Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Con vẹt xanh

của Andrew Lang

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 19.995 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ở một miền đất Ả Rập, nơi những rặng…
  2. 2:06Bệ hạ cũng hiểu, việc hệ trọng thế này,…
  3. 4:23Viên quản gia thưa:
  4. 6:35Chẳng đợi ai trả lời, gã sai một cậu…
  5. 10:05Ngọn tháp nằm giữa một khu rừng, nên bà…
  6. 13:12Đây là bùa hộ mệnh sẽ khiến vua Li-nô…
  7. 15:37Cô hay nói vậy, nhưng con vẹt dường như…
  8. 17:22Nghe câu ấy, con vẹt chợt nhớ tới lời…

Ở một miền đất Ả Rập, nơi những rặng chà là và những khóm hoa thơm ngát cho khách bộ hành nghỉ chân sau những chặng đường mệt nhọc dưới nắng cháy, có một ông vua trẻ tên là Li-nô. Chàng lớn lên dưới sự cai trị anh minh của vua cha, nay vừa mới qua đời. Tuy mới mười chín tuổi, chàng không như nhiều chàng trai khác, cứ tưởng phải sửa hết luật lệ thì mới tỏ ra mình giỏi. Chàng bằng lòng giữ những luật cũ, những luật đã làm dân chúng sung sướng và đất nước thịnh vượng. Thần dân chỉ chê chàng mỗi một điều: họ khẩn cầu mãi mà chàng vẫn chẳng có vẻ gì vội lấy vợ.

Nước láng giềng do bà tiên Thiên Nga cai trị. Bà có một người con gái duy nhất là công chúa Héc-mô-xa, xinh đẹp dễ thương chẳng kém gì vua Li-nô. Bà tiên Thiên Nga lúc nào cũng có một vị sứ thần ở triều đình vua trẻ. Nghe dân chúng càu nhàu rằng vua Li-nô chẳng có dấu hiệu gì muốn cưới vợ, ông sứ thần tốt bụng bèn quyết định tự tay làm mối.

"Nếu trên đời này có ai xứng với công chúa Héc-mô-xa thì người đó ở ngay đây," ông nghĩ. "Dù sao cứ thử đưa hai người lại gần nhau xem sao."

Dĩ nhiên, đem công chúa ra gả thì không phải phép. Cái khó là phải khéo léo dẫn dắt nhà vua, người chẳng hay biết gì, sao cho chính chàng là người ngỏ lời. Nhưng ông sứ thần vốn thạo đường lối cung đình. Sau mấy lần trò chuyện về hội hoạ, môn nghệ thuật vua Li-nô rất yêu, ông lái câu chuyện sang tranh chân dung, rồi làm như vô tình nhắc rằng mới đây người ta vừa vẽ được một bức rất đẹp về công chúa nước ông.

— Còn nói về chỗ giống thật, thì có lẽ bức ấy cũng chưa bằng bức tranh nhỏ này, vẽ cách đây một năm.

Nhà vua cầm lấy bức tranh nhỏ, ngắm rất lâu, rồi thở dài:

— Chà! Hẳn là hoạ sĩ đã tô vẽ thêm. Không thể có người con gái nào đẹp như một phép màu thế này được.

— Giá bệ hạ được trông thấy nàng tận mắt.

Nhà vua không đáp. Nhưng ông sứ thần chẳng ngạc nhiên chút nào khi sáng hôm sau được vời vào chầu.

Cửa vừa khép, vua Li-nô đã nói:

— Từ hôm ông cho ta xem bức tranh, ta không sao xua được gương mặt công chúa ra khỏi tâm trí. Ta cho gọi ông tới để báo rằng ta sắp cử sứ giả sang triều đình bà tiên Thiên Nga, xin cưới con gái bà.

Ông sứ thần vuốt râu để giấu nỗi hả hê, đáp:

— Bệ hạ cũng hiểu, việc hệ trọng thế này, thần không dám thay lời chủ mình. Nhưng thần biết chắc bà sẽ vô cùng vui lòng trước lời cầu hôn của bệ hạ.

Mặt vua Li-nô rạng rỡ hẳn lên:

— Nếu vậy thì ta chẳng cần cử sứ giả nữa, ta sẽ tự đi, và đưa ông đi cùng. Ba ngày nữa ta sửa soạn xong, rồi chúng ta lên đường.

Không may cho vua Li-nô, phía bên kia nước chàng là đất của một lão phù thuỷ quyền phép tên là Ít-mê-no, vua Đảo Sư Tử. Lão có một cô con gái xấu xí ghê gớm, vậy mà lão cứ tin chắc nó là người đẹp nhất xưa nay. Cô con gái ấy tên là Ri-két, và cũng phải lòng một bức chân dung, có điều đó là chân dung vua Li-nô. Ri-két nài nỉ cha bắt bằng được vua Li-nô về làm chồng cho mình. Ít-mê-no vốn cho rằng trên đời chẳng có gã đàn ông nào xứng với báu vật của lão, nhưng rồi cũng định sai quan đại thần sang nước vua Li-nô lo việc này, thì nghe tin vua Li-nô đã lên đường tới triều đình bà tiên Thiên Nga.

Ri-két đau khổ đến phát cuồng, van cha ngăn đám cưới ấy lại. Ít-mê-no hứa sẽ làm. Lão gọi một gã lùn gù lưng xấu xí tên là Ra-bô tới, đọc mấy câu thần chú, thế là cả hai được đưa thẳng tới một thung lũng đá, nơi nhà vua và đoàn tuỳ tùng thế nào cũng phải đi qua.

Khi nghe tiếng vó ngựa rầm rập, lão phù thuỷ rút ra một chiếc khăn tay có phép, ai cầm vào là thành vô hình. Lão đưa cho Ra-bô cầm một góc, mình cầm một góc, rồi cả hai đi lẫn giữa đoàn kỵ sĩ mà không ai thấy. Nhưng lão tìm mãi chẳng thấy vua Li-nô đâu. Điều ấy cũng dễ hiểu. Mấy hôm nay hồi hộp và mỏi mệt, nhà vua đã sai những cỗ xe nặng chở quà cho công chúa đi trước, còn mình ở lại nghỉ dưới bóng chà là với vài người bạn.

Ít-mê-no tìm thấy họ ở đó, ai nấy ngủ say. Lão yểm một câu thần chú để họ không thể tỉnh dậy cho tới khi lão muốn. Rồi lão lột hết áo quần của nhà vua, mặc cho chàng bộ đồ của Ra-bô. Lão chạm chiếc nhẫn của mình vào gã lùn và nói:

— Hãy mang hình dạng của Li-nô cho tới khi ngươi cưới được con gái bà tiên Thiên Nga.

Phép của lão mạnh tới nỗi chính Ra-bô cũng tin chắc mình là nhà vua thật!

Khi gã giữ ngựa đã leo lên lưng con ngựa của vua Li-nô và đi khuất, Ít-mê-no mới đánh thức nhà vua dậy. Chàng sửng sốt nhìn bộ áo quần bẩn thỉu trên người. Nhưng chàng chưa kịp nhìn quanh thì lão phù thuỷ đã cuốn chàng vào một đám mây, mang thẳng về cho con gái lão.

Trong khi đó, Ra-bô đã đuổi kịp đoàn người. Không ai mảy may ngờ rằng đó không phải chủ của họ.

— Ta đói. Đưa cái gì cho ta ăn ngay.

Viên quản gia thưa:

— Tâu bệ hạ, lều trại còn chưa dựng xong, ít nhất cũng phải một tiếng nữa mới dọn được bữa tối. Chúng thần nghĩ...

Vua giả hỗn hào cắt ngang:

— Ai dạy ngươi nghĩ? Ngươi chỉ là đồ ngu! Mang thịt ngựa cho ta ngay, thịt ngựa là món ngon nhất trên đời!

Viên quản gia không tin nổi tai mình. Vua Li-nô, con người lịch thiệp nhất dưới gầm trời, lại nói với người hầu trung thành của mình như thế! Lại còn đòi ăn thịt ngựa! Ngài vốn kén ăn, sống chủ yếu bằng trái cây và bánh ngọt kia mà. Thôi thì biết làm sao được, lòng người khó đoán. Dù gì cũng phải vâng lời ngay, nếu còn muốn giữ cái đầu trên cổ. Biết đâu chính tình yêu đã làm ngài hoá điên, và có khi ít lâu nữa ngài sẽ trở lại bình thường.

Dù những người hầu cũ có tìm đủ cớ bào chữa cho chủ, thì tới khi đoàn người về tới kinh đô của bà tiên Thiên Nga, ngựa của nhà vua cũng đã bị ăn sạch, ngài đành đi bộ lên cung. Giấu nỗi ngạc nhiên hết mức có thể, họ cũng xuống ngựa đi bộ theo, vì đoán rằng nhà vua thích thế, rồi mời ngài đi trước. Chẳng mấy chốc họ trông thấy bà tiên Thiên Nga và con gái đang đứng chờ trên một ban công thấp. Nhà vua dừng lại bên dưới.

— Thưa bà, có lẽ bà ngạc nhiên vì tôi tới hỏi con gái bà một cách chẳng có lễ nghi gì. Nhưng đường xa quá, tôi đói, nên tôi ăn con ngựa của tôi, thịt ngựa là món ngon nhất trên đời, rồi tôi bắt bọn quan theo hầu ăn nốt ngựa của chúng. Nhưng dù vậy tôi vẫn là một ông vua lớn, và tôi muốn làm con rể bà. Thế là xong nhé. Héc-mô-xa đâu rồi?

Bà hoàng vừa sửng sốt vừa phật ý, vì cách ăn nói của nhà vua khác xa những gì bà vẫn được nghe kể. Bà đáp:

— Thưa bệ hạ, bệ hạ có chân dung con gái tôi. Nếu bệ hạ không nhận ra nó ngay, thì hẳn bức tranh ấy chẳng để lại mấy ấn tượng trong lòng bệ hạ.

— Tôi chẳng nhớ bức chân dung nào cả. Nhưng có khi nó vẫn nằm trong túi tôi cũng nên.

Ra-bô lục tung khắp người, trong khi các thị nữ đứng nhìn sững sờ, nhưng dĩ nhiên chẳng thấy gì. Lục xong, gã quay sang công chúa, lúc ấy đang đứng đỏ mặt vì giận, và nói:

— Nếu nàng là người tôi tới cưới, thì tôi thấy nàng đẹp lắm. Tôi chắc là nếu tôi từng thấy chân dung nàng, tôi đã nhớ rồi. Mình tổ chức đám cưới càng sớm càng tốt. Còn bây giờ tôi muốn đi ngủ, vì đất nước của nàng khác hẳn đất nước tôi, và tôi nói thật, lội qua đá với cát bao nhiêu ngày trời thì cũng cần nghỉ ngơi một chút.

Chẳng đợi ai trả lời, gã sai một cậu thị đồng dẫn về phòng. Chỉ một lát sau gã đã ngáy ầm ầm, đầu thành bên kia còn nghe thấy.

Gã vừa khuất mắt, công chúa đáng thương đã nhào vào lòng mẹ, oà khóc. Suốt mười lăm ngày qua, chân dung vua Li-nô chưa lúc nào rời khỏi tầm mắt nàng, còn bức thư của ông sứ thần kể về vẻ duyên dáng, lịch thiệp của chàng trai trẻ chưa lúc nào rời khỏi túi áo nàng. Đúng là bức chân dung vẽ giống thật. Nhưng sao một vẻ ngoài đẹp đẽ như thế lại chứa một tâm hồn thô lỗ cục cằn như thế? Ấy vậy mà nàng có lẽ cũng đã tha thứ được, nếu nhà vua tỏ ra chút yêu thương, ngưỡng mộ mà nàng vẫn quen được đón nhận. Còn bà mẹ, bà tiên Thiên Nga khốn khổ, trước cách cư xử kỳ quặc của chàng rể mới thì bàng hoàng tới mức gần như không nói nên lời.

Mọi chuyện đang như thế thì quan thị vệ của vua Li-nô xin được gặp riêng bà hoàng. Vừa còn hai người với nhau, ông thưa rằng ông e chủ mình bỗng dưng hoá điên, hoặc đã trúng bùa của một tên phù thuỷ nào đó.

— Thần đã ngạc nhiên từ trước, nhưng giờ ngài không nhận ra công chúa, lại chẳng còn giữ bức chân dung nàng, bức chân dung mà xưa nay ngài không rời ra lấy một khắc, thì thần thật không biết nghĩ sao nữa. Thưa bà, có lẽ phép tiên của bà sẽ tìm ra lý do vì sao một người lịch thiệp nổi tiếng khắp nước lại đổi khác như thế.

Nói xong ông cúi chào thật thấp rồi lui ra.

Bà hoàng đứng nguyên chỗ cũ, suy nghĩ rất lâu. Bỗng mặt bà sáng lên. Bà tới một chiếc rương cũ cất trong căn phòng bí mật, lấy ra một chiếc gương nhỏ. Trong gương ấy, bà muốn thấy gì thì sẽ thấy đúng như thật. Lúc này, điều bà mong nhất là được trông thấy vua Li-nô thật.

Chà! Quan thị vệ nói đúng! Kẻ đang nằm ngáy trên giường, ngáy rung cả cung điện, không phải là chàng. Không, con rể thật của bà là người kia kìa, người mặc bộ áo quần bẩn thỉu, bị giam trong một ngọn tháp kiên cố nhất của Ít-mê-no, đang hôn bức chân dung Héc-mô-xa. Bức chân dung ấy thoát khỏi mắt lão phù thuỷ, vì vua trẻ đã buộc nó giấu trong mái tóc cho thật kín.

Bà vội gọi con gái tới xem. Héc-mô-xa sung sướng được ngắm vua Li-nô, và chàng cư xử đúng hệt như nàng hằng mong. Nàng còn đang cầm gương thì cửa ngục mở, và con Ri-két gớm guốc bước vào. Nhìn đôi mắt nó ngước lên thì biết nó đang nài nỉ vua Li-nô một điều gì đó mà chàng không chịu. Dĩ nhiên Héc-mô-xa và mẹ không nghe được họ nói gì, nhưng nhìn bộ mặt giận dữ của Ri-két lúc bỏ ra ngoài thì cũng chẳng khó đoán chuyện gì đã xảy ra. Rồi chiếc gương còn cho thấy nhiều hơn thế. Tức điên vì bị nhà vua cự tuyệt, Ri-két sai bốn gã lực lưỡng lấy roi quất chàng cho tới khi chàng ngất đi. Héc-mô-xa trông thấy hết. Kinh hãi, nàng đánh rơi chiếc gương, và hẳn đã ngã quỵ nếu mẹ không đỡ kịp.

— Bình tĩnh lại, con. Chúng ta phải dùng hết trí khôn mới cứu được nhà vua khỏi tay lũ người độc ác ấy. Việc đầu tiên là phải biết kẻ mạo danh, mạo mặt nhà vua kia thật ra là ai.

Bà nhặt chiếc gương lên, ước được thấy chàng rể giả. Mặt gương hiện ra một gã giữ ngựa bẩn thỉu, nhớp nháp, áo quần còn nguyên, đang nằm chềnh ềnh trên chiếc giường lễ của bà.

— Thì ra đây là mánh khoé Ít-mê-no định giở với chúng ta! Được, ta sẽ báo thù, dù phải trả giá thế nào. Có điều phải hết sức cẩn thận, đừng để hắn đoán ra rằng hắn chẳng lừa được ta, vì phép thuật của hắn cao hơn ta, ta phải thật khôn ngoan. Trước hết ta phải đi xa một thời gian. Nếu nhà vua giả hỏi vì sao, con bảo ta phải lo vài việc ở biên giới. Trong lúc đó, con nhớ đối xử với hắn thật lễ độ, bày tiệc tùng cho hắn vui. Nếu hắn có vẻ nghi ngờ, con cứ để hắn hiểu rằng khi con cưới, ta định nhường ngôi cho chồng con. Thôi, chào con!

Nói rồi bà tiên Thiên Nga vẫy tay. Một đám mây sà xuống che kín bà. Không ai ngờ rằng đám mây trắng xinh đẹp đang bay vùn vụt qua bầu trời kia chính là cỗ xe đưa bà tiên Thiên Nga tới ngọn tháp của Ít-mê-no.

Ngọn tháp nằm giữa một khu rừng, nên bà hoàng nghĩ rằng dưới tán cây rậm rạp, bà có thể đáp xuống đất mà không ai thấy. Nhưng ngọn tháp đã bị yểm bùa kỹ tới mức bà càng cố xuống đất thì càng có một thứ gì đó níu bà lại chặt hơn. Cuối cùng, dồn hết sức phép của mình, bà mới hạ được xuống chân tháp. Tuy mệt lả vì gắng sức, bà không để mất một phút nào, bắt tay ngay vào bói toán. Bà biết rằng chỉ có một cách thắng được Ít-mê-no: phải có một viên ngọc trên chiếc nhẫn của vua Gi-gét. Nhưng làm sao lấy được nó? Cuốn sách phép cho bà biết Ít-mê-no canh giữ nó ngày đêm giữa những báu vật quý nhất của lão. Dù vậy, bà vẫn phải lấy cho bằng được. Còn trước mắt, việc đầu tiên là gặp được nhà vua đang bị giam.

Bà rút tập giấy ra viết:

"Con chim mang thư này tới cho chàng chính là bà tiên Thiên Nga, mẹ của Héc-mô-xa, người yêu chàng cũng như chàng yêu nàng!"

Viết lời trấn an ấy xong, bà kể lại âm mưu độc ác đã giáng xuống đầu chàng. Rồi bà nhanh chóng hoá thành một con chim én, bay vòng quanh tháp cho tới khi tìm ra cửa sổ phòng giam vua Li-nô. Cửa sổ cao tới mức chẳng cần chấn song, nhất là ngoài hành lang đã có bốn tên lính canh. Vì thế bà tiên bay vào được dễ dàng, nhảy cả lên vai chàng. Nhưng chàng mải ngắm chân dung công chúa, mãi chẳng để ý. Cuối cùng bà khẽ lấy góc lá thư cào nhẹ lên má chàng. Chàng giật mình quay lại. Thấy con chim én, chàng biết ngay là có người tới cứu. Chàng xé thư ra đọc, khóc vì vui sướng trước những lời trong ấy, rồi hỏi han hàng nghìn câu về Héc-mô-xa. Con chim én không trả lời được, chỉ gật đầu lia lịa, ra hiệu cho chàng đọc tiếp.

Đọc xong, chàng kêu lên:

— Ta phải giả vờ muốn cưới con Ri-két ghê tởm kia thật sao? Liệu ta có lấy được viên ngọc của lão phù thuỷ không?

Thế là sáng hôm sau, khi Ri-két tới thăm như thường lệ, chàng tiếp nó niềm nở hơn hẳn mọi hôm. Con gái lão phù thuỷ mừng không để đâu cho hết. Thấy nó vui sướng như vậy, vua Li-nô kể rằng chàng vừa nằm mơ một giấc mơ, nhờ đó biết Héc-mô-xa là kẻ bạc tình. Lại có một bà tiên hiện ra bảo chàng rằng nếu muốn cắt đứt sợi dây ràng buộc mình với cô công chúa phụ bạc kia, để dời tình yêu sang con gái Ít-mê-no, thì chàng phải giữ bên mình suốt một ngày một đêm viên ngọc trên chiếc nhẫn của vua Gi-gét, hiện lão phù thuỷ đang cất giữ.

Ri-két sướng mê đi. Nó ôm chầm lấy cổ nhà vua, hôn hít chàng âu yếm. Chàng ghê tởm tới mức thà ăn đòn của lính canh còn hơn. Nhưng chẳng còn cách nào khác, chàng đành cố tỏ ra vui vẻ, cho tới khi Ri-két tha cho chàng, bảo rằng nó phải đi xin cha viên ngọc quý ngay, không chậm một khắc.

Lời xin của con gái khiến Ít-mê-no hết sức ngạc nhiên, và lập tức sinh nghi. Nhưng nghĩ nát óc lão cũng không thấy cách nào để nhà vua, bị canh giữ ngặt như thế, có thể liên lạc được với bà tiên Thiên Nga. Dù sao lão cũng không làm gì hấp tấp. Giấu nỗi lo, lão bảo Ri-két rằng điều lão mong nhất là làm cho con gái sung sướng, nếu nó đã muốn có viên ngọc đến thế thì lão sẽ đi lấy. Rồi lão vào căn buồng kín nơi lão làm phép, và chẳng mấy chốc lão khám phá ra rằng kẻ thù của lão, bà tiên Thiên Nga, lúc này đang ở ngay trong cung của lão.

Lão cười nham hiểm:

— Thì ra là thế! Được, mụ muốn ngọc thì sẽ có ngọc. Nhưng là thứ ngọc biến bất cứ ai chạm vào thành đá cẩm thạch.

Lão bỏ một viên hồng ngọc nhỏ vào chiếc hộp, rồi quay về với con gái.

— Đây là bùa hộ mệnh sẽ khiến vua Li-nô yêu con. Nhưng nhớ đưa cả hộp cho hắn, đừng mở ra, không thì viên ngọc mất hết phép.

Ri-két reo lên, giật lấy chiếc hộp trong tay cha, chạy tới phòng giam. Ít-mê-no theo sau. Lão cầm chặt chiếc khăn có phép, nên chẳng ai thấy lão đứng xem bùa ngải phát tác. Đúng như lão đoán, dưới chân tháp, bà tiên Thiên Nga đang đứng chờ viên ngọc mà nhà vua sẽ ném xuống. Bà đã khinh suất hiện nguyên hình. Bà háo hức chụp lấy chiếc hộp từ tay nhà vua rơi xuống. Nhưng ngón tay bà vừa chạm vào viên hồng ngọc, một cảm giác cứng đờ kỳ lạ lan khắp người bà, chân tay bà cứng lại, lưỡi bà chỉ còn thều thào được mấy tiếng:

— Chúng ta bị lừa rồi.

Ít-mê-no thét lên, giọng khủng khiếp:

— Phải, các ngươi bị lừa rồi!

Lão lôi nhà vua ra cửa sổ:

— Còn ngươi, ngươi sẽ hoá thành con vẹt, và sẽ mãi mãi là con vẹt, cho tới khi ngươi khiến được Héc-mô-xa đập vỡ đầu ngươi.

Lão vừa dứt lời thì một con vẹt xanh vụt bay vào rừng. Lão phù thuỷ leo lên cỗ xe có cánh, bay thẳng tới Đảo Thiên Nga. Ở đó lão biến tất cả mọi người thành tượng, đúng y tư thế lúc lão bắt gặp họ, kể cả chính Ra-bô. Chỉ có Héc-mô-xa là được tha, và lão ra lệnh cho nàng ngồi lên xe cạnh lão. Chỉ vài phút sau, họ tới Rừng Kỳ Diệu. Lão phù thuỷ xuống xe, lôi cô công chúa khốn khổ theo.

— Ta đã biến mẹ ngươi thành đá, người yêu ngươi thành vẹt. Còn ngươi sẽ thành cái cây, và sẽ mãi mãi là cái cây, cho tới khi ngươi đập vỡ đầu người ngươi yêu nhất trên đời. Nhưng ta để lại cho ngươi trí óc và trí nhớ, để nỗi khổ của ngươi tăng lên gấp nghìn lần.

Lão phù thuỷ dù tài ba đến đâu, có cố nghĩ suốt trăm năm, cũng chẳng bày ra được số phận nào khủng khiếp hơn thế. Đối với cô công chúa đáng thương, từng giờ trôi qua thật nặng nề. Nàng chỉ mong có lưỡi rìu của bác tiều phu nào tới chặt quách cho xong. Làm sao thoát khỏi lời nguyền? Mà giả như vua Li-nô có bay ngang qua đây đi nữa, thì trong rừng có hàng nghìn con vẹt xanh, làm sao nàng nhận ra chàng, làm sao chàng nhận ra nàng? Còn mẹ nàng ư? Chao ôi, chuyện ấy khổ quá, không dám nghĩ tới. Vậy mà nàng cứ nghĩ mãi, nghĩ hoài.

Trong khi ấy, con vẹt xanh bay khắp thế gian, đi đâu cũng kết bạn. Cho tới một hôm, nó bay vào lâu đài của một lão pháp sư già vừa cưới một cô vợ trẻ xinh đẹp. Cô vợ tên là Grơ-na-đin, sống rất buồn tẻ, nên mừng lắm vì có bạn chơi. Cô cho con vẹt một chiếc lồng vàng để ngủ, những trái cây thơm ngon để ăn. Cô chỉ buồn mỗi một điều: nó chẳng bao giờ chịu nói như những con vẹt khác.

— Giá mày biết như thế làm tao vui đến chừng nào, chắc mày sẽ chịu nói thôi.

Cô hay nói vậy, nhưng con vẹt dường như chẳng nghe thấy.

Thế nhưng một buổi sáng, cô ra vườn hái hoa. Còn lại một mình, con vẹt nhảy lên bàn, ngậm lấy cây bút chì, viết mấy câu thơ lên một mẩu giấy. Vừa viết xong thì nó giật mình vì có tiếng động, liền nhả bút chì, bay vút qua cửa sổ.

Bút chì vừa rơi thì lão pháp sư vén một góc tấm rèm treo nơi cửa, bước vào phòng. Thấy mẩu giấy trên bàn, lão cầm lên, và ngạc nhiên vô cùng khi đọc thấy:

"Hỡi nàng công chúa dịu hiền,
Muốn lòng nàng mến, ta xin chuyện trò;
Nhưng thà im lặng mà lo,
Còn hơn ríu rít như phường vẹt kia."

Lão pháp sư lẩm bẩm:

— Ta đã ngờ ngợ nó bị bỏ bùa.

Lão mang sách vở ra tra cứu, và thấy rằng con chim kia không phải vẹt, mà là một ông vua bị một lão phù thuỷ trút cơn thịnh nộ lên đầu. Mà lão phù thuỷ ấy lại chính là kẻ mà lão pháp sư căm ghét nhất trên đời. Lão háo hức đọc tiếp, tìm cách giải bùa, và cuối cùng, mừng khôn xiết, lão tìm ra phương thuốc.

Lão vội tới chỗ vợ. Cô đang nằm trên mấy chiếc gối dưới gốc cây nơi con vẹt đang đậu. Lão bảo cô rằng con vẹt cưng của cô thật ra là vua một nước lớn. Nếu cô huýt sáo gọi nó, cả ba sẽ cùng tới một chỗ trong Rừng Kỳ Diệu.

— Ở đó ta sẽ trả lại hình người cho nó. Có điều ta làm gì thì nàng cũng đừng sợ, đừng kêu lên, không thì hỏng hết.

Vợ lão pháp sư nhảy cẫng lên, sung sướng vô cùng, và bắt đầu huýt bài hát con vẹt thích nhất. Nhưng con vẹt không muốn để ai biết nó đã nghe lỏm câu chuyện, nên nó chờ cho cô quay lưng đi rồi mới sà từ trên cây xuống, đậu lên vai cô. Rồi họ lên một chiếc thuyền vàng. Chiếc thuyền đưa họ tới một khoảng trống trong rừng, nơi có ba cây cao đứng riêng một chỗ.

Lão pháp sư bảo vợ:

— Ta cần mấy cây này để đốt lửa làm phép. Nàng đặt con vẹt lên cành kia, nó sẽ an toàn. Còn nàng ra đứng xa một chút. Đứng gần quá, cây đổ có khi vỡ đầu đấy.

Nghe câu ấy, con vẹt chợt nhớ tới lời nguyền của Ít-mê-no. Nó đứng sẵn, tim đập thình thịch khi nghĩ rằng trong ba cây kia có một cây chính là Héc-mô-xa. Lão pháp sư cầm thuổng xới đất quanh gốc ba cây để chúng đổ cùng một lúc. Vừa thấy cây lảo đảo, con vẹt dang cánh bay thẳng vào dưới cây ở giữa, cây đẹp nhất trong ba cây. Một tiếng răng rắc vang lên. Rồi vua Li-nô và Héc-mô-xa đứng đó, đối diện nhau, tay nắm chặt tay.

Qua phút đầu tiên, công chúa nghĩ ngay tới mẹ. Nàng quỳ xuống chân lão pháp sư, lúc ấy đang mỉm cười hớn hở vì kế hoạch thành công, van xin lão giúp thêm một lần nữa, trả lại hình người cho bà tiên Thiên Nga.

— Việc ấy không dễ đâu. Nhưng để ta thử xem.

Lão dùng phép bay về lâu đài lấy một lọ nhỏ nước độc, chờ tới khi trời tối rồi lên đường ngay tới tháp của Ít-mê-no. Dĩ nhiên, nếu Ít-mê-no chịu tra sách phép thì lão đã thấy kẻ thù đang làm gì mà phòng thân. Nhưng hôm ấy lão ăn uống quá độ, đã lên giường ngủ say như chết. Lão pháp sư hoá thành con dơi bay vào phòng, nấp trong rèm, rồi đổ hết lọ nước lên mặt Ít-mê-no. Lão chết không kịp rên một tiếng. Cùng lúc ấy, bà tiên Thiên Nga trở lại thành người, vì chẳng tên phù thuỷ nào, dù quyền phép đến đâu, làm được thứ bùa kéo dài quá đời mình.

Thế là khi bà tiên Thiên Nga về tới kinh đô, bà thấy cả triều thần đứng chờ ở cổng đón bà. Đứng giữa họ, rạng rỡ hạnh phúc, là Héc-mô-xa và vua Li-nô. Đứng sau họ, tuy cách xa lắm, là Ra-bô. Nhưng bộ áo quần bẩn thỉu của gã đã được thay bằng bộ áo sạch sẽ, vì gã được toại nguyện điều gã tha thiết mong: công chúa đã cho gã làm trưởng tàu ngựa.

Đến đây ta phải chia tay họ, và tin chắc rằng sau bao nhiêu thử thách khủng khiếp như thế, họ còn được hưởng nhiều năm hạnh phúc.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện tiên Pháp trong bộ Le Cabinet des Fées (1785–1789); dịch từ bản tiếng Anh The Blue Parrot, Andrew Lang, The Olive Fairy Book, 1907
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →