Từ khi theo đạo quân xâm lược tiến vào nước Pháp, Van-te Snáp tự cho mình là kẻ bất hạnh nhất trên đời. Anh ta béo, đi đứng khó nhọc, thở hổn hển, và đau khổ ghê gớm vì đôi bàn chân vừa bẹt vừa nhiều thịt. Hơn nữa, anh ta là người ưa hoà bình và tốt bụng, chẳng cao thượng mà cũng chẳng khát máu chút nào, bố của bốn đứa con mà anh ta yêu quý hết mực, và chồng của một người vợ trẻ tóc vàng, mà tối nào anh ta cũng nhớ tới tuyệt vọng những âu yếm, những chăm sóc nho nhỏ và những cái hôn. Anh ta thích dậy muộn và đi ngủ sớm, thích thong thả ăn những món ngon và uống bia trong các quán bia. Hơn nữa, anh ta nghĩ rằng mọi thứ êm đềm trên đời đều biến mất cùng với sự sống. Và anh ta giữ trong lòng một nỗi căm ghét kinh khủng, vừa bản năng vừa có lý lẽ, đối với đại bác, súng trường, súng lục và gươm, nhưng nhất là đối với lưỡi lê, vì anh ta cảm thấy mình không đủ nhanh nhẹn để múa thứ vũ khí lẹ làng ấy mà che chở cho cái bụng phệ của mình.
Và khi đêm xuống, nằm trên mặt đất, cuộn mình trong áo khoác bên cạnh những người đồng đội đang ngáy, anh ta nghĩ rất lâu về những người thân bỏ lại ở quê nhà, và về những hiểm nguy rải rác trên đường mình đi. Nếu anh ta bị giết thì lũ trẻ sẽ ra sao? Ai sẽ nuôi nấng dạy dỗ chúng? Ngay bây giờ chúng cũng chẳng giàu có gì, mặc dù trước khi đi anh ta đã vay nợ để có ít tiền để lại cho chúng. Và đôi khi Van-te Snáp khóc.
Mỗi khi trận đánh bắt đầu, anh ta thấy hai chân bủn rủn tới mức có lẽ đã ngã quỵ xuống, nếu không nghĩ rằng cả đạo quân sẽ giẫm lên người mình. Tiếng đạn rít làm anh ta dựng cả lông tóc.
Đã mấy tháng nay anh ta sống như thế, trong khiếp sợ và lo âu.
Quân đoàn của anh ta tiến về phía Noóc-măng-đi. Và một hôm, anh ta được phái đi trinh sát cùng một toán nhỏ, chỉ có nhiệm vụ thăm dò một phần vùng đất rồi rút về. Khắp vùng quê có vẻ yên tĩnh. Chẳng có gì cho thấy có một sự kháng cự nào được chuẩn bị.
Thế rồi, khi quân Phổ đang thong thả đi xuống một thung lũng nhỏ bị những khe núi sâu cắt ngang, một loạt súng dữ dội chặn đứng họ lại, quật ngã chừng hai mươi người. Và một toán du kích, bất thình lình từ một cánh rừng nhỏ bằng bàn tay lao ra, xông tới, lưỡi lê tuốt trần.
Ban đầu Van-te Snáp đứng im, ngạc nhiên và hoảng loạn tới mức không nghĩ tới cả chuyện bỏ chạy. Rồi một ý muốn điên cuồng muốn cắm đầu chạy xâm chiếm lấy anh ta. Nhưng anh ta nghĩ ngay rằng mình chạy chậm như rùa so với những người Pháp gầy nhom đang nhảy chồm chồm tới như một đàn dê. Thế là, thấy cách mình sáu bước có một con mương rộng đầy những bụi cây phủ lá khô, anh ta nhảy chụm cả hai chân xuống đó, chẳng nghĩ tới cả chuyện nó sâu hay nông, như người ta nhảy từ trên cầu xuống sông.
Anh ta lao vút qua như một mũi tên, xuyên qua một lớp dây leo và bụi gai dày đặc cào rách mặt mũi chân tay, rồi ngã ngồi đánh huỵch xuống một lớp đá.
Ngẩng ngay lên, anh ta nhìn thấy bầu trời qua cái lỗ mình vừa tạo ra. Cái lỗ ấy có thể tố giác anh ta, nên anh ta thận trọng bò bằng bốn chân dưới đáy con mương ấy, dưới mái che bằng cành lá đan vào nhau, bò thật nhanh, càng xa chỗ đánh nhau càng tốt. Rồi anh ta dừng lại, lại ngồi xuống, nép mình như một con thỏ rừng giữa những đám cỏ khô cao.
Một lúc lâu nữa anh ta còn nghe thấy những tiếng súng nổ, những tiếng la hét, những tiếng rên rỉ. Rồi tiếng ồn ào của trận đánh yếu dần, im bặt. Tất cả lại trở về câm lặng và yên tĩnh.
Bỗng có cái gì động đậy sát bên anh ta. Anh ta giật nảy mình kinh hãi. Đó là một con chim nhỏ đậu xuống một cành cây, làm lay động mấy chiếc lá khô. Suốt gần một giờ, tim Van-te Snáp còn đập thình thịch dồn dập.
Đêm xuống, đổ bóng tối đầy khe núi. Và người lính bắt đầu suy nghĩ. Anh ta sẽ làm gì? Anh ta sẽ ra sao? Quay về với đơn vị?... Nhưng bằng cách nào? Nhưng đi lối nào? Mà rồi lại phải bắt đầu lại cái cuộc sống khủng khiếp đầy lo âu, kinh hoàng, mệt nhọc và đau khổ mà anh ta đã sống từ khi chiến tranh bắt đầu! Không! Anh ta không còn đủ can đảm nữa! Anh ta sẽ không còn đủ sức để chịu đựng những cuộc hành quân và đương đầu với những hiểm nguy từng phút từng giây.
Nhưng làm gì bây giờ? Anh ta không thể ở lại trong khe núi này mà trốn cho tới khi hết chiến tranh. Chắc chắn là không. Nếu không phải ăn, thì cái viễn cảnh ấy cũng chẳng làm anh ta khiếp sợ lắm. Nhưng phải ăn, ngày nào cũng phải ăn.
Thế là anh ta chỉ có một mình, mang vũ khí, mặc quân phục, trên đất địch, xa những người có thể che chở cho mình. Anh ta rùng mình nổi gai ốc.
Bỗng anh ta nghĩ: "Giá mà mình bị bắt làm tù binh!" Và tim anh ta run lên vì thèm muốn, một nỗi thèm muốn mãnh liệt, vô độ, được làm tù binh của quân Pháp. Tù binh! Anh ta sẽ được cứu, được ăn, được ở, tránh xa đạn và gươm, chẳng còn gì phải sợ, trong một nhà tù tử tế được canh gác cẩn mật. Tù binh! Thật là một giấc mơ!
Và anh ta quyết định ngay lập tức:
"Mình sẽ ra hàng."
Anh ta đứng dậy, quyết thực hiện kế hoạch ấy không chậm trễ một phút nào. Nhưng anh ta lại đứng im, bỗng bị vây bủa bởi những suy nghĩ phiền muộn và những nỗi khiếp sợ mới.
Ra hàng ở đâu? Bằng cách nào? Về phía nào? Và những hình ảnh khủng khiếp, những hình ảnh chết chóc, ùa vào tâm trí anh ta.
Phiêu lưu một mình qua các cánh đồng, với chiếc mũ sắt có chóp nhọn, anh ta sẽ gặp những hiểm nguy kinh khủng.
Nếu gặp nông dân thì sao? Những người nông dân ấy, thấy một tên Phổ lạc đường, một tên Phổ không thể tự vệ, sẽ giết anh ta như giết một con chó hoang! Họ sẽ tàn sát anh ta bằng chĩa, bằng cuốc, bằng hái, bằng xẻng! Họ sẽ băm anh ta ra như cám, như cháo, với cái hung hãn của những kẻ chiến bại đã tức giận đến cùng cực.
Nếu gặp du kích thì sao? Những tay du kích ấy, những kẻ cuồng bạo chẳng luật lệ chẳng kỷ luật, sẽ bắn anh ta cho vui, cho qua thì giờ, chỉ để cười khi nhìn cái mặt anh ta. Và anh ta tưởng như mình đã bị dựa vào tường trước mười hai nòng súng, với những cái lỗ nhỏ tròn đen ngòm như đang nhìn mình.
Nếu gặp chính quân đội Pháp thì sao? Những người lính tiền quân sẽ tưởng anh ta là lính trinh sát, một tên lính táo bạo và ranh mãnh đi thám thính một mình, và họ sẽ bắn vào anh ta. Và anh ta đã nghe thấy những tiếng súng nổ lác đác của những người lính nằm trong bụi cây, trong khi anh ta, đứng giữa cánh đồng, khuỵu xuống, thủng lỗ chỗ như cái muôi vớt bọt vì những viên đạn mà anh ta cảm thấy đang xuyên vào da thịt mình.
Anh ta lại ngồi xuống, tuyệt vọng. Tình cảnh của anh ta có vẻ như không có lối thoát.
Đêm đã xuống hẳn, đêm câm lặng và đen kịt. Anh ta không nhúc nhích nữa, giật mình trước mọi tiếng động lạ và nhẹ thoảng qua trong bóng tối. Một con thỏ đập đít bên miệng hang suýt làm Van-te Snáp bỏ chạy. Tiếng cú kêu xé nát tâm hồn anh ta, xuyên qua người anh ta những cơn sợ đột ngột, đau đớn như những vết thương. Anh ta trợn tròn đôi mắt to để cố nhìn trong bóng tối. Và lúc nào anh ta cũng tưởng nghe thấy tiếng chân người đi bên cạnh.
Sau những giờ dài vô tận và những nỗi khắc khoải của kẻ bị đày xuống địa ngục, anh ta nhìn thấy, qua mái che bằng cành lá, bầu trời đang sáng dần. Thế là một nỗi nhẹ nhõm vô biên thấm vào người anh ta. Chân tay anh ta duỗi ra, bỗng như được nghỉ ngơi. Tim anh ta dịu lại. Mắt anh ta nhắm lại. Anh ta ngủ thiếp đi.
Khi anh ta tỉnh dậy, mặt trời dường như đã lên tới gần đỉnh trời. Chắc là giữa trưa. Chẳng có tiếng động nào làm xáo động sự yên tĩnh buồn tẻ của đồng ruộng. Và Van-te Snáp nhận thấy mình đang đói cồn cào.
Anh ta ngáp, miệng ứa nước khi nghĩ tới xúc xích, thứ xúc xích ngon lành của lính. Và dạ dày anh ta đau quặn.
Anh ta đứng dậy, bước mấy bước, thấy hai chân yếu ớt, lại ngồi xuống để suy nghĩ. Suốt hai ba giờ nữa, anh ta cân nhắc lợi hại, cứ chốc chốc lại đổi ý, giằng xé, khổ sở, bị kéo về những lý lẽ trái ngược nhau nhất.
Cuối cùng có một ý có vẻ hợp lý và thực tế, là rình lúc có một người dân làng đi một mình, không mang vũ khí, không mang công cụ làm ruộng nguy hiểm, chạy ra đón đầu, rồi nộp mình vào tay người ấy, làm cho người ấy hiểu thật rõ rằng mình xin hàng.
Thế là anh ta bỏ mũ sắt ra, vì cái chóp nhọn có thể làm lộ mình, rồi thò đầu lên mép hố, thận trọng vô cùng.
Chẳng có ai đi một mình xuất hiện ở chân trời. Đằng kia, bên phải, một ngôi làng nhỏ đang toả lên trời làn khói từ những mái nhà, khói bếp! Đằng kia, bên trái, anh ta nhìn thấy, ở cuối một con đường trồng cây, một toà lâu đài lớn có những ngọn tháp nhỏ hai bên.
Anh ta cứ chờ như thế cho tới tối, đau khổ khủng khiếp, chẳng nhìn thấy gì ngoài những đàn quạ bay qua, chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng rên rỉ âm ỉ của ruột gan mình.
Và đêm lại xuống trên đầu anh ta.
Anh ta nằm dài dưới đáy chỗ ẩn náu, và thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn, đầy ác mộng, giấc ngủ của một người đói lả.
Bình minh lại lên trên đầu anh ta. Anh ta lại tiếp tục quan sát. Nhưng cánh đồng vẫn vắng tanh như hôm trước. Và một nỗi sợ mới len vào đầu óc Van-te Snáp, nỗi sợ chết đói! Anh ta thấy mình nằm dài dưới đáy hố, ngửa mặt, mắt nhắm nghiền. Rồi những con vật, những con vật nhỏ đủ loại, tới gần xác anh ta và bắt đầu ăn, tấn công khắp mọi chỗ cùng một lúc, luồn vào trong quần áo để cắn lớp da lạnh ngắt của anh ta. Và một con quạ to lấy cái mỏ nhọn hoắt mổ vào mắt anh ta.
Thế là anh ta phát điên, tưởng tượng rằng mình sắp ngất đi vì kiệt sức và không thể đi được nữa. Và anh ta đã sắp sửa lao về phía ngôi làng, quyết liều tất cả, bất chấp tất cả, thì nhìn thấy ba người nông dân đi ra đồng, chĩa vác trên vai. Anh ta lại lặn xuống chỗ nấp.
Nhưng khi chiều tối vừa phủ bóng cánh đồng, anh ta chậm chạp bò ra khỏi mương, rồi lên đường, lưng còng, sợ sệt, tim đập thình thịch, đi về phía toà lâu đài xa xa. Anh ta thích vào đó hơn là vào làng, vì ngôi làng có vẻ đáng sợ như một hang đầy cọp.
Các cửa sổ tầng dưới sáng đèn. Một cửa còn để mở. Và một mùi thịt nấu thơm nức bay ra, một mùi xộc thẳng vào mũi và tận đáy bụng Van-te Snáp, làm anh ta co thắt, làm anh ta thở hổn hển, cuốn hút anh ta không cưỡng lại được, và ném vào tim anh ta một sự táo bạo tuyệt vọng.
Và đột nhiên, chẳng suy nghĩ gì, anh ta xuất hiện, đầu đội mũ sắt, trong khung cửa sổ.
Tám người đầy tớ đang ăn tối quanh một chiếc bàn lớn. Nhưng bỗng một cô hầu gái há hốc miệng, đánh rơi cốc, mắt trợn trừng. Mọi ánh mắt nhìn theo ánh mắt cô!
Người ta nhìn thấy kẻ thù!
Lạy Chúa! Quân Phổ tấn công lâu đài!...
Đầu tiên là một tiếng thét, chỉ một tiếng thét, gồm tám tiếng thét ở tám giọng khác nhau, một tiếng thét kinh hoàng khủng khiếp. Rồi một cuộc đứng dậy hỗn loạn, một trận chen lấn, một cảnh xô đẩy, một cuộc tháo chạy cuống cuồng về phía cửa sau. Ghế đổ, đàn ông xô ngã đàn bà rồi giẫm lên mà chạy. Chỉ trong hai giây, căn phòng vắng tanh, bị bỏ lại, với chiếc bàn đầy thức ăn trước mặt Van-te Snáp đang sững sờ, vẫn đứng trong khung cửa sổ.
Ngần ngừ một lúc, anh ta trèo qua bậu cửa, tiến về phía những chiếc đĩa. Cơn đói cùng cực làm anh ta run lên như người lên cơn sốt. Nhưng một nỗi kinh hoàng vẫn giữ anh ta lại, vẫn làm anh ta tê liệt. Anh ta lắng nghe. Cả ngôi nhà như đang run rẩy. Cửa đóng sầm sầm, những bước chân vội vã chạy trên sàn gác. Tên lính Phổ lo lắng vểnh tai nghe những tiếng ồn ào lộn xộn ấy. Rồi anh ta nghe những tiếng uỵch uỵch như có những thân người rơi xuống nền đất mềm dưới chân tường, những thân người nhảy từ tầng hai xuống.
Rồi mọi cử động, mọi náo động đều ngừng hẳn, và toà lâu đài lớn trở nên im lặng như một nấm mồ.
Van-te Snáp ngồi xuống trước một chiếc đĩa còn nguyên, và bắt đầu ăn. Anh ta ăn từng miếng to, như thể sợ bị cắt ngang quá sớm, không kịp nuốt đủ. Anh ta dùng cả hai tay tống những miếng thức ăn vào cái miệng há hoác như một cửa sập. Và từng tảng thức ăn cứ thế tuột xuống dạ dày, làm phồng cả cổ họng khi đi qua. Thỉnh thoảng anh ta dừng lại, sắp vỡ bụng như một cái ống bị nhồi quá đầy. Thế là anh ta cầm lấy bình rượu táo mà thông thực quản, như người ta thông một ống cống bị tắc.
Anh ta vét sạch tất cả các đĩa, tất cả các liễn và tất cả các chai. Rồi, no nê nước và thức ăn, đờ đẫn, đỏ gay, nấc lên từng cơn, đầu óc mụ mẫm, miệng bóng mỡ, anh ta cởi khuy quân phục ra để thở, vả lại cũng chẳng bước nổi một bước nào nữa. Mắt anh ta díp lại, ý nghĩ anh ta tê dại đi. Anh ta gục cái trán nặng trĩu lên hai cánh tay khoanh trên bàn, và dần dần mất hết ý thức về mọi vật, mọi việc.
Mảnh trăng khuyết cuối tháng lờ mờ soi sáng chân trời phía trên những hàng cây trong vườn. Đó là giờ lạnh giá trước khi trời sáng.
Những bóng người lướt đi trong các bụi cây, đông đúc và câm lặng. Thỉnh thoảng một tia trăng làm loé lên trong bóng tối một mũi thép.
Toà lâu đài yên tĩnh dựng lên cái bóng đen lớn của nó. Chỉ còn hai cửa sổ tầng trệt là sáng đèn.
Bỗng một giọng nói như sấm gầm lên:
"Xung phong! Mẹ kiếp! Tấn công! Anh em ơi!"
Thế là trong nháy mắt, cửa ra vào, cửa chớp và cửa kính đều vỡ toang dưới một làn sóng người ào tới, đập phá, đâm thủng tất cả, tràn ngập ngôi nhà. Trong nháy mắt, năm mươi người lính vũ trang tận răng nhảy vào gian bếp nơi Van-te Snáp đang yên lành nghỉ ngơi, chĩa vào ngực anh ta năm mươi khẩu súng đã lên đạn, xô ngã anh ta, lăn anh ta ra, tóm lấy anh ta, trói anh ta từ đầu tới chân.
Anh ta thở hổn hển vì kinh ngạc, quá đờ đẫn để hiểu được gì, bị đánh, bị báng súng nện, và sợ tới phát điên.
Và bỗng một quân nhân béo phị, áo dát vàng chói lọi, đặt chân lên bụng anh ta mà quát:
"Anh là tù binh của tôi, đầu hàng đi!"
Tên lính Phổ chỉ nghe được độc một chữ "tù binh", và anh ta rên lên:
"Gia, gia, gia."
Người ta dựng anh ta dậy, trói vào một chiếc ghế, và những người chiến thắng xúm lại xem xét anh ta với vẻ tò mò ghê gớm, thở phì phò như những con cá voi. Nhiều người ngồi phịch xuống, không chịu nổi vì xúc động và mệt nhọc.
Còn anh ta thì mỉm cười, giờ thì anh ta mỉm cười, chắc chắn rằng cuối cùng mình đã là tù binh!
Một sĩ quan khác bước vào, nói:
"Thưa đại tá, quân địch đã tháo chạy. Nhiều tên có vẻ bị thương. Chúng ta đã làm chủ trận địa."
Viên quân nhân béo phị đang lau trán gầm lên:
"Chiến thắng!"
Rồi ông ta rút trong túi ra một cuốn sổ tay buôn bán nhỏ, viết vào đó:
"Sau một trận chiến đấu ác liệt, quân Phổ đã phải rút lui, mang theo những kẻ chết và bị thương, ước tính khoảng năm mươi tên bị loại khỏi vòng chiến. Nhiều tên đã bị ta bắt sống."
Viên sĩ quan trẻ hỏi tiếp:
"Thưa đại tá, tôi phải bố trí thế nào ạ?"
Viên đại tá đáp:
"Chúng ta sẽ rút lui để tránh một cuộc phản công có pháo binh và lực lượng vượt trội."
Và ông ra lệnh lên đường.
Đoàn quân tập hợp lại trong bóng tối, dưới chân tường lâu đài, rồi chuyển quân, vây kín khắp mọi phía Van-te Snáp đang bị trói chặt, do sáu chiến binh tay lăm lăm súng lục áp giải.
Người ta phái đi những toán trinh sát để mở đường. Đoàn quân thận trọng tiến lên, thỉnh thoảng lại dừng.
Lúc trời rạng sáng, đoàn quân tới huyện lỵ La Rốt-Oa-den, nơi đội vệ quốc quân đã lập nên chiến công ấy.
Dân chúng lo âu và náo nức đang chờ đợi. Khi nhìn thấy chiếc mũ sắt của tên tù binh, những tiếng hò reo vang dậy. Đàn bà giơ tay lên trời. Các bà già khóc. Một ông cụ ném chiếc nạng vào tên Phổ, làm toạc mũi một người lính áp giải.
Viên đại tá gào lên:
"Hãy bảo vệ an toàn cho tù binh!"
Cuối cùng người ta cũng tới được toà thị chính. Nhà giam được mở ra, và Van-te Snáp bị quẳng vào trong, được cởi trói.
Hai trăm người mang súng đứng gác quanh toà nhà.
Thế là, mặc dù những triệu chứng khó tiêu đã hành hạ anh ta từ lúc nãy, tên lính Phổ, sướng điên lên, bắt đầu nhảy múa, nhảy múa cuồng loạn, giơ tay giơ chân, vừa nhảy vừa cười như điên dại, cho tới lúc kiệt sức ngã lăn bên chân tường.
Anh ta đã là tù binh! Được cứu rồi!
Thế là lâu đài Săng-pi-nhê được giành lại từ tay quân địch, sau vẻn vẹn sáu giờ bị chiếm đóng.
Đại tá Ra-chi-ê, nhà buôn dạ, người đã chỉ huy đội vệ quốc quân La Rốt-Oa-den lập chiến công ấy, được tặng huân chương.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn