Chương 1: Văn phòng trạng sư phố Vi-vi-en
— Thôi rồi! Lại cái áo khoác cũ của chúng ta!
Câu ấy bật ra từ miệng một cậu thư ký thuộc loại mà trong các văn phòng trạng sư người ta gọi là chú bé chạy giấy. Lúc ấy cậu đang ngoạm một mẩu bánh mì ngon lành. Cậu bứt một ít ruột bánh, vo thành viên, rồi tinh quái ném qua ô cửa thông gió của khung cửa sổ cậu đang tì người vào. Viên bánh bay trúng đích, chạm vào mũ của một người lạ đang đi ngang qua sân, rồi nảy lên gần ngang tầm cửa sổ. Ngôi nhà ấy nằm trên phố Vi-vi-en, nơi ông Đéc-vin, trạng sư, đặt văn phòng.
— Thôi đi, Xi-mô-nanh, đừng có giở trò với người ta nữa, không thì tôi tống cổ cậu ra đường đấy. Thân chủ có nghèo đến đâu thì cũng vẫn là con người, quỷ tha ma bắt! — người thư ký trưởng nói, tay ngừng cộng dở một bản kê chi phí.
Chú bé chạy giấy, như Xi-mô-nanh đây, thường là một cậu trai mười ba, mười bốn tuổi. Ở văn phòng nào cũng thế, cậu ta thuộc quyền riêng của người thư ký trưởng. Ông này sai cậu đi mua vặt, đưa thư tình, xen giữa những chuyến cậu mang giấy tờ tới nhà thừa phát lại và mang đơn từ lên Toà án. Về nết ăn ở, cậu là đứa trẻ đầu đường xó chợ của Pa-ri. Về số phận, cậu đã thuộc về nghề kiện tụng. Đứa trẻ ấy hầu như bao giờ cũng không biết thương ai, không chịu kiềm chế, không ai dạy nổi. Cậu hay đặt vè, hay chế giễu, tham ăn và lười biếng. Vậy mà hầu như cậu thư ký nhỏ nào cũng có một bà mẹ già ở trên tầng năm, và cậu chia với mẹ ba bốn chục phơ-răng tiền công mỗi tháng.
— Nếu đó là con người, sao bác lại gọi ông ấy là cái áo khoác cũ? — Xi-mô-nanh hỏi lại, với vẻ cậu học trò vừa bắt được lỗi thầy.
Rồi cậu lại nhai bánh mì với pho mát, vai tựa vào thanh khung cửa sổ. Cậu nghỉ ngơi trong tư thế đứng, như mấy con ngựa kéo xe khách, một chân co lên, mũi giày tì vào chân kia.
— Ta chơi lão quái gở ấy một vố gì đây nhỉ? — người thư ký thứ ba tên là Gô-đa-sa nói khẽ.
Anh ta vừa ngừng giữa chừng một lập luận mà anh ta đọc cho người thư ký thứ tư chép thành bản chính của một lá đơn, còn hai cậu mới ở tỉnh lên thì chép các bản sao. Rồi anh ta lại tiếp tục đọc ứng khẩu:
— … Nhưng, với sự khôn ngoan cao cả và nhân từ của Người, Đức vua Lu-i Mười Tám, — viết chữ ra cho đủ, này, ông thông thái chép bản chính kia! — vào lúc Người nắm lại dây cương vương quốc, đã thấu hiểu… — thấu hiểu cái gì nhỉ, lão vua béo tốt ấy? — sứ mệnh cao cả mà Đấng Thiêng Liêng đã giao phó cho Người! — chấm than, rồi sáu dấu chấm nữa, ở Toà án người ta đủ sùng đạo để cho qua chuyện ấy — và ý nghĩ đầu tiên của Người, như ngày ký đạo dụ dưới đây đã chứng minh, là hàn gắn những bất hạnh do các tai hoạ khủng khiếp và đau thương của thời cách mạng gây ra, bằng cách trả lại cho những bề tôi trung thành và đông đảo của Người — chữ đông đảo là một lời nịnh khéo để làm vừa lòng toà — tất cả tài sản chưa bị bán của họ, dù tài sản ấy nằm trong của công, dù nằm trong điền sản thường hay điền sản đặc biệt của hoàng gia, hay rốt cuộc dù nằm trong tài sản được cấp cho các cơ sở công cộng, vì chúng tôi khẳng định, và tự nhận là đủ tư cách để bảo vệ rằng, đó chính là tinh thần và ý nghĩa của đạo dụ nổi tiếng và hết sức công minh ban hành vào…
— Khoan đã, — Gô-đa-sa bảo ba người kia, — cái câu khốn kiếp này đã lấp đầy cuối trang của tôi rồi.
Anh ta liếm ướt mép quyển vở để lật trang giấy có đóng dấu dày cộp, rồi nói tiếp:
— Này, các cậu mà muốn chơi lão một vố thì cứ bảo lão rằng ông chủ chỉ tiếp thân chủ trong khoảng từ hai đến ba giờ sáng. Xem lão có mò tới không, cái lão già bất lương ấy!
Rồi Gô-đa-sa nối lại câu đang dở:
— … ban hành vào… Các cậu chép tới đó chưa?
— Rồi! — ba người chép cùng kêu lên.
Mọi việc cùng chạy một lúc: lá đơn, câu chuyện phiếm và cả âm mưu.
— Ban hành vào… Hả? Bố Bu-ca ơi, đạo dụ ấy ngày nào nhỉ? Phải cho rõ ràng từng li từng tí, mẹ kiếp! Thế mới đầy được trang.
— Mẹ kiếp! — một cậu chép bản sao lặp lại, trước khi Bu-ca, người thư ký trưởng, kịp trả lời.
— Sao, cậu chép cả chữ mẹ kiếp vào đấy à? — Gô-đa-sa kêu lên, nhìn một cậu mới tới, vẻ vừa nghiêm khắc vừa giễu cợt.
— Đúng thế, — người thư ký thứ tư nghiêng sang nhìn bản chép của người bên cạnh, — cậu ta viết: "Phải cho rõ ràng từng li từng tí, mẹ kiếp", lại còn viết sai chính tả nữa.
Cả đám thư ký phá lên cười.
— Ơ kìa, anh Uy-rê, anh tưởng mẹ kiếp là một thuật ngữ luật à, thế mà anh bảo anh quê ở Moóc-ta-nhơ! — Xi-mô-nanh kêu lên.
— Xoá cho sạch cái đó đi! — người thư ký trưởng nói. — Ông thẩm phán được giao duyệt chi phí hồ sơ mà thấy những thứ như thế thì sẽ bảo chúng ta coi thường toà mất! Anh sẽ làm phiền lòng ông chủ đấy. Thôi nào, đừng làm những trò ngớ ngẩn như thế nữa, anh Uy-rê! Một người Noóc-măng không được viết đơn kiện một cách cẩu thả. Đó là khẩu lệnh "Bồng súng!" của giới thư ký toà án đấy.
— Ban hành vào… vào… — Gô-đa-sa hỏi. — Nói đi chứ, ngày nào, Bu-ca?
— Tháng sáu năm một nghìn tám trăm mười bốn, — người thư ký trưởng đáp, mắt vẫn không rời công việc.
Có tiếng gõ cửa văn phòng cắt ngang câu văn của lá đơn dài lê thê. Năm cậu thư ký răng chắc, mắt sáng, đầy vẻ chế giễu, đầu tóc xoăn tít, cùng ngẩng lên nhìn ra cửa, sau khi đồng thanh kêu bằng giọng của người hát lễ:
— Mời vào!
Bu-ca vẫn vùi mặt trong đống giấy tờ, thứ mà dân Toà án gọi là giấy vụn, và tiếp tục lập bản kê chi phí đang làm dở.
Văn phòng là một gian phòng rộng, có cái lò sưởi bằng gang muôn thuở, thứ đồ đạc mà hang ổ kiện tụng nào cũng có. Những ống khói chạy chéo qua phòng, nối vào một lò sưởi tường đã bị bịt kín. Trên mặt đá cẩm thạch của lò sưởi ấy bày đủ thứ: mấy mẩu bánh mì, những miếng pho mát Bri cắt hình tam giác, sườn lợn tươi, cốc chén, chai lọ, và tách sô-cô-la của người thư ký trưởng. Mùi những món ăn ấy quyện chặt với mùi khét của cái lò đốt quá tay, với cái mùi riêng của bàn giấy và giấy má, đến nỗi giả như có con cáo ở đó thì cũng chẳng ai ngửi ra mùi hôi của nó. Sàn nhà đã lấm bùn và tuyết do các thư ký mang vào. Gần cửa sổ là chiếc bàn giấy nắp cuốn của thư ký trưởng, quay lưng vào đó là chiếc bàn nhỏ dành cho thư ký thứ hai. Lúc ấy người thư ký thứ hai đang ở Toà án. Đồng hồ chừng tám, chín giờ sáng.
Văn phòng không có thứ trang trí nào ngoài những tấm áo phích lớn màu vàng, loại yết thị báo phát mãi nhà đất, bán đấu giá, chia tài sản giữa người đã thành niên và người chưa thành niên, các phiên đấu giá chính thức hay sơ bộ. Đó là niềm vinh quang của các văn phòng! Sau lưng người thư ký trưởng là một cái tủ ngăn khổng lồ phủ kín bức tường từ trần xuống sàn. Ngăn nào cũng nhét đầy những tập hồ sơ, lủng lẳng vô số nhãn giấy và những mẩu chỉ đỏ, thứ làm cho hồ sơ kiện tụng có một dáng vẻ riêng không lẫn được. Những tầng dưới của tủ đầy hộp các-tông đã ngả vàng vì dùng lâu, viền giấy xanh, trên ghi tên các thân chủ lớn, những vụ béo bở của họ đang được nấu nướng ở đây.
Những ô kính bẩn của cửa sổ chỉ để lọt vào chút ánh sáng. Vả lại, vào tháng hai, ở Pa-ri có rất ít văn phòng nào viết được mà không cần thắp đèn trước mười giờ sáng. Văn phòng nào cũng bị bỏ bê theo một kiểu dễ hiểu: ai cũng tới, chẳng ai ở lại, chẳng ai có lợi ích riêng gắn với một chỗ tầm thường như thế. Trạng sư, người đi kiện, thư ký, chẳng ai thiết sự sang trọng của một nơi mà với người này là lớp học, với người kia là chỗ đi qua, còn với ông chủ là phòng thí nghiệm. Đồ đạc nhem nhuốc được truyền từ trạng sư này sang trạng sư khác một cách kính cẩn như đồ thờ, đến nỗi có những văn phòng vẫn còn giữ những hộp đựng cát thấm mực, những khuôn kẻ gạch, những túi đựng hồ sơ có từ thời các viên biện lý ở Toà Sa-tơ-lê, toà án ngày trước, tương đương với Toà Sơ thẩm bây giờ.
Văn phòng tối tăm, bóng nhẫy bụi bặm này, cũng như mọi văn phòng khác, có một cái gì đó khiến người đi kiện ghê sợ, và biến nó thành một trong những thứ quái dị gớm guốc nhất của Pa-ri. Quả thật, nếu không có những phòng thánh ẩm thấp, nơi lời cầu nguyện được cân đo và trả tiền như hàng gia vị; nếu không có những cửa hàng của mấy mụ bán đồ cũ, nơi phất phơ những mớ giẻ rách làm tàn lụi mọi ảo tưởng của đời người bằng cách chỉ cho ta thấy những cuộc vui của ta rốt cuộc sẽ đi tới đâu; nếu không có hai cái cống rãnh ấy của chất thơ, thì văn phòng trạng sư hẳn là cái cửa hàng xã hội ghê tởm nhất trong mọi cửa hàng. Nhưng sòng bạc, toà án, phòng bán vé số và nhà chứa cũng đều như thế cả. Tại sao vậy? Có lẽ vì ở những nơi ấy, tấn kịch diễn ra ngay trong tâm hồn con người, nên người ta chẳng còn để ý gì tới đồ đạc bày biện xung quanh. Điều đó cũng giải thích vì sao những nhà tư tưởng lớn và những kẻ đầy tham vọng thường sống giản dị.
— Con dao gọt bút của tôi đâu rồi?
— Tôi đang ăn sáng!
— Đi chỗ khác chơi! Một vết mực loang ngay trên lá đơn rồi đây này!
— Suỵt! Các vị ơi!
Những tiếng kêu ấy cùng bật ra một lúc, đúng khi người đi kiện già đóng cửa lại, với cái vẻ khúm núm làm biến dạng mọi cử chỉ của kẻ bất hạnh. Người lạ cố mỉm cười, nhưng các thớ thịt trên mặt ông chùng xuống khi ông tìm hoài mà không thấy một chút niềm nở nào trên sáu gương mặt thờ ơ đến tàn nhẫn của sáu cậu thư ký. Hẳn là đã quen đánh giá người, ông nói rất lễ độ với chú bé chạy giấy, mong rằng đứa trẻ hay bị sai vặt này sẽ trả lời mình dịu dàng.
— Thưa cậu, ông chủ của cậu có tiếp khách không?
Chú bé chạy giấy tinh quái không trả lời người đàn ông tội nghiệp, chỉ lấy mấy ngón tay trái gõ gõ lên tai, như muốn nói: "Tôi điếc."
— Ông cần gì vậy? — Gô-đa-sa hỏi.
Vừa hỏi, anh ta vừa nuốt một miếng bánh mì to đến mức có thể nhồi vào nòng một khẩu đại bác, tay vung con dao, hai chân bắt chéo, bàn chân đang vắt lên giơ cao ngang tầm mắt.
— Thưa ông, đây là lần thứ năm tôi tới đây, — người kiên nhẫn đáp. — Tôi muốn được nói chuyện với ông Đéc-vin.
— Có việc chứ?
— Có, nhưng tôi chỉ có thể trình bày với ông…
— Ông chủ đang ngủ. Nếu ông muốn hỏi ý kiến về điều gì khó khăn, thì ông ấy chỉ làm việc nghiêm túc vào lúc nửa đêm. Nhưng nếu ông chịu kể vụ việc cho chúng tôi nghe, thì chúng tôi cũng có thể, chẳng kém gì ông ấy, giúp ông…
Người lạ vẫn đứng lặng. Ông khiêm nhường đưa mắt nhìn quanh, như con chó lẻn vào một gian bếp lạ, sợ bị ăn đòn. Do cái đặc ân của nghề mình, thư ký văn phòng chẳng bao giờ sợ kẻ trộm, nên họ không hề nghi ngờ người đàn ông mặc áo khoác, cứ để ông nhìn ngắm căn phòng. Ông tìm hoài một chiếc ghế để ngồi nghỉ, vì trông ông mệt lả, nhưng không có. Các trạng sư cố ý để ít ghế trong văn phòng. Người thân chủ tầm thường đứng chờ mỏi chân thì sẽ cằn nhằn bỏ đi, nhưng như thế ông ta cũng không chiếm mất thứ thời gian mà, theo lời một viên biện lý già, chẳng được tính vào tiền thù lao.
— Thưa ông, — người lạ đáp, — tôi đã có hân hạnh báo trước với ông rằng tôi chỉ có thể trình bày việc của tôi với ông Đéc-vin. Tôi sẽ chờ tới khi ông ấy dậy.
Bu-ca đã cộng xong. Ngửi thấy mùi sô-cô-la, anh rời chiếc ghế bành đan mây, đi tới lò sưởi, đưa mắt nhìn ông già từ đầu đến chân, nhìn cái áo khoác, rồi nhăn mặt một cách khó tả. Có lẽ anh nghĩ rằng có vắt người thân chủ này kiểu gì thì cũng không moi ra được một xu. Thế là anh chen vào bằng một câu cụt lủn, cốt để tống khứ cho văn phòng một vị khách vô bổ.
— Họ nói thật với ông đấy. Ông chủ chỉ làm việc vào ban đêm. Nếu việc của ông hệ trọng, tôi khuyên ông quay lại vào một giờ sáng.
Người đi kiện nhìn người thư ký trưởng với vẻ ngây dại, rồi đứng sững một lúc. Đã quen với mọi kiểu thay đổi nét mặt, mọi cái kỳ quặc sinh ra từ sự lưỡng lự hay mơ màng vốn là đặc điểm của những người mê kiện tụng, đám thư ký lại tiếp tục ăn, hàm nhai rào rạo như ngựa bên máng cỏ, và chẳng bận tâm gì tới ông già nữa.
— Thưa ông, tối nay tôi sẽ tới, — cuối cùng ông già nói.
Với cái bướng bỉnh riêng của người khốn khổ, ông muốn bắt quả tang lòng người vô nhân đạo. Lời châm biếm duy nhất mà cảnh nghèo được phép buông ra là buộc Công lý và Lòng từ thiện phải chối từ một cách bất công. Khi những người khốn khổ đã chứng minh được rằng Xã hội dối trá, họ càng lao mình mạnh hơn vào lòng Chúa.
— Thế có phải một cái đầu lâu chính cống không cơ chứ? — Xi-mô-nanh nói, không chờ ông già đóng hẳn cửa.
— Trông ông ta như người vừa bị đào dưới mồ lên, — một cậu thư ký nói tiếp.
— Hẳn là một ông đại tá nào đó tới đòi khoản lương còn nợ, — người thư ký trưởng nói.
— Không, đó là một ông gác cổng cũ, — Gô-đa-sa nói.
— Cá là ông ta thuộc dòng quý tộc, — Bu-ca kêu lên.
— Tôi cá là ông ta từng làm gác cổng, — Gô-đa-sa vặn lại. — Chỉ có gác cổng mới được tạo hoá ban cho những cái áo khoác sờn rách, bóng mỡ, gấu tua tủa như cái áo của lão già kia! Các cậu không thấy đôi ủng vẹt gót ngấm nước, cái cà vạt thay luôn cả sơ mi của lão à? Lão đã ngủ dưới gầm cầu đấy.
— Ông ta có thể vừa là quý tộc vừa từng kéo dây mở cổng chứ, — người thư ký thứ tư kêu lên. — Chuyện ấy đã từng có rồi!
— Không, — Bu-ca nói giữa những tràng cười, — tôi khẳng định ông ta là chủ lò bia năm một nghìn bảy trăm tám mươi chín, rồi làm đại tá thời Cộng hoà.
— Ồ! Tôi cá một chầu xem hát cho cả bọn rằng ông ta chưa từng làm lính, — Gô-đa-sa nói.
— Được! — Bu-ca đáp.
— Ông ơi! Ông ơi! — chú thư ký nhỏ mở cửa sổ gọi.
— Mày làm gì thế, Xi-mô-nanh? — Bu-ca hỏi.
— Em gọi để hỏi ông ta là đại tá hay gác cổng. Ông ta phải biết chứ!
Cả đám thư ký cười ồ. Còn ông già thì đã leo trở lên cầu thang.
— Ta sẽ nói gì với ông ta bây giờ? — Gô-đa-sa kêu lên.
— Cứ để tôi! — Bu-ca đáp.
Người đàn ông tội nghiệp rụt rè bước vào, mắt nhìn xuống, có lẽ để khỏi để lộ cơn đói nếu nhìn những món ăn quá thèm thuồng.
— Thưa ông, — Bu-ca nói với ông, — ông có vui lòng cho chúng tôi biết quý danh, để ông chủ biết liệu…
— Sa-be.
— Có phải ông đại tá đã tử trận ở Ây-lau không? — Uy-rê hỏi.
Cậu ta chưa nói câu nào, nên đang ghen tị muốn góp thêm một câu chế giễu vào những câu của người khác.
— Chính ông ấy đây, thưa ông, — ông già đáp, với một vẻ giản dị như người thời cổ.
Rồi ông lui ra.
— Ối giời!
— Thua rồi!
— Bụp!
— Ồ!
— A!
— Bùm!
— A, cái lão già láu cá!
— Tình tang, tình tang, tình!
— Đi đứt!
— Anh Đê-rốt ơi, anh sẽ được đi xem hát không mất tiền nhé! — Uy-rê, người thư ký thứ tư, nói với một cậu mới tới, vừa nói vừa vỗ vào vai cậu kia một cái đủ quật ngã một con tê giác.
Đó là một trận lũ tiếng la, tiếng cười, tiếng reo, muốn tả lại thì phải dùng hết mọi từ tượng thanh của ngôn ngữ.
— Ta đi rạp nào đây?
— Nhà hát Ô-pê-ra! — người thư ký trưởng kêu lên.
— Trước hết, — Gô-đa-sa nói, — chưa ai chỉ định rạp nào cả. Nếu muốn, tôi có thể dẫn các cậu đi xem bà Xa-ki múa trên dây.
— Bà Xa-ki đâu phải là một buổi diễn, — Đê-rốt nói.
— Thế nào là một buổi diễn? — Gô-đa-sa vặn lại. — Trước hết ta hãy xác định sự việc đã. Tôi đã cá cái gì, thưa các vị? Một buổi diễn. Thế nào là một buổi diễn? Là một thứ để người ta xem…
— Nhưng theo cái lối ấy thì anh trả nợ bằng cách dẫn bọn tôi ra xem nước chảy dưới cầu Mới cũng được à? — Xi-mô-nanh ngắt lời.
— … một thứ để người ta xem mà phải trả tiền, — Gô-đa-sa nói tiếp.
— Nhưng có bao nhiêu thứ phải trả tiền mới được xem mà đâu phải buổi diễn. Định nghĩa ấy không chính xác, — Uy-rê nói.
— Này, nghe tôi nói đã nào!
— Anh lý sự cùn rồi, ông bạn ạ, — Bu-ca nói.
— Phòng tượng sáp Cuốc-xi-uýt có phải là một buổi diễn không? — Gô-đa-sa hỏi.
— Không, — người thư ký trưởng đáp, — đó là một phòng trưng bày tượng.
— Tôi cá một trăm phơ-răng ăn một xu, — Gô-đa-sa nói tiếp, — rằng phòng tượng Cuốc-xi-uýt hội đủ mọi thứ để được mang tên buổi diễn. Ở đó có thứ để xem, với các mức giá khác nhau tuỳ theo chỗ người ta muốn đứng.
— Lắm điều, lắm lời, — Xi-mô-nanh nói.
— Coi chừng tao tát cho đấy! — Gô-đa-sa nói.
Đám thư ký nhún vai.
— Vả lại, chưa có gì chứng minh rằng lão khỉ già ấy không giễu chúng ta, — Gô-đa-sa nói, thôi không lý sự nữa vì lý lẽ của anh đã chìm nghỉm trong tiếng cười của những người khác. — Theo lương tâm mà nói thì đại tá Sa-be chết thật rồi. Vợ ông ấy đã tái giá với bá tước Phe-rô, uỷ viên Hội đồng Nhà nước. Bà Phe-rô lại là thân chủ của văn phòng mình đấy!
— Vụ này hoãn tới mai, — Bu-ca nói. — Làm việc đi, các vị! Khỉ thật! Ở đây chẳng ai làm gì cả. Viết cho xong lá đơn đi, nó phải được tống đạt trước phiên xử của Phòng Bốn. Vụ ấy xử hôm nay đấy. Nào, lên ngựa!
— Nếu đó là đại tá Sa-be thật, thì khi thằng ranh Xi-mô-nanh giả điếc, ông ấy chẳng đã đá cho nó một phát vào đít rồi sao? — Uy-rê nói, coi nhận xét này còn có sức thuyết phục hơn lý lẽ của Gô-đa-sa.
— Vì chưa ngã ngũ gì cả, — Bu-ca nói, — ta thoả thuận thế này: ta sẽ đi ngồi lô hạng nhì ở Nhà hát Pháp xem Tan-ma đóng vai Nê-rông. Xi-mô-nanh thì đứng dưới sàn.
Nói rồi, người thư ký trưởng ngồi vào bàn, và ai nấy đều làm theo.
— Ban hành vào tháng sáu năm một nghìn tám trăm mười bốn, viết bằng chữ cho đủ, — Gô-đa-sa nói. — Chép tới đó chưa?
— Rồi, — hai người chép bản sao và người chép bản chính đáp.
Ngòi bút của họ lại bắt đầu rít trên giấy có đóng dấu, làm vang lên trong văn phòng một thứ tiếng như của cả trăm con bọ cánh cứng bị lũ học trò nhốt trong những ống giấy.
— Và chúng tôi tin tưởng rằng các vị thẩm phán của toà án, — người đọc ứng khẩu nói. — Khoan! Tôi phải đọc lại câu đã, chính tôi cũng không hiểu nổi mình nữa.
— Bốn mươi sáu… Chuyện ấy chắc hay xảy ra lắm!… với ba là bốn mươi chín, — Bu-ca lẩm nhẩm.
— Chúng tôi tin tưởng, — Gô-đa-sa đọc lại tất cả rồi nói tiếp, — rằng các vị thẩm phán của toà án sẽ không kém phần cao cả so với tác giả tôn kính của đạo dụ, và các vị sẽ trừng phạt thích đáng những đòi hỏi đáng khinh của ban quản trị Đại Văn phòng Bắc Đẩu Bội tinh, bằng cách xác lập án lệ theo nghĩa rộng mà chúng tôi trình bày ở đây…
— Anh Gô-đa-sa có muốn uống cốc nước không? — chú thư ký nhỏ hỏi.
— Cái thằng ranh Xi-mô-nanh! — Bu-ca nói. — Này, thắng đôi ngựa hai lớp đế của mày vào, cầm gói này, rồi chạy một mạch tới Viện Thương binh.
— … mà chúng tôi trình bày ở đây, — Gô-đa-sa đọc tiếp. — Thêm vào: vì quyền lợi của bà… viết bằng chữ cho đủ… tử tước phu nhân Grăng-li-ơ…
— Sao! — người thư ký trưởng kêu lên. — Anh lại đi viết đơn cho vụ Tử tước phu nhân Grăng-li-ơ kiện Bắc Đẩu Bội tinh à? Vụ ấy văn phòng nhận khoán trọn gói, làm thêm đơn thì văn phòng chịu thiệt! Chà, anh đúng là đồ ngốc! Cất ngay bản chép với bản nháp đi cho tôi, để dành cho vụ Na-va-ranh kiện các Nhà tế bần. Muộn rồi, tôi sẽ thảo một tờ trình ngắn với mấy câu "xét rằng", rồi tự tôi mang lên Toà án…
Cảnh tượng ấy là một trong muôn vàn thú vui mà về sau, khi nghĩ tới tuổi trẻ, người ta phải thốt lên: "Hồi ấy mới là thời đẹp nhất!"
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn