Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một. Con quỷ đánh cắp mặt trăng

Đêm trước Giáng sinh · Chương 1/5 · của Nikolai Gogol

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 22.854 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày cuối cùng trước lễ Giáng sinh đã qua.…
  2. 4:37Trong lúc người hoạ sĩ còn đang miệt mài…
  3. 7:21Thế đấy, không có, Chúp nói, hơi bực vì…
  4. 9:19Không, bác ạ, đi thôi! Không được, phải đi!
  5. 11:33Phải, các anh trai làng ơi, các anh có…
  6. 13:36Nhưng Ốc-xa-na ngả má ra, khi nó đã ở…
  7. 15:39"Mình còn chờ gì nữa?" Anh thợ rèn tự…
  8. 19:36Có lẽ chính những mánh khoé và sự khôn…

Chương 1: Phần một. Con quỷ đánh cắp mặt trăng

Ngày cuối cùng trước lễ Giáng sinh đã qua. Đêm đông trong vắt buông xuống. Những vì sao ló ra. Mặt trăng uy nghi lên cao, soi sáng cho người tốt và cho cả thế gian, để mọi người vui vẻ đi hát mừng Giáng sinh, ca ngợi Chúa Ki-tô. Trời rét hơn ban sáng, nhưng bù lại lặng đến nỗi tiếng tuyết lạo xạo dưới gót ủng vang xa nửa dặm. Chưa có tốp trai làng nào xuất hiện dưới cửa sổ các túp nhà. Chỉ có mặt trăng lén nhìn vào trong, như giục những cô gái đang sửa soạn chạy mau ra ngoài trên lớp tuyết kêu lạo xạo.

Đúng lúc ấy, từ ống khói một túp nhà, khói cuồn cuộn bốc lên, bay thành đám mây khắp bầu trời, và cùng với khói, một mụ phù thuỷ cưỡi chổi bay lên.

Giá lúc ấy ông hội thẩm làng Xô-rô-chin-xư đi ngang qua trên cỗ xe ba ngựa của dân làng, đội cái mũ viền lông cừu non may theo kiểu lính kỵ binh cầm thương, mặc áo lông cừu xanh lót da cừu đen, tay cầm cái roi tết quỷ quái mà ông vẫn quen dùng để thúc người đánh xe, thì hẳn ông đã nhận ra mụ. Vì chẳng có mụ phù thuỷ nào trên đời thoát được mắt ông hội thẩm làng Xô-rô-chin-xư. Ông biết từng con một, lợn nhà mỗi bà đẻ bao nhiêu con, trong rương có bao nhiêu vải, và ngày chủ nhật người tốt nào đem cầm ở quán rượu đúng món quần áo, đồ đạc gì. Nhưng ông hội thẩm làng Xô-rô-chin-xư không đi qua, mà ông việc gì phải lo chuyện người khác, ông có vùng của ông.

Trong khi ấy mụ phù thuỷ đã bay cao đến nỗi chỉ còn là một chấm đen lấp loáng trên kia. Nhưng chấm đen hiện ra đến đâu, thì ở đó những ngôi sao lần lượt biến mất khỏi bầu trời. Chẳng mấy chốc mụ phù thuỷ đã hốt đầy một ống tay áo. Chỉ còn ba bốn ngôi sao lấp lánh.

Bỗng từ phía bên kia hiện ra một chấm khác, to dần, kéo dài ra, và đã không còn là một chấm nữa. Một người cận thị, dù có đeo lên mũi thay cho kính cái bánh xe của cỗ xe ông uỷ viên, cũng không nhận ra đó là cái gì. Phía trước thì hệt một ông người Đức: cái mõm nhỏ hẹp, cứ ngoay ngoáy ngửi mọi thứ gặp phải, đầu mõm cũng như lợn nhà ta, là một cái mũi tròn tròn. Chân thì mảnh đến nỗi nếu ông trưởng làng I-a-rét-xki có đôi chân như thế, ông sẽ gãy chân ngay điệu nhảy đầu tiên. Nhưng bù lại, phía sau thì hắn đúng là một ông chưởng lý tỉnh mặc quân phục, vì lủng lẳng một cái đuôi nhọn và dài như vạt áo đuôi tôm đồng phục thời nay.

Chỉ nhờ chòm râu dê dưới mõm, cặp sừng nhỏ chĩa lên trên đầu, và cả người chẳng trắng hơn anh thợ cạo ống khói là mấy, mới đoán ra được hắn chẳng phải người Đức cũng chẳng phải ông chưởng lý tỉnh, mà chỉ là một con quỷ, chỉ còn mỗi đêm nay được lang thang khắp thế gian mà dạy người tốt phạm tội. Ngày mai, khi những hồi chuông đầu tiên gọi lễ sáng vang lên, hắn sẽ cụp đuôi chạy một mạch về hang không dám ngoái lại.

Trong khi ấy con quỷ lén lút bò về phía mặt trăng, đã giơ tay ra định chộp lấy. Nhưng bỗng hắn rụt tay lại như bị bỏng, mút ngón tay, đá chân lia lịa, rồi chạy vòng sang phía bên kia, lại nhảy lùi lại, rụt tay về. Dù thất bại mấy lần, con quỷ ranh mãnh vẫn không bỏ trò nghịch. Chạy đến gần, bỗng hắn chộp lấy mặt trăng bằng cả hai tay, vừa nhăn nhó vừa thổi phù phù, chuyền nó từ tay này sang tay kia, như anh nông dân bốc than hồng bằng tay không để châm tẩu. Cuối cùng hắn vội nhét nó vào túi, rồi như chưa có chuyện gì, chạy tiếp.

Ở làng Đi-căn-ca, chẳng ai nghe thấy con quỷ ăn cắp mặt trăng. Thật ra viên thư ký xã, lúc bò bằng bốn chân ra khỏi quán rượu, có thấy mặt trăng chẳng hiểu vì sao lại nhảy múa trên trời, và thề thốt quả quyết điều ấy với cả làng. Nhưng dân làng lắc đầu, thậm chí còn cười chế nhạo ông.

Thế nhưng vì lẽ gì mà con quỷ lại quyết làm một việc phạm pháp đến thế? Vì lẽ này: hắn biết anh Cô-dắc giàu có Chúp được thầy giúp lễ mời đến ăn cháo lễ Giáng sinh. Ở đó sẽ có ông trưởng làng, một người họ hàng của thầy giúp lễ mới ở ca đoàn của đức giám mục về, mặc áo choàng xanh, hát giọng trầm thấp nhất, anh Cô-dắc Xvéc-bư-gút và vài người nữa. Ở đó, ngoài cháo lễ, còn có rượu nấu mật, rượu trắng ngâm nghệ tây và vô số món ăn.

Trong khi ấy, cô con gái của anh ta, người đẹp nhất làng, sẽ ở nhà một mình. Và chắc chắn sẽ có anh thợ rèn đến chỗ cô, một chàng trai lực lưỡng khoẻ mạnh, ra trò, người mà con quỷ ghét còn hơn ghét những bài giảng của cha Côn-đrát.

Những lúc rảnh việc, anh thợ rèn hay vẽ, và có tiếng là hoạ sĩ giỏi nhất vùng. Chính ông đội trưởng L., hồi còn khoẻ mạnh, đã cố ý gọi anh lên Pôn-ta-va sơn hàng rào ván quanh nhà mình. Mọi cái bát mà dân Cô-dắc làng Đi-căn-ca húp xúp củ cải đỏ đều do anh thợ rèn vẽ hoa. Anh thợ rèn là người kính sợ Chúa, hay vẽ thánh tượng các thánh, đến giờ ở nhà thờ làng bên vẫn còn bức Thánh sử Lu-ca của anh.

Nhưng tuyệt tác của anh là bức tranh vẽ trên tường nhà thờ, ở tiền đường bên phải. Trong đó anh vẽ Thánh Phê-rô vào ngày Phán xét cuối cùng, tay cầm chìa khoá, đuổi quỷ dữ ra khỏi địa ngục. Con quỷ hoảng sợ chạy tán loạn khắp phía, linh cảm mình sắp tiêu đời, còn những tội nhân trước kia bị giam thì đánh đuổi nó bằng roi, bằng củi, bằng bất cứ thứ gì vớ được.

Trong lúc người hoạ sĩ còn đang miệt mài vẽ bức tranh ấy trên một tấm ván gỗ lớn, con quỷ đã ra sức phá: nó vô hình huých vào tay anh, thổi tro từ lò rèn lên phủ đầy bức tranh. Nhưng mặc tất cả, bức tranh vẫn xong, tấm ván được mang vào nhà thờ, gắn vào tường tiền đường, và từ đó con quỷ thề sẽ trả thù anh thợ rèn.

Hắn chỉ còn một đêm được lang thang trên thế gian. Nhưng ngay đêm nay hắn vẫn tìm cách trút cơn giận lên anh thợ rèn. Vì thế hắn quyết định ăn cắp mặt trăng, với hy vọng rằng lão Chúp vốn lười, chẳng thích đi đâu, mà nhà thầy giúp lễ thì chẳng gần: đường đi vòng ra ngoài làng, qua những cối xay, qua nghĩa địa, vòng qua cái khe. Đêm sáng trăng thì rượu nấu mật với rượu ngâm nghệ tây còn có thể dụ được Chúp. Chứ tối thế này thì khó ai lôi được lão khỏi nóc lò sưởi mà ra khỏi nhà. Còn anh thợ rèn, từ lâu đã không ưa lão, thì có lão ở nhà, khoẻ đến đâu cũng chẳng đời nào dám đến tìm con gái lão.

Thế là con quỷ vừa nhét mặt trăng vào túi, bỗng cả thế gian tối sầm đến nỗi chẳng phải ai cũng tìm được đường đến quán rượu, nói gì đến nhà thầy giúp lễ.

Mụ phù thuỷ bỗng thấy mình trong bóng tối, kêu lên. Con quỷ bèn lả lơi đến gần, khoác lấy tay mụ, bắt đầu thì thầm vào tai mụ đúng những điều người ta vẫn thì thầm với mọi giống đàn bà. Thế gian chúng ta sắp đặt mới lạ làm sao! Mọi thứ sống trên đời đều cố bắt chước và nhại theo nhau.

Ngày trước, ở Mia-gô-rốt, mùa đông chỉ có ông thẩm phán với ông thị trưởng mặc áo lông cừu bọc dạ, còn đám quan chức nhỏ thì chỉ mặc áo lông trần. Giờ thì cả ông hội thẩm lẫn ông quan điền thổ đều đã may cho mình áo lông mới bằng da cừu non Rê-sê-ti-lốp bọc dạ. Viên thư lại và viên thư ký xã năm kia mua vải bông xanh sáu hào một thước. Ông coi nhà thờ may cho mình cái quần mùa hè bằng vải nan-kin và cái gi-lê len sọc. Nói tóm lại, ai cũng muốn ra vẻ người ta! Bao giờ người ta mới hết phù phiếm đây!

Có thể đánh cược rằng nhiều người sẽ lấy làm lạ khi thấy cả quỷ cũng đua đòi theo. Bực mình nhất là hắn hẳn tưởng mình đẹp trai lắm, trong khi cái hình dạng ấy nhìn mà ngượng. Cái bản mặt, như ông Phô-ma Gri-gô-ri-ê-vích nói, ghê tởm hết chỗ nói, thế mà hắn cũng đi tán tỉnh! Nhưng trên trời và dưới trời đã tối đến nỗi chẳng còn thấy được gì xảy ra tiếp giữa hai kẻ ấy nữa.

– Thế ra bác chưa đến nhà mới của thầy giúp lễ à? Anh Cô-dắc Chúp nói, vừa bước ra khỏi cửa nhà mình, với một người cao gầy mặc áo lông ngắn, râu ria mọc tua tủa, cho thấy đã hơn hai tuần nay chưa có mẩu lưỡi hái nào chạm vào, thứ mà nông dân vẫn dùng cạo râu vì không có dao cạo. Bữa nay ở đó nhậu to đấy! Chúp nói tiếp, nhe răng cười. Miễn là mình đừng đến muộn.

Nói rồi Chúp sửa lại cái thắt lưng thắt chặt áo lông, ấn mũ xuống cho chặt, nắm chặt cái roi, nỗi khiếp sợ của lũ chó quấy quả. Nhưng ngước nhìn lên, anh ta dừng lại…

– Quỷ quái gì thế! Nhìn kìa! Nhìn kìa, Pa-nát!…

– Gì? Bác thông gia nói, cũng ngẩng đầu lên.

– Gì là gì? Mặt trăng đâu mất rồi!

– Khổ chưa! Đúng là không có mặt trăng thật.

– Thế đấy, không có, Chúp nói, hơi bực vì cái vẻ dửng dưng muôn thuở của bác thông gia. Chắc bác chẳng cần gì nhỉ.

– Thì tôi biết làm sao!

– Đúng là phải có một con quỷ nào, Chúp vừa lấy tay áo chùi ria vừa nói tiếp, cầu cho sáng mai nó chẳng được uống ly rượu nào, đồ chó, xen vào!… Thật cứ như cố tình chọc tức… Tôi ngồi trong nhà cố ý nhìn ra cửa sổ: đêm đẹp tuyệt! Sáng trưng, tuyết lấp lánh dưới trăng. Cái gì cũng thấy rõ như ban ngày. Vừa bước ra khỏi cửa, thế là tối như bưng!

Chúp còn càu nhàu, chửi rủa mãi, trong khi đồng thời cân nhắc nên quyết định thế nào. Anh ta thèm muốn chết được đến nhà thầy giúp lễ tán chuyện vớ vẩn, nơi chắc chắn đã có ông trưởng làng, anh giọng trầm mới về, và anh buôn hắc ín Mi-ki-ta, cứ hai tuần lại lên Pôn-ta-va đi chợ một lần, kể chuyện tiếu lâm khiến cả làng ôm bụng cười. Chúp đã thấy trong đầu bình rượu nấu mật đặt trên bàn. Tất cả đều hấp dẫn, đúng thế. Nhưng đêm tối nhắc anh ta nhớ đến cái lười, cái thứ mà dân Cô-dắc ai cũng quý. Giá bây giờ được nằm khoanh chân trên bệ lò, thong thả hút tẩu, rồi trong cơn lơ mơ say sưa mà nghe những bài hát mừng của đám trai gái vui vẻ tụ tập từng tốp dưới cửa sổ, thì thích biết mấy.

Chắc chắn anh ta đã chọn cách sau, nếu chỉ có một mình. Nhưng giờ có hai người, đi trong đêm tối đỡ buồn, đỡ sợ hơn. Mà anh ta cũng chẳng muốn tỏ ra lười biếng hay nhát gan trước mặt người khác. Chửi rủa xong, anh ta lại quay sang bác thông gia.

– Thế là không có mặt trăng hả bác?

– Không.

– Lạ thật. Cho tôi hít ít thuốc nào! Thuốc của bác ngon thật. Bác mua ở đâu thế?

– Ngon cái quỷ gì! Bác thông gia đáp, đóng cái hộp thuốc bằng vỏ bạch dương chạm hoa văn lại. Đến con gà mái già cũng chẳng hắt hơi nổi!

– Tôi nhớ, Chúp vẫn nói tiếp, có lần ông chủ quán Du-du-li-a quá cố mang ở Nê-gin về cho tôi ít thuốc. Chà, thuốc ấy mới là thuốc! Thuốc ngon! Thế nào bác, mình tính sao? Ngoài trời tối quá.

– Thì thôi, ở nhà vậy, bác thông gia nói, nắm lấy tay nắm cửa.

Giá bác thông gia không nói câu ấy, hẳn Chúp đã quyết định ở nhà. Nhưng giờ thì như có cái gì giật anh ta phải làm ngược lại.

– Không, bác ạ, đi thôi! Không được, phải đi!

Nói xong, anh ta đã bực mình vì mình đã nói thế. Lê bước trong đêm như thế này, anh ta thấy khó chịu lắm. Nhưng anh ta tự an ủi rằng chính mình cố ý muốn thế, và rốt cuộc đã làm ngược lại lời người ta khuyên.

Bác thông gia, chẳng lộ chút bực bội nào trên mặt, như một người hoàn toàn chẳng quan tâm ngồi nhà hay lê bước ra ngoài, nhìn quanh, lấy cán roi gãi gãi vai, và hai người thông gia lên đường.

Giờ ta hãy xem cô con gái xinh đẹp ở nhà một mình đang làm gì.

Ốc-xa-na chưa tròn mười bảy tuổi, mà gần như khắp thế gian, cả bên này lẫn bên kia làng Đi-căn-ca, người ta chỉ toàn nói chuyện về cô. Đám trai làng nhất loạt tuyên bố rằng trong làng chưa từng có và sẽ không bao giờ có cô gái nào đẹp hơn. Ốc-xa-na biết và nghe hết mọi điều người ta nói về mình, và đỏng đảnh như một người đẹp. Giá cô không mặc váy quấn với tạp dề mà mặc một bộ áo tiểu thư nào đó, thì cô đã đuổi hết các cô hầu gái của mình đi rồi. Trai làng theo đuổi cô từng tốp, nhưng hết kiên nhẫn thì dần dần bỏ đi, quay sang những cô khác ít được nuông chiều hơn. Chỉ có anh thợ rèn là bướng bỉnh, không chịu thôi tán tỉnh, dù anh cũng bị đối xử chẳng hơn gì những người khác.

Cha đi rồi, cô còn ngồi điệu đà sửa soạn rất lâu trước tấm gương nhỏ khung thiếc, ngắm mình mãi không chán.

– Sao người ta lại cứ đồn là ta đẹp nhỉ? Cô nói, như lơ đãng, chỉ cốt để tán chuyện gì đó với chính mình. Người ta nói dối, ta chẳng đẹp chút nào.

Nhưng khuôn mặt tươi tắn, sinh động, đang độ tuổi thơ, với đôi mắt đen long lanh và nụ cười dễ thương không tả nổi, nụ cười thiêu đốt tâm hồn, vừa thoáng hiện trong gương đã bỗng chứng minh điều ngược lại.

– Chẳng lẽ đôi lông mày đen với đôi mắt ta, người đẹp nói tiếp, không rời tấm gương, lại đẹp đến nỗi trên đời chẳng có gì sánh bằng? Cái mũi hếch lên này thì có gì đẹp? Còn má? Còn môi? Hay bím tóc đen của ta đẹp? Úi chà! Buổi tối nhìn chúng mà sợ: chúng như những con rắn dài quấn quýt quanh đầu ta. Giờ ta thấy rồi, ta chẳng đẹp chút nào!

Rồi đẩy tấm gương ra xa một chút, cô kêu lên:

– Không, ta đẹp chứ! Ôi, đẹp quá đi mất! Tuyệt vời! Ta sẽ mang lại niềm vui biết bao cho người lấy ta làm vợ! Chồng ta sẽ ngắm ta mê mẩn biết bao! Chàng sẽ quên cả mình. Chàng sẽ hôn ta đến chết!

– Cô gái lạ lùng thật! Anh thợ rèn khẽ bước vào thì thầm. Mà cũng chẳng khoe khoang gì mấy đâu! Đứng cả tiếng soi gương mà ngắm mãi không chán, lại còn tự khen mình thành tiếng nữa!

– Phải, các anh trai làng ơi, các anh có xứng với tôi không? Cô gái làm duyên xinh xắn nói tiếp. Các anh nhìn tôi mà xem, tôi bước đi mới uyển chuyển làm sao. Áo sơ mi của tôi thêu chỉ lụa đỏ. Còn ruy băng trên đầu thì sao! Cả đời các anh cũng chẳng thấy dải viền nào sang hơn! Tất cả là cha tôi mua cho tôi, để chàng trai đẹp nhất thế gian cưới tôi!

Rồi mỉm cười, cô quay sang phía bên kia, và thấy anh thợ rèn…

Cô kêu lên, rồi nghiêm mặt đứng sững trước anh.

Anh thợ rèn buông thõng cả hai tay.

Khó mà kể được khuôn mặt ngăm ngăm của cô gái tuyệt vời ấy lúc đó biểu lộ điều gì: có cả vẻ nghiêm khắc, và qua vẻ nghiêm khắc có cả nét giễu cợt anh thợ rèn đang bối rối, và một vệt hồng bực bội khó nhận ra loang mỏng trên mặt. Tất cả trộn lẫn vào nhau và đẹp không sao tả xiết, đến nỗi hôn cô một triệu lần, đó là điều tốt nhất có thể làm lúc ấy.

– Anh đến đây làm gì? Ốc-xa-na bắt đầu nói. Anh muốn tôi lấy xẻng đuổi ra khỏi cửa à? Các anh đứa nào cũng giỏi lân la đến chỗ chúng tôi. Đánh hơi được ngay lúc cha vắng nhà. Ồ, tôi biết các anh quá mà! Thế nào, cái rương của tôi xong chưa?

– Sẽ xong, trái tim của anh, qua ngày lễ là xong. Giá mà em biết anh loay hoay với nó bao nhiêu: hai đêm không ra khỏi lò rèn. Bù lại, chẳng cô con gái cha xứ nào có được cái rương như thế. Sắt bọc rương anh dùng loại mà anh chưa bọc cho cỗ xe của ông đội trưởng hồi anh lên Pôn-ta-va làm thuê. Mà nó sẽ được vẽ đẹp làm sao! Dù em có lấy đôi bàn chân trắng xinh đi khắp vùng cũng chẳng tìm được cái thứ hai. Khắp mặt rương sẽ rải đầy hoa đỏ hoa xanh. Nó sẽ rực lên như lửa. Đừng giận anh nữa! Cho anh nói chuyện với em một chút, nhìn em một chút thôi!

– Ai cấm anh đâu, cứ nói, cứ nhìn đi!

Rồi cô ngồi xuống ghế dài, lại nhìn vào gương, sửa lại bím tóc trên đầu. Cô nhìn cổ mình, nhìn chiếc áo mới thêu chỉ lụa, và một vẻ tự mãn tinh tế hiện trên môi, trên đôi má tươi tắn, ánh lên trong mắt.

– Cho anh ngồi cạnh em nhé! Anh thợ rèn nói.

– Ngồi đi, Ốc-xa-na nói, trên môi và trong mắt vẫn vẻ tự mãn ấy.

– Ốc-xa-na tuyệt vời, nhìn mãi không chán, cho anh hôn em nhé! Anh thợ rèn được thể nói, rồi kéo cô vào lòng định đoạt một nụ hôn.

Nhưng Ốc-xa-na ngả má ra, khi nó đã ở gần sát môi anh, rồi đẩy anh ra.

– Anh còn muốn gì nữa? Có mật rồi lại đòi thìa! Đi đi, tay anh cứng hơn sắt. Mà người anh toàn mùi khói. Tôi nghĩ anh làm tôi lem luốc hết bồ hóng rồi.

Rồi cô cầm gương lên, lại bắt đầu điệu đà trước gương.

"Cô ấy không yêu mình!" Anh thợ rèn gục đầu nghĩ thầm. "Với cô ấy cái gì cũng là đồ chơi. Còn mình đứng trước cô ấy như thằng ngốc, mắt không rời cô ấy. Mà giá được đứng trước cô ấy mãi, cả đời chẳng rời mắt khỏi cô ấy! Cô gái tuyệt vời! Mình có cho gì cũng được, chỉ cần biết trong lòng cô ấy có gì, cô ấy yêu ai. Nhưng không, cô ấy chẳng cần ai cả. Cô ấy tự ngắm mình, hành hạ thằng mình khốn khổ. Còn mình thì buồn đến nỗi chẳng còn thấy ánh sáng, mà mình yêu cô ấy như chưa một ai trên đời từng yêu, và sẽ không bao giờ có ai yêu được như thế."

– Có thật mẹ anh là phù thuỷ không? Ốc-xa-na nói rồi cười.

Và anh thợ rèn cảm thấy mọi thứ bên trong mình cũng cười theo. Tiếng cười ấy như cùng một lúc vọng vào tim anh, vào những mạch máu đang khẽ rộn lên. Thế mà một nỗi bực bội cũng rơi vào lòng anh, vì anh không có quyền hôn khuôn mặt đang cười dễ thương đến thế.

– Mẹ thì có liên quan gì đến anh? Em là mẹ, là cha, là tất cả những gì quý giá nhất trên đời của anh. Giá Nga hoàng gọi anh đến mà bảo: "Thợ rèn Va-cu-la, ngươi xin gì tốt nhất trong vương quốc của ta, ta cũng cho ngươi hết. Ta sẽ ra lệnh làm cho ngươi một lò rèn bằng vàng, và ngươi sẽ rèn bằng búa bạc." Thì anh sẽ thưa với Nga hoàng: "Tôi chẳng muốn đá quý, chẳng muốn lò rèn bằng vàng, chẳng muốn cả vương quốc của ngài: xin cho tôi Ốc-xa-na của tôi thì hơn!"

– Thấy chưa, anh là thế đấy! Có điều cha tôi cũng chẳng phải tay vừa đâu. Rồi anh xem, có khi ông ấy chẳng cưới mẹ anh ấy chứ! Ốc-xa-na cười ranh mãnh nói. Mà sao các cô bạn chưa đến nhỉ… Thế là sao? Đã đến giờ đi hát mừng từ lâu rồi. Tôi bắt đầu thấy chán rồi đây.

– Mặc kệ họ, người đẹp của anh!

– Đâu có được! Chắc chắn đi cùng họ sẽ có các anh trai làng. Lúc ấy mới vui. Tôi tưởng tượng họ sẽ kể bao nhiêu chuyện buồn cười!

– Thế em vui với họ à?

– Vui hơn với anh chứ. A! Có ai gõ cửa kìa. Chắc các cô bạn với các anh trai làng đến.

"Mình còn chờ gì nữa?" Anh thợ rèn tự nói với mình. "Cô ấy chế giễu mình. Với cô ấy mình quý chẳng hơn cái móng ngựa gỉ sét. Nhưng đã thế thì ít ra cũng đừng để thằng khác được cười mình. Chỉ cần mình biết chắc cô ấy thích ai hơn mình, thì mình sẽ dạy cho nó biết tay…"

Tiếng gõ cửa và giọng nói vang lên lanh lảnh trong giá rét: "Mở cửa!" cắt ngang dòng suy nghĩ của anh.

– Khoan, để anh ra mở, anh thợ rèn nói, rồi ra tiền sảnh, định bụng bực quá thì bẻ gãy sườn đứa đầu tiên gặp phải.

Trời rét thêm, và trên cao lạnh đến nỗi con quỷ cứ nhảy từ móng này sang móng kia, thổi vào nắm tay, muốn sưởi ấm chút nào đôi tay đang cóng. Mà cũng chẳng lạ gì một kẻ quanh năm lăn lộn từ sáng đến sáng trong địa ngục lại thấy rét cóng. Ở đó, như ai cũng biết, không lạnh như ở chỗ ta mùa đông, và ở đó hắn đội mũ đầu bếp, đứng trước bếp lò như một ông đầu bếp thật, rán tội nhân khoái chí như bà nội trợ rán xúc xích dịp Giáng sinh.

Chính mụ phù thuỷ cũng thấy lạnh, dù mặc ấm. Vì thế mụ giơ hai tay lên, đưa một chân ra sau, và giữ nguyên tư thế như người đang trượt băng, chẳng động đậy một khớp xương nào, trượt xuống không trung như trượt xuống một dốc băng, thẳng vào ống khói. Con quỷ cũng theo đúng cách ấy bay theo mụ. Nhưng con vật ấy nhanh nhẹn hơn mọi gã công tử đi tất, nên chẳng lạ gì vừa đến miệng ống khói hắn đã đè lên cổ người tình của mình, và cả hai rơi vào cái lò rộng giữa những cái nồi.

Mụ du khách lặng lẽ đẩy tấm chắn lò ra, xem cậu con trai Va-cu-la có mời khách về nhà không. Nhưng thấy chẳng có ai, ngoài mấy cái bao tải nằm giữa nhà, mụ chui ra khỏi lò, cởi áo lông ấm, sửa sang lại, và chẳng ai nhận ra được một phút trước mụ vừa cưỡi chổi.

Mẹ của anh thợ rèn Va-cu-la chưa quá bốn mươi tuổi. Bà chẳng đẹp cũng chẳng xấu. Tuổi ấy mà đẹp cũng khó. Nhưng bà biết cách mê hoặc những anh Cô-dắc đứng đắn nhất, những người mà cũng nên nói nhân tiện là chẳng mấy cần đến nhan sắc, đến nỗi cả ông trưởng làng, cả thầy giúp lễ Ô-xíp Ni-ki-phô-rô-vích, tất nhiên là khi vợ thầy không có nhà, cả anh Cô-dắc Coóc-ni Chúp, cả anh Cô-dắc Ca-xi-an Xvéc-bư-gút đều hay lui tới chỗ bà. Và nói cho công bằng, bà biết cách đối đãi khéo léo với họ. Chẳng ai trong số họ nghĩ ra rằng mình có kẻ tình địch.

Một anh nông dân sùng đạo, hay một nhà quý tộc, như dân Cô-dắc vẫn tự gọi mình, mặc áo choàng có mũ trùm, chủ nhật đi lễ nhà thờ, hay trời xấu thì đi quán rượu, sao lại không ghé vào nhà bà Xô-lô-kha, ăn mấy cái bánh bao béo ngậy chấm kem chua, tán gẫu trong căn nhà ấm áp với bà chủ hoạt bát, chiều khách? Thế là nhà quý tộc cố ý đi vòng một quãng xa trước khi tới quán rượu, và gọi đó là "ghé qua tiện đường".

Còn hễ ngày lễ Xô-lô-kha đi nhà thờ, mặc chiếc váy quấn sặc sỡ với tạp dề vải bông, bên ngoài là váy xanh có đính những dải viền vàng phía sau, rồi đứng ngay cạnh ca đoàn bên phải, thì chắc chắn thầy giúp lễ đã bắt đầu ho, bất giác nheo mắt nhìn về phía ấy. Ông trưởng làng vuốt ria, vắt chỏm tóc ra sau tai, nói với người đứng cạnh: "Chà, người đàn bà ngon! Đàn bà quỷ!"

Xô-lô-kha cúi chào từng người, và ai cũng nghĩ bà chỉ cúi chào riêng mình. Nhưng kẻ thích xen vào chuyện người khác thì nhận ra ngay rằng Xô-lô-kha niềm nở với anh Cô-dắc Chúp hơn cả. Chúp goá vợ. Tám đống lúa lúc nào cũng đứng trước nhà anh ta. Hai cặp bò đực lực lưỡng lần nào cũng thò đầu ra khỏi chuồng phên nhìn ra đường mà rống, khi thấy cô bò thông gia hay ông chú bò mộng béo đi qua. Con dê đực râu xồm leo lên tận nóc nhà, từ đó kêu be be the thé như ông thị trưởng, trêu đàn gà tây đang đi lại ngoài sân, và quay đít về phía kẻ thù là lũ trẻ con hay chế giễu bộ râu của nó.

Trong rương nhà Chúp có nhiều vải, áo dài và những chiếc áo choàng cổ viền kim tuyến: người vợ quá cố của anh ta vốn là người ăn diện. Ngoài vườn, ngoài hạt anh túc, bắp cải, hướng dương, năm nào cũng gieo thêm hai luống thuốc lá. Xô-lô-kha thấy gộp tất cả những thứ ấy vào gia sản của mình cũng chẳng thừa, đã tính trước chúng sẽ được sắp xếp thế nào khi về tay mình, và tăng gấp đôi sự ưu ái với lão Chúp.

Còn để cậu con trai Va-cu-la đừng bằng cách nào đó lân la với con gái lão mà vơ hết về mình, và khi ấy chắc chắn chẳng để bà xen vào việc gì, bà dùng đến cái cách thông thường của mọi bà bốn mươi tuổi: làm cho Chúp với anh thợ rèn càng hay cãi nhau càng tốt.

Có lẽ chính những mánh khoé và sự khôn ngoan ấy là nguyên nhân khiến các bà già đây đó bắt đầu đồn, nhất là khi uống quá chén ở một buổi tụ tập vui vẻ nào đó, rằng Xô-lô-kha đúng là phù thuỷ. Rằng anh trai làng Ki-di-a-cô-lu-pen-cô đã thấy sau lưng bà có cái đuôi chẳng dài hơn cái con suốt đàn bà dùng. Rằng hôm thứ năm tuần trước nữa bà hoá thành mèo đen chạy ngang đường. Rằng có lần một con lợn chạy vào nhà vợ cha xứ, gáy như gà trống, đội cái mũ của cha Côn-đrát lên đầu rồi chạy về.

Đúng lúc các bà già đang bàn chuyện ấy, anh chăn bò Tư-mít Ghẻ Lở đi đến. Anh không bỏ lỡ dịp kể rằng mùa hè, ngay trước tuần chay thánh Phê-rô, khi anh nằm ngủ trong chuồng bò, kê rơm dưới đầu, đã tận mắt thấy một mụ phù thuỷ xoã tóc, chỉ mặc mỗi áo sơ mi, bắt đầu vắt sữa bò, còn anh thì không động đậy được vì bị bỏ bùa. Vắt sữa bò xong, mụ đến chỗ anh, bôi lên môi anh một thứ gì kinh tởm đến nỗi suốt cả ngày sau anh cứ nhổ mãi.

Nhưng tất cả những chuyện ấy đều có vẻ đáng ngờ, vì chỉ có ông hội thẩm làng Xô-rô-chin-xư mới thấy được phù thuỷ. Vì thế mọi anh Cô-dắc có máu mặt đều phẩy tay khi nghe những chuyện như thế. "Láo cả, cái lũ đàn bà!" Đó là câu trả lời thường lệ của họ.

Chui ra khỏi lò, sửa sang xong, Xô-lô-kha như một bà nội trợ giỏi bắt đầu dọn dẹp, đặt mọi thứ vào chỗ của nó. Nhưng mấy cái bao thì bà không đụng đến: Va-cu-la mang về thì tự nó mang đi!

Trong khi ấy, con quỷ lúc còn đang bay vào ống khói, chẳng hiểu sao vô tình quay lại, thấy Chúp khoác tay bác thông gia đã ở xa nhà. Lập tức hắn bay ra khỏi lò, chạy ngang đường họ, bắt đầu bới tung những đống tuyết đóng băng khắp bốn phía. Một trận bão tuyết nổi lên. Không trung trắng xoá. Tuyết bay tới bay lui như tấm lưới, đe doạ bịt kín mắt, miệng và tai người đi bộ. Còn con quỷ lại bay vào ống khói, tin chắc rằng Chúp sẽ cùng bác thông gia quay về, bắt gặp anh thợ rèn và đãi cho anh một trận ra trò, đến nỗi lâu lắm anh không cầm nổi cọ mà vẽ những bức tranh chế giễu nữa.

— Hết chương 1 —

Mục lục Đêm trước Giáng sinh

  1. 1Phần một. Con quỷ đánh cắp mặt trăng21 phút
  2. 2Phần hai. Những cái bao trong nhà bà Xô-lô-khaĐang thu âm
  3. 3Phần ba. Cưỡi quỷ bay lên Pê-téc-buaĐang thu âm
  4. 4Phần bốn. Đôi giày của Nữ hoàngĐang thu âm
  5. 5Phần năm. Sáng Giáng sinh ở Đi-căn-caĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNikolai Gogol (1809 – 1852)
Năm mất1852
Xuất bản lần đầu1832
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Ночь перед Рождеством, tập Những buổi tối ở thôn gần Đi-căn-ca, 1832
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →