Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Của gửi

của Rabindranath Tagore

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 16.180 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Brin-đa-ban Cun-đu hầm hầm đến gặp cha, nói:
  2. 3:47Nhưng trong lòng lão già có một chỗ mềm…
  3. 7:30Không nói.
  4. 9:35Thằng bé tò mò hẳn lên:
  5. 11:08Họ băng qua không biết bao nhiêu cánh đồng,…
  6. 12:59Vì người ta sẽ làm lễ cúng cháu.
  7. 14:39Cháu muốn về với cha cháu.
  8. 16:36Khi tỉnh lại, lão lôi con trai về phía…

Brin-đa-ban Cun-đu hầm hầm đến gặp cha, nói:

– Tôi đi ngay bây giờ đây.

Người cha, lão Gia-ga-nát Cun-đu, cười khẩy:

– Đồ vô ơn! Bao giờ mày trả lại tao đủ tiền cơm áo tao đã nuôi mày, lúc ấy hẵng lên mặt.

Cơm áo theo kiểu nhà lão Gia-ga-nát thì cũng chẳng tốn kém là bao. Các bậc hiền triết thời xưa của chúng ta ăn mặc với cái giá rẻ không thể tin nổi. Cách sống của lão Gia-ga-nát cho thấy lý tưởng của lão về mặt này cũng cao xa chẳng kém. Lão không sống trọn được lý tưởng ấy, một phần là do ảnh hưởng xấu của cái xã hội suy đồi quanh lão, một phần là do tạo hoá cứ đòi hỏi vô lý để giữ cho xác hồn dính lấy nhau.

Chừng nào Brin-đa-ban còn độc thân thì mọi chuyện cũng êm. Nhưng lấy vợ rồi, anh bắt đầu xa rời cái chuẩn mực cao siêu, thanh đạm mà cha anh hằng nâng niu. Rõ ràng ý niệm về tiện nghi của người con đang trượt dần từ tinh thần sang vật chất, bắt chước thói đời. Anh không chịu nổi nóng lạnh, đói khát. Mức ăn mặc tối thiểu của anh cứ thế mà tăng vùn vụt.

Cha con cãi nhau luôn. Cuối cùng vợ Brin-đa-ban ốm nặng, phải mời ông lang về. Nhưng khi ông lang kê một thứ thuốc đắt tiền, lão Gia-ga-nát coi đó là bằng chứng rõ ràng ông ta dốt nát, đuổi ngay ra khỏi cửa. Lúc đầu Brin-đa-ban van cha cho chữa tiếp, rồi cãi nhau với cha vì chuyện đó, nhưng vô ích. Khi vợ chết, anh chửi cha là kẻ giết người.

Người cha nói:

– Vớ vẩn! Người ta uống đủ thứ thuốc mà vẫn chết đấy thôi. Thuốc đắt mà cứu được người thì sao vua chúa không ai sống mãi? Mày không định để vợ mày chết sang trọng hơn mẹ mày, bà nội mày ngày trước đấy chứ?

Lẽ ra Brin-đa-ban đã có thể tìm được niềm an ủi lớn trong những lời ấy, nếu anh không đang đau đớn đến mức không còn nghĩ ngợi cho ra nhẽ. Quả thật cả mẹ lẫn bà anh đều chẳng uống một viên thuốc nào trước khi từ giã cõi đời, và đó là nếp nhà lâu đời. Nhưng hỡi ơi, lớp trẻ không chịu chết theo nếp cũ. Vào thời chúng ta đang kể, người Anh mới đến xứ này. Ngay từ hồi xa xưa ấy, các cụ già nề nếp đã kinh hãi trước lối sống ngang trái của lớp trẻ, chỉ còn biết ngồi lặng thinh, rít điếu cho khuây.

Dù sao thì anh Brin-đa-ban tân thời cũng đã nói với ông bố cổ hủ của mình: "Tôi đi đây."

Người cha đồng ý ngay, còn thề trước mặt mọi người rằng từ nay mà lão còn cho con một đồng xu nào, thì thần thánh cứ kể như lão phạm tội giết bò thiêng. Brin-đa-ban cũng thề lại rằng từ nay mà anh còn nhận của cha thứ gì, thì tội ấy nặng ngang tội giết mẹ.

Dân làng coi cuộc cách mạng nho nhỏ này như một sự giải khuây sau bao lâu buồn tẻ. Và khi lão Gia-ga-nát truất quyền thừa kế của đứa con trai duy nhất, ai cũng cố an ủi lão. Mọi người đều đồng lòng rằng chỉ có cái thời suy đồi này mới có chuyện vì vợ mà cãi cha. Lý lẽ họ đưa ra cũng vững lắm. Họ bảo: "Vợ chết thì lấy vợ khác ngay được. Chứ cha chết thì có tiền bạc tình nghĩa gì cũng chẳng kiếm được ông cha khác thay vào." Lý lẽ ấy hẳn là hoàn hảo, nhưng chúng tôi ngờ rằng cái sự tuyệt vọng không kiếm được ông bố thứ hai chẳng làm anh con trai lầm lạc kia bận tâm mấy. Trái lại, anh còn coi đó là một ân huệ.

Xa Brin-đa-ban, người cha cũng chẳng nặng lòng gì cho lắm. Trước hết, con đi rồi thì đỡ tốn tiền nhà. Thứ nữa, người cha được giải thoát khỏi một nỗi lo lớn. Lão vẫn luôn bị ám ảnh nỗi sợ thằng con, đứa sẽ thừa kế gia tài, đầu độc mình. Mỗi lần ngồi ăn bữa cơm đạm bạc, lão chẳng bao giờ gạt được ý nghĩ về thuốc độc ra khỏi đầu. Từ khi con dâu chết, nỗi sợ ấy đã vơi đi đôi chút. Giờ con trai đi hẳn, nó tan biến luôn.

Nhưng trong lòng lão già có một chỗ mềm yếu. Brin-đa-ban đã mang theo đứa con trai bốn tuổi của mình, thằng Gô-cun Chan-đra. Mà nuôi một đứa trẻ thì tương đối chẳng tốn mấy, nên tình thương của lão Gia-ga-nát dành cho nó không vướng chút gợn nào. Thế nhưng khi Brin-đa-ban mang nó đi, nỗi buồn của lão, dẫu thật lòng, lúc đầu cũng xen lẫn những tính toán: vắng hai cha con thì mỗi tháng lão tiết kiệm được bao nhiêu, một năm cộng lại thành bao nhiêu, và phải có bao nhiêu vốn thì mới đẻ ra được chừng ấy lãi.

Nhưng căn nhà trống trải, không có thằng Gô-cun Chan-đra quậy phá, mỗi ngày một khó sống hơn với lão già. Giờ không còn ai trêu lão lúc lão đang cúng lễ, không còn ai giật miếng ăn của lão mà ăn, không còn ai ôm lọ mực của lão chạy mất lúc lão đang ghi sổ sách. Nếp sống hằng ngày giờ không ai quấy rầy, lại hoá thành gánh nặng không chịu nổi. Lão nghĩ, cái yên ổn không phiền nhiễu thế này chỉ đáng chịu ở thế giới bên kia.

Mỗi lần thấy những lỗ thủng thằng cháu chọc trên tấm chăn bông, những bức vẽ bằng bút mực của cũng chính nhà nghệ sĩ ấy trên chiếc chiếu cói, lòng lão nặng trĩu. Ngày trước lão đã mắng thằng bé thậm tệ vì chưa đầy hai năm nó đã xé nát cái khố của lão. Giờ nhìn mấy mảnh vải bẩn thỉu còn vương trong buồng ngủ, nước mắt lão rưng rưng. Lão cẩn thận cất chúng vào két, và thề rằng nếu thằng Gô-cun có ngày trở về, thì một năm nó có phá một cái khố, lão cũng không mắng nó.

Nhưng Gô-cun không trở về, và lão Gia-ga-nát tội nghiệp già đi nhanh chóng. Căn nhà trống mỗi ngày một trống thêm.

Lão già không còn ngồi yên ở nhà được nữa. Ngay cả giữa trưa, khi mọi người tử tế trong làng đều đang ngủ trưa sau bữa cơm, người ta vẫn thấy lão Gia-ga-nát tay cầm điếu lang thang khắp làng. Lũ trẻ thấy lão thì bỏ cả chơi, kéo nhau lùi ra xa cho an toàn, đồng thanh đọc mấy câu vè do một nhà thơ trong vùng đặt ra, ca ngợi cái tính tằn tiện của cụ.

Chẳng ai dám gọi tên thật của lão, vì người Bengal tin rằng ai nhắc tên một kẻ cực kỳ keo kiệt thì hôm ấy sẽ nhịn đói. Thế nên người ta tuỳ ý đặt cho lão đủ thứ tên. Tên lão là Gia-ga-nát, nghĩa là chúa của hội hè, nên các bậc lớn tuổi nhại thành Gia-ga-nas, nghĩa là kẻ phá hội. Còn vì sao lớp trẻ lại thích gọi lão là con quỷ hút máu thì khó mà đoán được. Có lẽ là vì làn da khô quắt, không còn giọt máu của lão già trông cũng hao hao như da quỷ.

Một buổi chiều, khi lão Gia-ga-nát đang lang thang như thường lệ qua những ngõ làng rợp bóng xoài, lão thấy một thằng bé, trông như người lạ, đang làm thủ lĩnh lũ trẻ trong làng, giảng cho chúng kế hoạch của một trò nghịch ngợm mới. Bị chinh phục bởi cá tính mạnh mẽ và những ý tưởng mới lạ đến sửng sốt của nó, lũ trẻ đều đã thề trung thành với nó.

Không như những đứa khác, thằng bé không chạy trốn khi lão già đến gần. Nó còn đi sát lại, rồi giũ tấm khăn choàng của mình. Kết quả là một con thằn lằn sống nhảy từ trong khăn ra, đáp lên người lão già, chạy tuột xuống lưng lão rồi lủi vào bụi rậm. Bị giật mình bất ngờ, ông già tội nghiệp run từ đầu đến chân, khiến lũ trẻ khoái chí reo hò ầm ĩ. Lão Gia-ga-nát vừa đi được một quãng, miệng còn đang chửi rủa, thì chiếc khăn vắt trên vai lão bỗng biến mất. Thoáng sau, người ta đã thấy nó trên đầu thằng bé mới đến, cuộn lại thành khăn xếp.

Những trò quan tâm mới mẻ của thằng nhãi ấy khiến lão Gia-ga-nát thấy nhẹ nhõm lạ lùng. Đã lâu lắm rồi không có đứa trẻ nào dám suồng sã với lão như thế. Dỗ dành mãi, hứa hẹn đủ điều, cuối cùng lão cũng gọi được thằng bé lại. Và đây là cuộc chuyện trò sau đó.

– Cháu tên gì?

– Ni-tai Pan.

– Nhà cháu ở đâu?

– Không nói.

– Cha cháu là ai?

– Không nói.

– Sao lại không nói?

– Vì cháu bỏ nhà đi.

– Sao cháu lại bỏ đi?

– Cha cháu muốn bắt cháu đi học.

Lão Gia-ga-nát nghĩ bụng, cho một thằng bé như thế này đi học thì thật là phung phí vô ích. Cha nó hẳn là một gã dở hơi không biết tính toán mới không nghĩ ra điều ấy.

– Thế này nhé, lão Gia-ga-nát nói, cháu có muốn về ở với ông không?

– Cũng được, thằng bé đáp.

Và thế là nó dọn ngay vào nhà lão Gia-ga-nát. Nó chẳng ngần ngại chút nào, cứ như đó chỉ là bóng một cái cây bên đường. Không chỉ thế, nó còn tuyên bố những yêu cầu về ăn mặc của mình tỉnh bơ đến nỗi người ta tưởng nó đã trả đủ tiền từ trước. Hễ có gì không vừa ý, nó chẳng ngại cãi nhau với lão già. Với con đẻ của mình thì lão Gia-ga-nát dễ dàng thắng thế. Nhưng giờ với con nhà người ta, lão đành phải chịu thua.

Dân làng lấy làm lạ khi thấy Ni-tai Pan bỗng dưng được lão Gia-ga-nát cưng chiều như thế. Họ tin chắc lão già sắp chết, và cái viễn cảnh lão để hết gia tài cho thằng nhãi vô danh kia khiến họ đau lòng. Ghen tức điên người, họ quyết làm hại thằng bé. Nhưng lão già giữ gìn nó như giữ một cái xương sườn trong lồng ngực mình.

Có lúc thằng bé doạ bỏ đi, và lão già lại nhử nó: "Ông sẽ để lại cho cháu tất cả của cải ông có." Còn nhỏ thế thôi, thằng bé cũng hiểu trọn cái lớn lao của lời hứa ấy.

Dân làng bèn bắt đầu dò hỏi xem cha thằng bé là ai. Lòng họ mủi ra vì thương cảm những bậc cha mẹ đang khổ sở. Họ bảo thằng con hẳn phải là đứa mất dạy mới làm cha mẹ khổ đến thế. Họ chửi rủa nó thậm tệ, nhưng cái nhiệt tình của họ để lộ ra lòng ghen tị nhiều hơn là lẽ công bằng.

Một hôm lão già nghe một người qua đường kể rằng có một người tên Đa-mô-đa Pan đang đi tìm đứa con thất lạc, và lúc này đang đi về phía làng. Nghe vậy, Ni-tai bồn chồn hẳn lên, sẵn sàng bỏ chạy, mặc kệ gia tài tương lai muốn ra sao thì ra. Lão Gia-ga-nát trấn an nó:

– Ông sẽ giấu cháu vào một chỗ không ai tìm ra được, kể cả dân làng này.

Thằng bé tò mò hẳn lên:

– Ôi, ở đâu hả ông? Ông chỉ cho cháu đi.

– Bây giờ mà chỉ thì người ta biết mất. Chờ đến đêm đã, lão Gia-ga-nát nói.

Niềm hy vọng được khám phá chỗ trốn bí mật khiến Ni-tai thích chí. Nó tính toán sẵn trong đầu, chờ cha nó không tìm được nó mà bỏ đi rồi, nó sẽ đánh cược với bạn bè, chơi trốn tìm. Không ai tìm ra nó. Thế thì vui biết mấy! Cha nó cũng sẽ lục tung cả làng mà không tìm thấy nó. Thế cũng vui hết sẩy!

Giữa trưa, lão Gia-ga-nát nhốt thằng bé trong nhà, rồi biến đi đâu một lúc. Khi lão về, Ni-tai hỏi han lão không ngớt.

Trời vừa tối, Ni-tai đã nói:

– Ông ơi, mình đi bây giờ chưa?

– Chưa đến đêm mà, lão Gia-ga-nát đáp.

Một lát sau, thằng bé kêu lên:

– Đêm rồi đấy ông ơi, đi thôi.

– Dân làng chưa đi ngủ đâu, lão Gia-ga-nát thì thào.

Ni-tai chờ được một chút, lại nói:

– Họ đi ngủ rồi ông ạ, cháu chắc chắn là họ ngủ rồi. Đi thôi ông.

Đêm khuya dần. Giấc ngủ bắt đầu đè nặng lên mí mắt thằng bé tội nghiệp, nó phải vật lộn lắm mới thức nổi. Nửa đêm, lão Gia-ga-nát nắm lấy cánh tay thằng bé, ra khỏi nhà, dò dẫm qua những con ngõ tối om của làng đang ngủ. Không một tiếng động nào phá tan sự tĩnh mịch. Chỉ thỉnh thoảng một con chó tru lên, rồi tất cả chó gần xa hùa theo. Hoặc một con chim đêm vỗ cánh, giật mình vì tiếng chân người vào giờ bất thường ấy. Ni-tai run sợ, bám chặt lấy tay lão Gia-ga-nát.

Họ băng qua không biết bao nhiêu cánh đồng, cuối cùng tới một khu rừng rậm. Ở đó có một ngôi đền đổ nát, không còn tượng thần.

– Sao, ở đây à! Ni-tai thất vọng kêu lên.

Chẳng giống chút nào điều nó tưởng tượng. Chẳng có gì bí ẩn cả. Từ khi bỏ nhà đi, nó đã ngủ đêm ở không biết bao nhiêu ngôi đền bỏ hoang như thế này. Chỗ này chơi trốn tìm thì cũng không đến nỗi tệ, nhưng bạn bè nó vẫn có thể lần ra được.

Lão Gia-ga-nát nhấc một phiến đá ở giữa nền đền lên. Trước đôi mắt sửng sốt của thằng bé hiện ra một căn hầm dưới đất, trong có một ngọn đèn đang cháy. Sợ hãi và tò mò cùng ập đến trái tim bé nhỏ của nó. Lão Gia-ga-nát leo xuống bằng một chiếc thang, Ni-tai theo sau.

Nhìn quanh, thằng bé thấy bốn phía toàn những chiếc vò bằng đồng. Ở giữa trải một tấm thảm ngồi lễ, trước tấm thảm bày son đỏ, bột trầm hương, hoa, và những đồ cúng lễ khác. Tò mò, thằng bé thò tay vào mấy chiếc vò, lôi ra những thứ bên trong. Toàn là đồng ru-pi bạc và tiền vàng.

Lão Gia-ga-nát nói với thằng bé:

– Ông đã bảo cháu rồi, Ni-tai, ông sẽ cho cháu hết tiền của ông. Ông chẳng có nhiều, chỉ có mấy vò này là tất cả. Hôm nay ông sẽ giao hết cho cháu.

Thằng bé nhảy cẫng lên vì sung sướng.

– Hết à? Nó kêu lên. Ông không lấy lại đồng nào đâu nhé?

– Nếu ông lấy lại, lão già nói giọng trang nghiêm, thì cho tay ông mắc bệnh hủi. Nhưng có một điều kiện. Nếu có ngày cháu ông là Gô-cun Chan-đra, hoặc con nó, cháu nó, chắt nó, hay bất cứ ai trong dòng dõi nó đi ngang qua đây, thì cháu phải giao lại cho người ấy, cho những người ấy, từng đồng ru-pi, từng đồng tiền vàng ở đây.

Thằng bé nghĩ ông già đang nói mê.

– Vâng ạ, nó đáp.

– Vậy thì cháu ngồi lên tấm thảm này, lão Gia-ga-nát nói.

– Để làm gì ạ?

– Vì người ta sẽ làm lễ cúng cháu.

– Nhưng sao lại thế ạ? Thằng bé ngỡ ngàng.

– Lệ là như thế.

Thằng bé ngồi xổm lên tấm thảm như được bảo. Lão Gia-ga-nát bôi bột trầm hương lên trán nó, chấm một vệt son đỏ giữa hai hàng lông mày, quàng một vòng hoa vào cổ nó, rồi bắt đầu tụng thần chú.

Phải ngồi đó như một vị thần, nghe người ta tụng chú, khiến Ni-tai tội nghiệp thấy bứt rứt vô cùng.

– Ông ơi, nó thì thào.

Nhưng lão Gia-ga-nát không đáp, cứ lầm rầm tụng tiếp.

Cuối cùng lão khó nhọc kéo từng chiếc vò đến trước mặt thằng bé, bắt nó đọc theo lão lời thề sau đây:

– Tôi long trọng hứa sẽ giao toàn bộ kho của này cho Gô-cun Chan-đra Cun-đu, con của Brin-đa-ban Cun-đu, cháu của Gia-ga-nát Cun-đu, hoặc cho con, cho cháu, cho chắt của Gô-cun Chan-đra Cun-đu nói trên, hoặc cho bất cứ người nào trong dòng dõi ấy là người thừa kế chính đáng.

Thằng bé đọc đi đọc lại câu ấy, cho tới khi đầu óc mụ mị, lưỡi bắt đầu cứng đờ trong miệng. Khi nghi lễ xong xuôi, không khí trong hầm đã đặc quánh khói ngọn đèn đất và hơi thở độc của hai người. Thằng bé thấy vòm miệng khô như bụi, tay chân nóng ran. Nó gần như ngạt thở.

Ngọn đèn mờ dần, mờ dần, rồi tắt hẳn. Trong bóng tối mịt mùng sau đó, Ni-tai nghe tiếng lão già leo lên thang.

– Ông ơi, ông đi đâu thế? Nó hoảng hốt hỏi.

– Ông đi đây, lão Gia-ga-nát đáp. Cháu ở lại đây. Không ai tìm được cháu đâu. Nhớ lấy cái tên Gô-cun Chan-đra, con của Brin-đa-ban, cháu của Gia-ga-nát.

Rồi lão rút chiếc thang lên. Giọng nghẹn lại, đau đớn, thằng bé van xin:

– Cháu muốn về với cha cháu.

Lão Gia-ga-nát đặt phiến đá về chỗ cũ. Rồi lão quỳ xuống, áp tai lên mặt đá. Tiếng Ni-tai vọng lên một lần nữa: "Cha ơi!" Rồi có tiếng một vật gì nặng ngã huỵch xuống. Rồi tất cả lặng im.

Giao xong của cải cho một con dạ xoa giữ của như thế, lão Gia-ga-nát bắt đầu lấp đất lên phiến đá. Rồi lão chất gạch vỡ và vữa vụn lên trên. Trên cùng lão trồng những vầng cỏ và cây dại. Đêm đã gần tàn, nhưng lão không rứt mình đi khỏi chỗ ấy được. Chốc chốc lão lại áp tai xuống đất, cố lắng nghe. Lão thấy như từ xa thật xa dưới kia, từ tận đáy sâu thăm thẳm trong lòng đất, vọng lên một tiếng khóc than. Lão thấy như cả bầu trời đêm ngập tràn trong tiếng ấy, như cả loài người đang ngủ khắp thế gian đều đã thức dậy, ngồi trên giường mà lắng nghe.

Lão già điên cuồng vun đất mỗi lúc một cao. Lão muốn bằng mọi cách bóp nghẹt tiếng ấy, nhưng lão vẫn tưởng như nghe thấy: "Cha ơi!"

Lão dồn hết sức nện xuống chỗ ấy, nói:

– Im đi, người ta nghe thấy bây giờ.

Nhưng lão vẫn tưởng như nghe thấy: "Cha ơi!"

Mặt trời đã rạng phía chân trời đằng đông. Lão Gia-ga-nát ra khỏi ngôi đền, đi ra cánh đồng trống.

Ở đó cũng có ai đó gọi: "Cha ơi!" Giật thót người, lão quay lại, thấy con trai mình đang đi ngay sau lưng.

– Cha ơi, Brin-đa-ban nói, con nghe nói thằng con con đang trốn ở nhà cha. Con phải đưa nó về.

Mắt trợn ngược, miệng méo xệch, lão già chồm người tới, kêu lên:

– Thằng con mày ư?

– Vâng, thằng Gô-cun con con. Giờ nó tên là Ni-tai Pan, còn con thì lấy tên là Đa-mô-đa Pan. Tiếng tăm của cha lan khắp vùng này, đến nỗi cha con con phải giấu tên giấu gốc, kẻo người ta không chịu gọi tên mình.

Lão già chầm chậm giơ cả hai tay lên quá đầu. Những ngón tay lão bắt đầu co giật, như đang cố chụp lấy một vật gì vô hình trong không trung. Rồi lão ngã vật xuống đất.

Khi tỉnh lại, lão lôi con trai về phía ngôi đền đổ nát. Vào bên trong rồi, lão hỏi:

– Mày có nghe tiếng ai khóc không?

– Không, con không nghe thấy gì, Brin-đa-ban đáp.

– Nghe thật kỹ vào. Mày có nghe ai gọi "Cha ơi" không?

– Không.

Lão có vẻ nhẹ nhõm hẳn đi.

Từ hôm ấy, lão đi đâu cũng hỏi người ta: "Ông có nghe tiếng ai khóc không?" Người ta cười lão già lẩm cẩm nói nhảm.

Chừng bốn năm sau, lão Gia-ga-nát nằm hấp hối. Khi ánh sáng cõi đời đang dần tắt trong mắt lão, hơi thở mỗi lúc một khó nhọc, bỗng lão mê sảng ngồi bật dậy. Lão vung cả hai tay lên không, như đang dò dẫm tìm một vật gì, miệng lẩm bẩm:

– Ni-tai, ai rút mất cái thang của ông rồi?

Không tìm được chiếc thang để leo ra khỏi cái hầm khủng khiếp không chút ánh sáng, không chút khí trời, lão lại ngã vật xuống giường. Và lão biến vào cõi ấy, cái cõi mà trong trò trốn tìm muôn đời của thế gian, chưa từng có ai bị tìm ra.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal Sampatti Samarpan của Rabindranath Tagore, 1891; dịch từ bản tiếng Anh The Trust Property trong tập Mashi and Other Stories, 1918
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →