Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Cụ cố

của Hans Christian Andersen

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 8.629 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Cụ cố hiền hậu, thông thái và tốt bụng…
  2. 1:33Nghe cụ cố kể những chuyện ấy, kể về…
  3. 2:31Con người ngày càng khôn ra, nhưng không tốt…
  4. 3:27Trong chuyện cháu kể có nhiều điều lắm, và…
  5. 5:07Đó thật là một ý nghĩ của Chúa ban…
  6. 5:33Hơn một tháng sau, trong một lá thư của…
  7. 6:21Đôi vợ chồng mới cưới về tới nước Anh,…
  8. 7:59Cụ cố hỏi:

Cụ cố hiền hậu, thông thái và tốt bụng biết bao, cả nhà chúng tôi ai cũng kính trọng cụ. Thật ra, theo chỗ tôi còn nhớ được, cụ vốn được gọi là ông nội, cũng có người gọi là ông ngoại. Nhưng từ khi anh Phrê-đơ-rích của tôi có đứa con trai nhỏ, cụ được thăng lên làm cụ cố, cao hơn thế thì cụ chẳng sống được tới nữa! Cụ thương tất cả chúng tôi lắm, nhưng thời buổi bây giờ thì có vẻ cụ không ưa lắm.

Cụ bảo:

— Thời xưa mới là thời tốt! Thời ấy điềm đạm và vững chãi! Bây giờ cái gì cũng phi nước đại, cái gì cũng bị đảo lộn tùng phèo. Bọn trẻ cầm quyền ăn nói, nói về cả vua chúa như thể ngang hàng với chúng. Bất cứ đứa nào ngoài đường cũng có thể nhúng giẻ vào nước thối rồi vắt lên đầu một người đáng kính!

Những lúc nói như thế, mặt cụ cố đỏ bừng lên. Nhưng chỉ một lát sau nụ cười hiền hậu lại trở về, cùng mấy lời:

— Thôi thì, có khi ta cũng nhầm đôi chút! Ta đứng ở thời xưa, không đặt chân cho vững được vào thời mới. Xin Chúa dẫn dắt nó!

Mỗi khi cụ cố nói về thời xưa, tôi lại có cảm tưởng như thời ấy trở lại với mình. Trong trí tưởng tượng, tôi ngồi trên chiếc xe ngựa thếp vàng có những người hầu mặc chế phục đi theo, tôi thấy các phường thợ rước biển hiệu sang trụ sở mới, có nhạc có cờ, tôi dự những buổi tối Nô-en vui vẻ có trò chơi phạt và hoá trang. Dĩ nhiên thời ấy cũng có lắm điều ghê rợn, khủng khiếp, nào cột hành hình, nào bánh xe tra tấn, nào máu đổ. Nhưng tất cả những điều khủng khiếp ấy lại có một cái gì vừa quyến rũ vừa làm người ta tỉnh hẳn ra. Tôi được nghe về những nhà quý tộc Đan Mạch đã trả tự do cho người nông dân, về vị thái tử Đan Mạch đã bãi bỏ việc buôn nô lệ.

Nghe cụ cố kể những chuyện ấy, kể về thời trai trẻ của cụ, thật là thích. Nhưng cái thời trước đó nữa mới là đẹp nhất, mạnh mẽ và lớn lao biết bao.

Anh Phrê-đơ-rích bảo:

— Thời ấy thô bạo lắm! Tạ ơn Chúa là chúng ta đã ra khỏi nó!

Anh nói toạc ra như thế với cụ cố. Như vậy là không phải phép, thế nhưng tôi vẫn rất nể anh Phrê-đơ-rích. Anh là anh cả của tôi, anh bảo anh có thể làm bố tôi được. Anh hay nói những câu buồn cười như thế. Anh đỗ tú tài hạng ưu, và làm việc ở văn phòng của bố giỏi tới mức chẳng bao lâu nữa có thể cùng bố trông coi việc buôn bán. Anh là người cụ cố hay chuyện trò nhất, nhưng lần nào hai người cũng cãi nhau. Cả nhà bảo hai người không hiểu nhau, và sẽ chẳng bao giờ hiểu nhau. Nhưng tuy còn bé, tôi cũng sớm nhận ra rằng hai người không thể thiếu nhau được.

Cụ cố lắng nghe, mắt sáng rực lên, mỗi khi anh Phrê-đơ-rích kể hoặc đọc cho cụ nghe về những bước tiến của khoa học, về những phát minh ra sức mạnh của thiên nhiên, về mọi điều kỳ diệu của thời đại chúng ta.

Những lúc ấy cụ cố bảo:

— Con người ngày càng khôn ra, nhưng không tốt lên! Họ phát minh ra những thứ vũ khí huỷ diệt khủng khiếp nhất để chém giết nhau!

Anh Phrê-đơ-rích bảo:

— Thế thì chiến tranh càng nhanh kết thúc! Người ta chẳng phải chờ bảy năm mới được hưởng hoà bình! Thế giới nhiều máu quá, thỉnh thoảng phải trích máu cho nó, việc ấy cần thiết!

Một hôm anh Phrê-đơ-rích kể cho cụ nghe một chuyện có thật ở thời nay, tại một nước nhỏ. Chiếc đồng hồ của ông thị trưởng, tức là chiếc đồng hồ lớn trên toà thị chính, báo giờ cho cả thành phố và dân chúng. Đồng hồ chạy không đúng lắm, nhưng cả thành phố vẫn theo nó. Rồi nước ấy cũng có đường sắt, mà đường sắt thì nối liền với đường sắt mọi nước khác, nên phải biết giờ thật chính xác, không thì tàu đâm nhau. Nhà ga có chiếc đồng hồ chỉnh theo mặt trời, chạy đúng, còn đồng hồ ông thị trưởng thì không. Thế là bây giờ dân cả thành phố đều theo đồng hồ nhà ga.

Tôi phá lên cười, thấy chuyện ấy buồn cười quá. Nhưng cụ cố không cười, cụ trở nên nghiêm trang hẳn.

Cụ bảo:

— Trong chuyện cháu kể có nhiều điều lắm, và ta cũng hiểu ý cháu khi cháu kể chuyện ấy cho ta nghe. Cái đồng hồ của cháu có bài học đấy. Nó làm ta nhớ tới một cái đồng hồ khác, cái đồng hồ xứ Boóc-hôm cũ kỹ, giản dị, có quả tạ bằng chì của bố mẹ ta. Đó là cái để đo thời gian của bố mẹ ta và của tuổi thơ ta. Nó chạy không được chính xác lắm, nhưng nó chạy, và chúng ta nhìn vào kim đồng hồ, chúng ta tin vào cái kim, chẳng nghĩ gì tới những bánh xe ở bên trong. Bộ máy nhà nước hồi ấy cũng vậy, người ta yên tâm nhìn vào nó, tin vào cái kim. Bây giờ bộ máy nhà nước đã thành một cái đồng hồ bằng kính, người ta nhìn thẳng được vào tận bên trong, thấy các bánh xe quay tít, thế là người ta đâm lo về cái chốt này, cái bánh xe kia! Rồi giờ giấc sẽ ra sao đây, ta nghĩ thế, và ta không còn được lòng tin ngây thơ của trẻ con nữa. Đó là chỗ yếu đuối của thời nay!

Nói rồi cụ cố tự làm mình nổi giận. Cụ với anh Phrê-đơ-rích không hợp nhau được, nhưng cũng không rời nhau được, "như thời cũ và thời mới vậy"! Cả hai người, và cả nhà, đều cảm thấy điều đó khi anh Phrê-đơ-rích phải lên đường đi xa, sang tận nước Mỹ. Chuyến đi ấy cần cho việc buôn bán của gia đình. Đối với cụ cố, đó là một cuộc chia tay nặng nề, mà chuyến đi lại xa quá, vượt cả đại dương, sang tận một phần khác của trái đất.

Anh Phrê-đơ-rích bảo:

— Cứ hai tuần cụ sẽ nhận được một lá thư của cháu! Mà còn nhanh hơn mọi lá thư, cụ sẽ nghe tin cháu qua dây điện tín. Ngày sẽ thành giờ, giờ sẽ thành phút!

Qua dây điện tín, lời chào của anh tới nơi khi anh lên tàu ở nước Anh. Rồi sớm hơn bất cứ lá thư nào, dù những đám mây bay có làm người đưa thư đi nữa, lời chào từ nước Mỹ cũng tới, nơi anh Phrê-đơ-rích vừa đặt chân lên bờ. Mới chỉ cách đó có mấy tiếng đồng hồ.

Cụ cố bảo:

— Đó thật là một ý nghĩ của Chúa ban cho thời đại chúng ta! Một phúc lành cho cả loài người!

Tôi nói:

— Anh Phrê-đơ-rích bảo cháu rằng chính ở nước mình người ta đã hiểu ra và nói ra những sức mạnh thiên nhiên ấy đầu tiên.

Cụ cố hôn tôi mà bảo:

— Phải. Phải, và ta đã được nhìn vào đôi mắt hiền hậu đã thấy ra và hiểu ra sức mạnh thiên nhiên ấy trước tiên. Đó là đôi mắt trẻ thơ như mắt cháu! Ta đã được bắt tay người ấy!

Rồi cụ lại hôn tôi lần nữa.

Hơn một tháng sau, trong một lá thư của anh Phrê-đơ-rích có tin anh đã đính hôn với một cô gái trẻ, xinh xắn, chắc chắn cả nhà sẽ hài lòng. Ảnh của cô được gửi về, cả nhà ngắm bằng mắt thường, rồi ngắm bằng cả kính lúp, vì cái hay của những bức ảnh ấy là người ta có thể soi chúng qua những thấu kính sắc nét nhất, mà càng soi thì nét giống lại càng hiện rõ. Chưa một hoạ sĩ nào làm được như thế, kể cả những bậc vĩ đại nhất ngày xưa.

Cụ cố bảo:

— Giá mà ngày xưa người ta đã biết phát minh này! Thì chúng ta đã được nhìn tận mặt những ân nhân và những vĩ nhân của thế giới!

Rồi cụ chăm chú nhìn qua kính lúp mà bảo:

— Cô bé này trông mới hiền hậu, tốt lành làm sao! Bây giờ cô ấy bước vào cửa là ta nhận ra ngay!

Nhưng suýt nữa thì chuyện ấy đã chẳng bao giờ xảy ra. May mà ở nhà chúng tôi không biết rõ về hiểm nguy cho tới khi nó qua rồi.

Đôi vợ chồng mới cưới về tới nước Anh, vui vẻ và khoẻ mạnh. Từ đó họ định đi tàu hơi nước về Cô-pen-ha-ghen. Họ đã trông thấy bờ biển Đan Mạch, thấy những đồi cát trắng ở miền tây Giút-lan. Bỗng một cơn bão nổi lên. Con tàu va vào một doi cát ngầm và mắc cạn. Sóng dâng cao, chực đánh vỡ con tàu. Không một chiếc xuồng cứu hộ nào làm gì được. Đêm xuống. Nhưng giữa bóng tối mịt mùng, từ bờ biển một mũi tên lửa sáng rực bay vút qua con tàu mắc cạn. Mũi tên kéo theo sợi dây thả vắt qua con tàu, thế là những người ngoài kia và những người trên bờ đã được nối với nhau. Chẳng bao lâu, qua những con sóng nặng nề cuồn cuộn, người ta kéo vào bờ trong chiếc giỏ cứu hộ một người đàn bà trẻ đẹp, vẫn sống khoẻ mạnh. Cô vui sướng và hạnh phúc vô cùng khi chẳng mấy chốc người chồng trẻ cũng đứng bên cô trên đất liền. Mọi người trên tàu đều được cứu. Lúc ấy trời còn chưa sáng hẳn.

Chúng tôi ở Cô-pen-ha-ghen vẫn đang say ngủ, chẳng nghĩ gì tới buồn đau hay hiểm nguy. Khi cả nhà quây quần bên bàn uống cà phê sáng, có tin đồn tới qua một bức điện, về một con tàu hơi nước của Anh bị đắm ở bờ biển phía tây. Chúng tôi lo thắt cả ruột. Nhưng cũng ngay trong giờ ấy có điện của những người thân yêu vừa thoát nạn trở về, anh Phrê-đơ-rích và người vợ trẻ của anh, báo rằng chẳng bao lâu nữa sẽ về tới nhà.

Cả nhà ai cũng khóc. Tôi cũng khóc theo, và cụ cố cũng khóc. Cụ chắp tay lại, và tôi tin chắc rằng cụ đã chúc phúc cho thời mới.

Hôm ấy cụ cố góp hai trăm đồng đại tệ để dựng tượng đài cho ông Hăng-xơ Krít-xti-an Ơ-xtét.

Khi anh Phrê-đơ-rích về tới nhà cùng người vợ trẻ và nghe chuyện ấy, anh bảo:

— Cụ làm thế là phải lắm, cụ ạ! Giờ thì cháu sẽ đọc cho cụ nghe những gì ông Ơ-xtét đã viết từ nhiều năm trước về thời xưa và thời chúng ta!

Cụ cố hỏi:

— Chắc ông ấy cũng nghĩ như cháu chứ gì?

Anh Phrê-đơ-rích đáp:

— Vâng, cụ biết thế mà! Mà cụ cũng đứng về phe ấy rồi đấy, cụ đã góp tiền dựng tượng đài cho ông ấy rồi còn gì!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHans Christian Andersen (1805 – 1875)
Năm mất1875
Xuất bản lần đầu1870
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Oldefa'er, 1870
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →