lấy tiền trả nợ cũ, rồi lại vay nợ mới. Thế mà từ khi vào ngục, con chẳng phải làm gì cũng được cho ăn. Riêng chuyện ấy thôi, con đã thấy như mình có lỗi với bề trên. Lại thêm khi ra khỏi ngục, con được ban hai trăm đồng này. Cứ thế này mà vẫn được ăn của bề trên, thì hai trăm đồng này con có thể giữ lấy mà không tiêu. Có đồng tiền làm của riêng mà giữ, đối với con đây là lần đầu tiên. Chưa ra tới đảo thì chưa biết làm được việc gì, nhưng con đang vui sướng định lấy hai trăm đồng này làm vốn cho công việc trên đảo.
Nói xong, Ki-xư-kê ngậm miệng.
— Ừ, thế à.
Sô-bê nói vậy, nhưng điều gì nghe được cũng bất ngờ quá, nên một lúc lâu ông chẳng nói được gì, cứ trầm ngâm im lặng.
Sô-bê đã tới cái tuổi gần bốn mươi, vợ đã sinh cho bốn đứa con. Lại thêm mẹ già còn sống, nên nhà có bảy miệng ăn. Thường ngày ông sống tằn tiện đến mức bị người ta chê là keo kiệt, quần áo ngoài bộ mặc đi làm việc công ra, chỉ may thêm áo ngủ. Nhưng khốn nỗi, ông lại lấy vợ là con nhà buôn khá giả. Bà vợ có lòng tốt muốn sống bằng gạo lương của chồng, nhưng vì quen được nuông chiều trong nhà giàu, nên không thể thắt lưng buộc bụng cho tới mức chồng vừa lòng. Hễ cuối tháng là thiếu hụt. Thế là bà vợ lén về nhà mẹ đẻ lấy tiền bù vào cho khớp sổ. Ấy là vì chồng bà ghét nợ nần như ghét sâu róm. Những chuyện như thế rốt cuộc thế nào chồng cũng biết. Đến những dịp năm tiết lễ mà nhận quà bên ngoại, hay lễ mừng các con mà nhận áo quần bên ngoại cho, Sô-bê còn thấy áy náy, nên khi biết mình được nhà vợ lấp cho lỗ hổng chi tiêu, ông chẳng vui vẻ gì. Nhà Ha-nê-đa vốn chẳng có chuyện gì phá vỡ sự êm ấm, mà thỉnh thoảng nổi sóng gió, nguyên do là ở đó.
Giờ nghe chuyện Ki-xư-kê, Sô-bê đem thân phận Ki-xư-kê so với thân phận mình. Ki-xư-kê bảo làm việc có tiền công, mà tay phải đưa sang tay trái trao cho người ta mất cả. Quả là một cảnh ngộ đáng thương, tội nghiệp. Nhưng quay lại nhìn thân mình, giữa hắn với ta rốt cuộc khác nhau là mấy? Chính ta cũng chỉ sống bằng cách đem gạo lương bề trên ban, tay phải đưa sang tay trái trao cho người ta đấy thôi. Hắn với ta khác nhau, nói cho cùng, chỉ là khác hàng chục hàng trăm trên bàn tính, còn một món dành dụm tương đương hai trăm đồng mà Ki-xư-kê đội ơn kia, ta đây cũng chẳng có.
Đổi hàng trên bàn tính mà nghĩ, thì Ki-xư-kê coi hai trăm đồng tiền kia là món dành dụm mà vui mừng, cũng chẳng lạ. Lòng ấy ta cũng hiểu được. Nhưng có đổi hàng thế nào mà nghĩ, thì điều lạ vẫn là Ki-xư-kê chẳng ham muốn gì, biết thế nào là đủ.
Ki-xư-kê ở chốn đời khổ sở vì tìm việc. Tìm được việc thì làm chẳng tiếc sức, chỉ đủ để kiếm miếng cơm cũng đã mãn nguyện. Thế nên vào ngục rồi, thấy cái ăn trước nay khó kiếm, giờ chẳng làm gì mà có, như trời ban xuống, hắn ngạc nhiên, mà cảm thấy một nỗi mãn nguyện từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa từng biết.
Có đổi hàng thế nào mà nghĩ, Sô-bê cũng biết ở chỗ này giữa hắn với ta có một khoảng cách lớn. Cuộc sống ta dựa vào gạo lương, dù có lúc thiếu hụt, nhìn chung thu chi vẫn khớp. Một cuộc sống vừa đủ. Thế mà ta hầu như chưa bao giờ thấy mãn nguyện vì nó. Thường ngày ta sống mà chẳng thấy hạnh phúc cũng chẳng thấy bất hạnh. Nhưng tận đáy lòng vẫn ẩn một nỗi lo âu: sống thế này, nhỡ bỗng nhiên bị mất chức thì sao, nhỡ ốm nặng thì sao. Và mỗi lần biết vợ lại lấy tiền bên ngoại về lấp chỗ thiếu, nỗi lo âu ấy lại ngóc đầu lên khỏi ngưỡng ý thức.
Rốt cuộc khoảng cách ấy từ đâu mà ra? Chỉ nhìn bề ngoài, mà bảo rằng vì Ki-xư-kê không vướng bận gia đình, còn ta thì có, thì cũng xong. Nhưng nói thế là sai. Giả như ta độc thân đi nữa, có lẽ ta cũng chẳng thể có được cái lòng như Ki-xư-kê. Cái gốc của điều này hình như còn nằm ở chỗ sâu hơn, Sô-bê nghĩ.
Sô-bê mơ hồ nghĩ tới những chuyện như đời người. Người ta có bệnh trong mình thì nghĩ, giá không có bệnh này. Ngày nào cũng chẳng có cái ăn thì nghĩ, giá sống được qua ngày. Không có của dành phòng khi bất trắc thì nghĩ, giá có chút ít của dành. Có của dành rồi lại nghĩ, giá của dành nhiều hơn nữa. Cứ thế mà nghĩ mãi từ điều này tới điều khác, thì chẳng biết người ta phải đi tới đâu mới dừng lại được. Vậy mà người đang dừng lại ngay trước mắt ta cho ta xem chính là gã Ki-xư-kê này, Sô-bê chợt nhận ra.
Sô-bê nhìn Ki-xư-kê bằng con mắt kinh ngạc, như bây giờ mới thấy. Lúc ấy, Sô-bê thấy như có hào quang toả ra từ đầu Ki-xư-kê, kẻ đang ngước nhìn bầu trời.
Sô-bê vừa nhìn mặt Ki-xư-kê vừa lại gọi:
— Anh Ki-xư-kê.
Lần này ông gọi là "anh", nhưng không phải ông đã hoàn toàn có ý đổi cách xưng hô. Vừa nghe tiếng mình thốt ra lọt vào tai mình, Sô-bê đã nhận ra cách gọi ấy không hợp lẽ, nhưng lời đã nói ra thì chẳng rút lại được nữa.
— Dạ.
Ki-xư-kê đáp, cũng có vẻ lấy làm lạ vì được gọi là "anh", rụt rè dò nét mặt Sô-bê.
Sô-bê nén chút ngượng ngập, nói:
— Ta hỏi han đủ điều, nhưng nghe nói lần này ngươi bị đày ra đảo là vì đã giết người. Nhân tiện ngươi kể cho ta nghe đầu đuôi được không?
Ki-xư-kê có vẻ sợ hãi lắm:
— Xin vâng.
Rồi hắn kể khẽ:
— Con thật đã lầm lạc ghê gớm, làm một việc khủng khiếp, chẳng biết thưa với ngài thế nào. Về sau nghĩ lại, con cũng không hiểu sao mình lại làm được việc ấy. Con làm hoàn toàn trong lúc mê muội. Con lúc nhỏ, cha mẹ chết cả vì bệnh dịch, chỉ còn lại hai anh em con. Lúc đầu, người trong phố thương hai đứa như thương đàn chó con đẻ dưới mái hiên, nên cho ăn cho mặc, hai anh em làm chân chạy việc vặt cho cả xóm, nhờ thế mà không chết đói chết rét, lớn lên được. Dần dần lớn rồi, kiếm nghề cũng cố sao cho hai anh em không phải rời nhau, ở cùng nhau, giúp nhau mà làm lụng. Ấy là mùa thu năm ngoái. Con cùng thằng em vào làm ở một xưởng dệt ở Ni-si-gin, làm thợ kéo go. Rồi thằng em ốm, không làm được nữa. Hồi ấy hai anh em con ăn ngủ trong một túp lều chẳng khác gì cái chòi ở Ki-ta-y-a-ma, qua cầu sông Ca-mi-y-a mà tới xưởng dệt. Tối con mua đồ ăn gì đó về, thì thằng em chờ sẵn, cứ bảo: để anh một mình làm lụng nuôi em, em áy náy lắm, áy náy lắm. Một hôm, con về nhà như mọi khi, chẳng nghĩ ngợi gì, thì thấy thằng em nằm sấp trên chăn, xung quanh toàn máu. Con hoảng quá, quăng bọc lá tre với các thứ đang cầm trên tay xuống, chạy lại hỏi: "Làm sao thế, làm sao thế?" Thằng em ngẩng gương mặt xanh nhợt, hai má xuống tới cằm đẫm máu, nhìn con, nhưng không nói được. Mỗi lần nó thở, chỉ có tiếng "khò khè" ở vết thương. Con chẳng hiểu chuyện gì, hỏi: "Làm sao thế, em nôn ra máu à?" rồi toan lại gần, thì nó chống tay phải xuống sàn, hơi nhổm người lên. Tay trái nó giữ chặt dưới cằm, mà từ kẽ ngón tay những cục máu đen ứa ra. Nó đưa mắt như muốn ngăn con lại gần, rồi mở miệng. Mãi nó mới nói được: "Em xin lỗi. Anh tha cho em. Đằng nào bệnh cũng chẳng khỏi, em muốn chết sớm để anh được đỡ khổ phần nào. Em tưởng cắt cuống họng thì chết ngay, nhưng hơi chỉ xì ra ở đó mà không chết được. Em nghĩ phải sâu nữa, sâu nữa, dồn hết sức ấn vào, thì nó trượt sang một bên. Lưỡi dao hình như không mẻ. Em nghĩ anh mà rút nó ra cho khéo thì em chết được. Nói khó nhọc lắm. Anh làm ơn giúp em một tay, rút nó ra." Thằng em vừa nới tay trái thì hơi lại xì ra ở đó. Con muốn nói gì cũng không ra tiếng, lặng lẽ nhìn vết thương nơi cổ nó, thì hình như nó cầm dao cạo bằng tay phải, cắt ngang cuống họng, nhưng thế vẫn chưa chết được, nên cứ thế ấn sâu con dao vào như khoét. Cán dao chỉ còn thò ra khỏi vết thương chừng hai đốt ngón tay. Con chỉ thấy được chừng ấy, chẳng nghĩ ra phải làm gì, nhìn mặt thằng em. Nó nhìn con chằm chằm. Mãi con mới nói được: "Em chờ anh, anh đi gọi thầy thuốc." Nó nhìn con như oán trách, rồi lại lấy tay trái giữ chặt cổ: "Thầy thuốc làm gì được, ôi, khổ quá, anh rút nhanh lên, em xin anh." Con thấy như bế tắc, chỉ biết nhìn mặt nó. Những lúc như thế, lạ lắm, đôi mắt biết nói. Mắt nó cứ nói: "Nhanh lên, nhanh lên", nhìn con oán trách vô cùng. Trong đầu con như có cái gì quay tít như bánh xe, nhưng mắt nó không thôi thúc giục khủng khiếp. Rồi ánh mắt oán trách ấy dần dần dữ dội hơn, sau cùng thành một ánh mắt căm ghét như trừng nhìn mặt kẻ thù. Nhìn ánh mắt ấy, rốt cuộc con nghĩ mình phải làm như lời nó nói. Con bảo: "Thôi đành vậy, anh rút cho." Thì sắc mắt nó bỗng đổi khác hẳn, sáng sủa, vui mừng lắm. Con nghĩ thế nào cũng phải làm một lần cho dứt, bèn chống gối, nhổm người tới. Nó bỏ tay phải đang chống, tì khuỷu tay vừa giữ cổ xuống sàn, nằm nghiêng ra. Con nắm chặt cán dao cạo, rút mạnh ra. Đúng lúc ấy, bà cụ hàng xóm mở cánh cửa trước con đã đóng từ bên trong, bước vào. Đó là bà cụ con nhờ trong lúc con đi vắng thì cho thằng em uống thuốc, trông nom nó. Trong nhà đã tối lắm rồi, nên con không biết bà thấy được những gì, nhưng bà chỉ kêu "Ối!" một tiếng, rồi để nguyên cửa ngõ mở toang mà chạy mất. Lúc rút dao, con chỉ cẩn thận rút cho nhanh, rút cho thẳng, nhưng lúc rút ra, con cảm thấy như vừa cắt vào chỗ trước đó chưa đứt. Lưỡi dao quay ra phía ngoài, nên chắc phía ngoài bị đứt. Con cầm nguyên con dao cạo, thẫn thờ nhìn bà cụ vào rồi lại chạy ra. Bà cụ đi rồi, con sực tỉnh nhìn thằng em, thì nó đã tắt thở. Máu từ vết thương chảy ra nhiều lắm. Rồi các cụ trong phố tới, cho tới khi bị đưa lên quan, con cứ để con dao cạo bên cạnh, nhìn chằm chằm gương mặt thằng em chết mà mắt vẫn còn hé mở.
Ki-xư-kê nãy giờ hơi cúi đầu, ngước nhìn mặt Sô-bê từ dưới lên mà kể, nói xong thì đưa mắt nhìn xuống đầu gối.
Chuyện Ki-xư-kê kể mạch lạc lắm. Có thể nói gần như mạch lạc quá. Ấy là vì suốt nửa năm, hắn đã bao lần hồi tưởng lại chuyện hôm ấy, lại thêm mỗi lần bị hỏi ở công sở, bị tra ở phủ quan, lại bị bắt kể đi kể lại thật cẩn thận.
Sô-bê nghe mà như thấy tận mắt cảnh tượng hôm ấy. Nhưng từ khi nghe được nửa chuyện, trong ông đã nảy ra một mối ngờ: đây có thật là giết em không, có thật là giết người không? Nghe hết rồi, ông vẫn không giải được mối ngờ ấy. Đứa em bảo, anh rút dao cạo ra thì em chết được, anh rút ra cho em. Hắn rút ra cho nó, khiến nó chết, thì có thể nói là hắn đã giết. Nhưng nếu để nguyên như thế, hình như đứa em đằng nào cũng phải chết. Nó muốn chết sớm, là vì không chịu nổi đau đớn. Ki-xư-kê không đành lòng nhìn nó đau đớn. Hắn muốn cứu nó khỏi đau đớn mà dứt mạng nó. Như thế có phải là tội không? Giết người thì hẳn là tội. Nhưng nghĩ tới chuyện ấy là để cứu nó khỏi đau đớn, thì nảy ra mối ngờ, mà mối ngờ ấy cứ thế nào cũng không giải được.
Trong lòng Sô-bê, sau khi nghĩ tới nghĩ lui, nảy ra ý rằng chỉ còn cách phó thác cho sự phán xét của người trên mình, chỉ còn cách nghe theo quyền uy của bề trên. Sô-bê định lấy sự phán xét của quan phủ làm sự phán xét của chính mình. Nghĩ vậy rồi, mà trong lòng Sô-bê vẫn còn sót lại đâu đó một điều chưa thông, nên ông cứ muốn được hỏi quan phủ một câu.
Trong đêm trăng mờ càng lúc càng khuya, con thuyền Ta-ka-se chở hai người lặng im, cứ lướt trên mặt nước đen.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn