Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Công thức thất truyền

của O. Henry

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 10.983 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Từ khi quầy rượu đã được giới tu sĩ…
  2. 3:00Một buổi tối, hết ca, Côn thong thả bước…
  3. 3:58"Ngồi xuống đây," Rai-li bảo Côn, "để tôi kể…
  4. 5:31Rồi, khi lên bờ, bọn tôi mở một thùng.…
  5. 8:19"Làm một ly đi," Rai-li nói. "Bọn tôi có…
  6. 9:12Một giờ sau, Côn thả bộ trên vỉa hè…
  7. 10:16Rai-li và Mắc-quớc quả đã đánh một trận lớn…
  8. 10:51"Tin là," anh nói, "chúng mình sắp cưới nhau."

Từ khi quầy rượu đã được giới tu sĩ ban phước, và rượu pha mở màn cho những bữa tiệc của giới tinh hoa, người ta có thể nói về quán rượu. Những người kiêng rượu tuyệt đối có thể không nghe, nếu họ muốn. Lúc nào cũng có những tiệm ăn tự động, nơi bỏ một đồng mười xu vào khe nước dùng nguội là ra một ly Mác-ti-ni khô.

Côn Lan-tri làm việc ở phía tỉnh táo của quầy rượu trong quán Kê-ni-li. Bạn và tôi đứng phía bên kia, co một chân như ngỗng, tự nguyện thanh lý đồng lương cả tuần. Đối diện, Côn lướt đi nhịp nhàng, sạch sẽ, điều độ, đầu óc tỉnh táo, lễ phép, áo khoác trắng, đúng giờ, đáng tin cậy, trẻ trung, có trách nhiệm, và thu tiền của chúng ta.

Quán rượu ấy, dù được ban phước hay bị nguyền rủa, nằm trong một cái "ngõ" nhỏ, loại ngõ có hình bình hành chứ không phải là phố, nơi sinh sống của những hiệu giặt, những gia đình dòng dõi lâu đời đã sa sút, và những nghệ sĩ phóng túng chẳng dính dáng gì tới hai hạng kia.

Ở trên quán là nhà của ông Kê-ni-li và gia đình. Cô con gái Ca-thơ-rin của ông có đôi mắt đen kiểu Ai-len... mà cần gì phải kể cho bạn nghe? Bạn cứ hài lòng với cô Giê-ran-đin hay cô Ê-li-da An của bạn đi. Chỉ cần biết là Côn mơ về cô. Và mỗi lần cô khẽ gọi từ chân cầu thang sau, xin bình bia cho bữa tối, tim anh lại lên xuống như ly sữa pha rượu trong bình lắc. Những quy luật của chuyện tình lãng mạn vốn ngăn nắp và hợp lẽ. Nếu bạn ném đồng tiền cuối cùng của gia tài lên quầy mua rượu uýt-ki, thì anh pha chế sẽ cầm lấy, rồi cưới con gái ông chủ, và từ đó sẽ nảy ra điều tốt đẹp.

Nhưng Côn thì không thế. Vì trước mặt phụ nữ, anh cứng lưỡi và đỏ như gấc. Anh, người có thể dùng ánh mắt dẹp yên một chàng trai trẻ đang lớn giọng vì ly vang pha, dùng cái vắt chanh đập cho kẻ quậy phá một trận, hay ném kẻ hay gây sự ra rãnh nước mà chiếc nơ vải lanh trắng không hề nhăn một nếp, vậy mà khi đứng trước phụ nữ, anh câm lặng, nói năng lộn xộn, lắp bắp, bị chôn vùi dưới một trận lở tuyết nóng bỏng của ngượng ngùng và khổ sở. Thế thì trước mặt Ca-thơ-rin, anh là gì? Một kẻ run rẩy, chẳng biết nói gì để bênh mình, một hòn đá không biết nịnh ngọt, kẻ tình si câm lặng nhất từng lắp bắp chuyện thời tiết trước mặt nữ thần của mình.

Có hai người đàn ông da sạm nắng, Rai-li và Mắc-quớc, tới quán Kê-ni-li. Họ bàn bạc với ông Kê-ni-li, rồi chiếm lấy một căn phòng phía sau, chất đầy chai lọ, bình xịt sô-đa, vò hũ và cốc đong của người bán thuốc. Đủ mọi đồ nghề và rượu của một quán rượu đều có ở đó, nhưng họ không bán một ly nào. Suốt ngày hai người đổ mồ hôi trong đó, lấy rượu trong kho của mình rót ra, trộn thành những thứ nước pha, thuốc sắc chẳng ai biết là gì. Rai-li có học, ông tính toán trên hàng xấp giấy, quy ga-lông ra ao-xơ, quy lít ra giọt. Mắc-quớc, một người đàn ông rầu rĩ, mắt đỏ, đổ từng mẻ pha không thành vào ống thoát nước, kèm những câu rủa nhẹ nhàng, khàn khàn và thâm trầm. Họ làm việc nặng nhọc, không biết mệt, để tìm ra một dung dịch bí ẩn nào đó, như hai nhà giả kim cố luyện ra vàng từ các nguyên tố.

Một buổi tối, hết ca, Côn thong thả bước vào căn phòng phía sau. Tính tò mò nghề nghiệp của anh đã bị khơi dậy bởi hai tay pha chế bí hiểm này, quầy rượu của họ chẳng có ai tới uống, mà ngày nào họ cũng rút rượu từ kho của ông Kê-ni-li để theo đuổi những thí nghiệm hao tốn và vô ích.

Từ cầu thang sau, Ca-thơ-rin bước xuống, với nụ cười như bình minh trên vịnh Guy-ba-ra.

"Chào anh Lan-tri," cô nói. "Hôm nay có tin gì mới không anh?"

"Trời có vẻ sắp m... mưa," chàng trai nhút nhát lắp bắp, lùi sát vào tường.

"Thế thì còn gì bằng," Ca-thơ-rin nói. "Em nghĩ chẳng có gì tệ đi vì thêm chút nước cả."

Trong căn phòng phía sau, Rai-li và Mắc-quớc hì hục như hai mụ phù thuỷ có râu bên những hỗn hợp kỳ lạ của mình. Từ năm mươi cái chai, họ rút ra những thứ nước được đong cẩn thận theo con số Rai-li tính, rồi lắc tất cả lại với nhau trong một cái bình thuỷ tinh lớn. Rồi Mắc-quớc lại đổ nó đi, kèm những câu chửi rầu rĩ, và họ lại bắt đầu từ đầu.

"Ngồi xuống đây," Rai-li bảo Côn, "để tôi kể cho mà nghe.

Mùa hè năm ngoái, tôi với Tim kết luận rằng mở một quầy rượu kiểu Mỹ ở cái nước Ni-ca-ra-goa này thế nào cũng có lãi. Có một thị trấn trên bờ biển, ở đó chẳng có gì để ăn ngoài thuốc ký-ninh, chẳng có gì để uống ngoài rượu rum. Dân bản xứ lẫn người nước ngoài nằm xuống thì rét run, đứng dậy thì sốt, mà một ly rượu pha ngon là phương thuốc của tạo hoá cho mọi sự bất tiện nhiệt đới như thế.

Thế là bọn tôi mua ở New York một lô hàng ướt hảo hạng, cùng đồ nghề quầy rượu và ly cốc, rồi đáp một chiếc tàu chở chanh tới thị trấn Xan-ta Pan-ma ấy. Trên đường đi, tôi với Tim ngắm cá chuồn, chơi bài với thuyền trưởng và quản lý tàu, và đã bắt đầu thấy mình như những ông vua rượu pha của vùng nhiệt đới.

Khi chỉ còn năm giờ nữa là tới cái xứ mà bọn tôi định đem tới những ly rượu dài và những đồng tiền thối thiếu, thì thuyền trưởng gọi bọn tôi ra chỗ la bàn mạn phải, rồi sực nhớ ra vài chuyện.

'Tôi quên chưa nói với các cậu,' ông ta bảo, 'tháng trước Ni-ca-ra-goa vừa áp thuế nhập khẩu bốn mươi tám phần trăm giá trị lên mọi hàng hoá đóng chai. Ngài Tổng thống uống nhầm một chai thuốc mọc tóc của thành Xin-xi-na-ti vì tưởng là nước sốt ớt, nên giờ ngài trả thù. Hàng đóng thùng thì miễn thuế.'

'Tiếc là ông không nói sớm hơn,' bọn tôi bảo. Rồi bọn tôi mua của thuyền trưởng hai cái thùng gỗ loại bốn mươi hai ga-lông, mở hết mọi chai mình có, trút tất cả lẫn lộn vào hai cái thùng. Bốn mươi tám phần trăm thuế ấy sẽ làm bọn tôi sạt nghiệp, nên bọn tôi đánh liều làm ra ly rượu pha trị giá một nghìn hai trăm đô-la ấy, còn hơn là vứt hàng đi.

Rồi, khi lên bờ, bọn tôi mở một thùng. Hỗn hợp ấy thật đứt ruột đứt gan. Nó có màu một đĩa súp đậu ở phố Bao-ơ-ri, còn vị thì như mấy thứ cà phê giả mà bà dì bắt anh uống để chữa bệnh tim, cái bệnh anh mắc vì toàn đặt cược vào những con ngựa thua. Bọn tôi cho một ông dân địa phương uống thử một ly đầy bốn ngón tay, thế là ông ta nằm dưới gốc dừa ba ngày, gót chân đạp cát, và nhất định không chịu ký giấy chứng nhận chất lượng.

Nhưng còn cái thùng kia! Này anh pha chế, anh đã bao giờ đội một cái mũ rơm có dải băng vàng, rồi cùng lúc bay lên khinh khí cầu với một cô gái đẹp, túi có tám triệu đô-la chưa? Chỉ ba mươi giọt thứ ấy là anh có cảm giác như thế. Hai ngón tay thứ ấy vào bụng rồi, anh sẽ úp mặt vào hai bàn tay mà khóc, vì quanh đây chẳng còn ai đáng để anh đánh, ngoài thằng nhóc Gim Giép-phri, nhà vô địch quyền anh thế giới. Phải, thưa anh, thứ trong cái thùng thứ hai ấy là tiên dược chưng cất của chiến trận, tiền bạc và cuộc sống thượng lưu. Nó màu vàng óng, trong như pha lê, và trời tối rồi vẫn còn sáng lấp lánh như thể ánh nắng vẫn còn nằm trong đó. Một nghìn năm nữa anh mới lại được uống một ly như thế qua quầy rượu.

Thế là bọn tôi bắt đầu làm ăn chỉ với mỗi một loại rượu ấy, và thế là đủ. Giới quyền quý xứ ấy bâu vào nó như cả tổ ong. Nếu cái thùng ấy còn mãi thì xứ sở đó đã thành nước vĩ đại nhất trên trái đất. Sáng nào mở cửa cũng có một hàng tướng, tá, cựu tổng thống và quân cách mạng dài cả dãy phố đứng chờ được phục vụ. Bọn tôi bán từ năm mươi xu bạc một ly. Mười ga-lông cuối cùng bán dễ như bỡn với giá năm đô-la một ngụm. Đó là một thứ tuyệt diệu. Nó cho người ta lòng can đảm, tham vọng và gan dạ để làm bất cứ việc gì, đồng thời người ta cũng chẳng cần biết tiền của mình là tiền bẩn hay tiền mới lấy ra từ két của bọn tư bản độc quyền. Khi cái thùng vơi một nửa, Ni-ca-ra-goa đã tuyên bố quỵt nợ quốc gia, bãi bỏ thuế thuốc lá, và sắp sửa tuyên chiến với Hoa Kỳ và nước Anh.

Bọn tôi tình cờ tìm ra vua của các loại rượu ấy, và sẽ là nhờ may mắn nếu bọn tôi tìm lại được nó. Mười tháng nay bọn tôi cố. Mỗi lần một ít, bọn tôi đã trộn hàng thùng đủ mọi thứ độc hại mà nghề nhậu biết tới. Số uýt-ki, bờ-ran-đi, rượu mùi, rượu đắng, rượu gin và rượu vang mà tôi với Tim đã phí hoài đủ để mở mười quầy rượu. Một thứ đồ uống vinh quang như thế mà thế giới không được hưởng! Thật là đau lòng, lại còn tốn tiền nữa. Cả nước Mỹ hẳn sẽ đón chào một thứ đồ uống như thế, và sẵn sàng trả tiền."

Suốt thời gian ấy, Mắc-quớc vẫn cẩn thận đong và trộn từng chút một những thứ rượu khác nhau mà Rai-li gọi tên, theo công thức mới nhất Rai-li vừa viết bằng bút chì. Hỗn hợp vừa xong có màu sô-cô-la lốm đốm kinh tởm. Mắc-quớc nếm thử, rồi kèm những lời lẽ thích đáng, quăng nó vào bồn thải.

"Chuyện lạ thật, mà có khi lại là chuyện thật," Côn nói. "Giờ tôi phải đi ăn tối đây."

"Làm một ly đi," Rai-li nói. "Bọn tôi có đủ loại, trừ cái công thức thất truyền."

"Tôi không bao giờ uống thứ gì mạnh hơn nước lã," Côn nói. "Tôi vừa gặp cô Ca-thơ-rin ở cầu thang. Cô ấy nói một câu thật chí lý. Cô ấy bảo, 'Chẳng có gì tệ đi vì thêm chút nước cả'."

Côn vừa đi khỏi, Rai-li đấm vào lưng Mắc-quớc một cú suýt ngã.

"Mày có nghe thấy không?" ông hét lên. "Hai đứa mình đúng là ngốc. Sáu tá chai nước khoáng A-pô-li-na-rít bọn mình mang theo trên tàu, chính mày mở chúng ra, mày đổ chúng vào thùng nào? Thùng nào, hả cái đầu bùn?"

"Tao nhớ," Mắc-quớc chậm rãi nói, "là đổ vào cái thùng bọn mình mở thứ hai. Tao nhớ mảnh giấy xanh dán bên hông nó."

"Ra rồi!" Rai-li kêu lên. "Đó là cái bọn mình thiếu. Chính nước mới là bí quyết. Mọi thứ khác bọn mình đều làm đúng. Nhanh lên, ra quầy lấy hai chai nước khoáng, trong khi tao lấy bút chì tính tỷ lệ."

Một giờ sau, Côn thả bộ trên vỉa hè về phía quán Kê-ni-li. Những người làm công trung thành là thế, trong giờ nghỉ vẫn cứ lảng vảng quanh chỗ làm, bị một sức hút bí ẩn nào đó kéo về.

Một chiếc xe tuần tra của cảnh sát đậu ở cửa hông. Ba viên cảnh sát lực lưỡng đang nửa khiêng nửa lôi Rai-li và Mắc-quớc lên bậc sau xe. Mắt và mặt của cả hai đầy vết bầm và vết rách của một trận ẩu đả đẫm máu và tận tuỵ. Vậy mà họ vẫn hò reo trong một niềm vui kỳ lạ, và trút lên đầu cảnh sát chút tàn dư yếu ớt của cơn điên hiếu chiến.

"Hai ông ấy bắt đầu đánh nhau trong phòng sau," ông Kê-ni-li giải thích với Côn. "Lại còn hát nữa! Thế mới tệ. Đập phá gần hết mọi thứ. Nhưng họ là người tốt. Họ sẽ đền hết. Họ đang cố sáng chế ra một loại rượu pha mới. Sáng mai tôi sẽ lo cho họ ra."

Côn thả bước vào phòng sau để ngắm bãi chiến trường. Khi anh đi qua hành lang, Ca-thơ-rin vừa bước xuống cầu thang.

"Lại chào anh Lan-tri," cô nói. "Thế thời tiết vẫn chưa có tin gì mới ạ?"

"Trời vẫn còn doạ m... mưa," Côn nói, lách qua, đôi má nhẵn nhụi xanh xao đỏ ửng.

Rai-li và Mắc-quớc quả đã đánh một trận lớn và thân thiện. Chai lọ, ly cốc vỡ khắp nơi. Căn phòng sặc mùi rượu. Mặt sàn loang lổ những vũng rượu.

Trên bàn có một cái cốc đong bằng thuỷ tinh có vạch chia, loại gần một lít. Dưới đáy còn hai thìa canh chất lỏng, một chất lỏng vàng óng như thể đang giam giữ ánh nắng trong chiều sâu vàng ròng của nó.

Côn ngửi. Anh nếm. Anh uống.

Khi anh quay ra qua hành lang, Ca-thơ-rin vừa đi lên cầu thang.

"Vẫn chưa có tin gì hả anh Lan-tri?" cô hỏi, cười trêu chọc.

Côn nhấc bổng cô lên khỏi mặt đất và cứ thế ôm cô trên tay.

"Tin là," anh nói, "chúng mình sắp cưới nhau."

"Thả em xuống ngay!" cô phẫn nộ kêu lên, "không thì em... Ôi, Côn, ở đâu, anh lấy đâu ra gan mà nói được câu ấy?"

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Lost Blend, O. Henry, in trong tuyển tập The Trimmed Lamp
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →