Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bữa sáng trong căn nhà gỗ

Điều bất ngờ · Chương 1/3 · của Jack London

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 17.551 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Nhìn thấy điều hiển nhiên, làm điều được trông…
  2. 2:54Một năm sau họ đã ở Cô-lô-ra-đô, nơi Han-xơ…
  3. 6:43Trong căn nhà gỗ mọi chuyện đều ổn. Số…
  4. 8:40Dậy sớm hơn bọn mình một chút rồi đi…
  5. 9:09Thật là đáng thương lắm! Đất-chi nói thêm.
  6. 9:30Đấy là anh ấy chỉ làm thế cho lịch…
  7. 13:16Không phải một thôi thúc có suy xét đã…

Chương 1: Bữa sáng trong căn nhà gỗ

Nhìn thấy điều hiển nhiên, làm điều được trông đợi, là chuyện giản đơn. Đời mỗi con người vốn có xu hướng đứng yên hơn là biến động, và nền văn minh biến xu hướng ấy thành một lực đẩy, ở đó người ta chỉ thấy điều hiển nhiên, còn điều bất ngờ hiếm khi xảy ra. Thế nhưng khi điều bất ngờ xảy ra, và khi nó đủ nghiêm trọng, thì kẻ không thích nghi sẽ chết. Họ không thấy được điều không hiển nhiên, không làm được điều bất ngờ, không thể chuyển cuộc đời đã quen nếp của mình sang những nếp khác, xa lạ. Nói gọn, khi tới cuối cái rãnh của mình, họ chết.

Mặt khác, có những người hướng về sự sống còn, những cá nhân thích nghi được, thoát khỏi sự cai trị của điều hiển nhiên và điều được trông đợi, và thích nghi cuộc đời mình với bất cứ nếp lạ lùng nào họ lạc bước vào, hay bị đẩy vào. Ê-đít Uýt-tơn-xi là một người như thế. Chị sinh ra ở một vùng quê nước Anh, nơi đời sống trôi theo lề thói, và điều bất ngờ bất ngờ tới mức hễ nó xảy ra là bị coi như một điều trái đạo lý. Chị đi ở từ sớm, và khi còn là một thiếu nữ, theo đúng lề thói thăng tiến, chị trở thành hầu gái riêng của một bà lớn.

Tác dụng của văn minh là áp đặt luật lệ con người lên môi trường, cho tới khi nó đều đặn như cỗ máy. Cái gì khó chịu thì loại bỏ, cái gì không tránh được thì dự liệu trước. Người ta thậm chí không bị mưa làm ướt, không bị sương giá làm lạnh. Còn cái chết, thay vì rảo bước khắp nơi ghê rợn và bất chợt, lại thành một cuộc diễu hành được sắp đặt sẵn, trôi dọc một cái rãnh tra dầu trơn tru tới hầm mộ gia đình, nơi bản lề được giữ cho khỏi gỉ và bụi trong không khí được quét sạch liên tục.

Đó là môi trường của Ê-đít Uýt-tơn-xi. Chẳng có gì xảy ra. Năm hai mươi lăm tuổi, chị theo bà chủ đi một chuyến sang Hoa Kỳ, nhưng khó có thể gọi đó là một sự kiện. Cái rãnh chỉ đổi hướng. Nó vẫn là cái rãnh ấy, vẫn tra dầu trơn tru. Đó là một cái rãnh bắc cầu qua Đại Tây Dương mà chẳng có biến cố gì, đến nỗi con tàu không phải một con tàu giữa biển cả, mà là một khách sạn rộng rãi nhiều hành lang, lướt đi nhanh và êm, nghiền bẹp sóng dưới khối thân khổng lồ cho tới khi biển thành một ao nước quanh cối xay, đơn điệu trong tĩnh lặng. Và sang tới bờ bên kia, cái rãnh tiếp tục chạy trên đất liền, một cái rãnh khả kính, sắp đặt chu đáo, có khách sạn ở mỗi chặng dừng, và những khách sạn có bánh xe giữa các chặng dừng.

Ở Chi-ca-gô, trong khi bà chủ nhìn thấy một mặt của đời sống xã hội, thì Ê-đít Uýt-tơn-xi nhìn thấy một mặt khác. Và khi chị thôi hầu bà chủ để trở thành Ê-đít Nen-xơn, có lẽ chị đã thoáng để lộ khả năng vật lộn với điều bất ngờ và làm chủ được nó. Han-xơ Nen-xơn, dân nhập cư, sinh ra ở Thuỵ Điển, làm nghề thợ mộc, mang trong mình nỗi bồn chồn của giống người Giéc-manh, nỗi bồn chồn luôn đẩy giống người ấy về phía tây trong cuộc phiêu lưu lớn của họ. Anh là một người cơ bắp to lớn, điềm tĩnh, chút ít trí tưởng tượng đi kèm với một sức chủ động mênh mông, và ngoài ra còn có lòng trung thành và tình thương vững chãi như chính sức lực của anh.

— Khi anh đã làm cật lực và để dành được ít tiền, anh sẽ đi Cô-lô-ra-đô, anh bảo Ê-đít vào hôm sau ngày cưới.

Một năm sau họ đã ở Cô-lô-ra-đô, nơi Han-xơ Nen-xơn lần đầu thấy khai mỏ và chính anh cũng mắc cơn sốt mỏ. Những chuyến đi tìm quặng đưa anh qua miền Đa-cô-ta, I-đa-hô, miền đông Ô-rê-gân, rồi vào vùng núi Bri-tít Cô-lom-bi-a. Trong trại cũng như trên đường, Ê-đít Nen-xơn lúc nào cũng ở bên anh, chia sẻ vận may, gian khổ và lao nhọc của anh. Chị đổi bước chân ngắn của người đàn bà quen sống trong nhà lấy sải chân dài của dân miền núi. Chị học được cách nhìn thẳng vào hiểm nguy bằng đôi mắt sáng suốt và hiểu biết, mất hẳn nỗi sợ hãi hoảng loạn sinh ra từ sự ngu dốt, thứ nỗi sợ hành hạ những người lớn lên ở thành thị, khiến họ ngớ ngẩn như những con ngựa ngớ ngẩn, đến nỗi họ đứng chết lặng trong kinh hoàng mà chờ số phận thay vì vật lộn với nó, hoặc chạy toán loạn trong nỗi kinh hãi mù quáng tự huỷ hoại, xác họ bị giẫm nát nằm ngổn ngang trên đường.

Ê-đít Nen-xơn gặp điều bất ngờ ở mọi khúc quanh trên đường đi, và chị luyện con mắt mình để nhìn thấy trong cảnh vật không phải điều hiển nhiên, mà là điều ẩn giấu. Chị, người cả đời chưa từng nấu nướng, đã học được cách làm bánh mì không cần hoa bia, men hay bột nở, và nướng bánh cả mặt trên lẫn mặt dưới trong một cái chảo trước đống lửa ngoài trời. Và khi chén bột mì cuối cùng đã hết, mẩu bì thịt muối cuối cùng đã hết, chị vẫn xoay xở được, đem giày da và những mảnh da thuộc mềm hơn trong đồ nghề nấu thành một món thay lương thực, chẳng hiểu sao vẫn giữ được hồn người ở trong xác và giúp họ lảo đảo đi tiếp. Chị học được cách chất hàng lên lưng ngựa giỏi như đàn ông, một việc đủ làm tan nát trái tim và lòng kiêu hãnh của bất cứ người thành thị nào, và biết thắt kiểu nút nào hợp nhất với từng loại hàng. Chị còn nhóm được lửa bằng củi ướt giữa trời mưa như trút mà không nổi cáu. Nói gọn, dưới mọi lốt của nó, chị đã làm chủ điều bất ngờ. Nhưng Điều Bất Ngờ Lớn còn chưa tới với đời chị để thử thách chị.

Làn sóng tìm vàng đang tràn lên phương bắc vào A-lát-xca, và không tránh khỏi việc Han-xơ Nen-xơn và vợ bị cuốn theo dòng chảy ấy, trôi về phía Clôn-đai-cơ. Mùa thu năm 1897 họ đã ở Đai-ơ, nhưng không có tiền để chở đồ đạc qua đèo Chin-cút rồi thả bè xuôi về Đo-xơn. Vì thế mùa đông năm ấy Han-xơ Nen-xơn làm nghề mộc, góp tay dựng nên Xca-goay, cái thị trấn cung cấp đồ nghề mọc lên như nấm.

Anh ở ngay bên rìa mọi chuyện, và suốt mùa đông anh nghe cả A-lát-xca gọi mình. Vịnh La-tu-ya gọi to nhất, nên mùa hè năm 1898, anh và vợ đã len lỏi qua mê cung bờ biển lởm chởm trên những chiếc xuồng của người Xi-oát dài hơn hai mươi mét. Đi cùng họ có người Anh-điêng, và ba người đàn ông khác. Người Anh-điêng đưa họ cùng đồ tiếp tế lên bờ ở một vụng biển vắng vẻ, cách vịnh La-tu-ya chừng một trăm rưởi cây số, rồi quay về Xca-goay. Nhưng ba người đàn ông kia ở lại, vì họ là thành viên của nhóm đã lập ra. Mỗi người góp một phần vốn ngang nhau vào việc sắm đồ nghề, và lợi nhuận sẽ chia đều. Vì Ê-đít Nen-xơn nhận nấu ăn cho cả nhóm, chị sẽ được chia một phần như một người đàn ông.

Trước hết, họ đốn cây vân sam, dựng một căn nhà gỗ ba gian. Giữ gìn căn nhà ấy là việc của Ê-đít Nen-xơn. Việc của đàn ông là tìm vàng, và họ đã tìm. Rồi tìm thấy vàng, và họ cũng đã tìm thấy. Đó không phải một phát hiện chấn động, chỉ là một bãi sa khoáng nghèo, nơi lao động cật lực nhiều giờ liền mỗi người kiếm được mười lăm tới hai mươi đô la một ngày. Mùa hè ngắn ngủi của A-lát-xca kéo dài hơn thường lệ, và họ tận dụng cơ hội, hoãn chuyến về Xca-goay tới phút chót. Rồi thì đã quá muộn. Họ đã thu xếp để đi theo vài chục người Anh-điêng địa phương trong chuyến buôn bán mùa thu xuôi dọc bờ biển. Người Xi-oát đã chờ những người da trắng tới tận phút cuối, rồi ra đi. Nhóm chẳng còn cách nào khác ngoài chờ một chuyến tàu tình cờ đi qua. Trong lúc ấy, họ đãi sạch khu mỏ và chất sẵn củi.

Những ngày thu ấm áp mơ màng cứ kéo dài mãi, rồi bỗng nhiên, sắc như tiếng kèn hiệu, mùa đông ập tới. Nó tới chỉ trong một đêm, và những người thợ mỏ thức dậy giữa gió gào, tuyết quất, nước đóng băng. Bão này nối bão kia, và giữa những trận bão là im lặng, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng sóng ầm ầm trên bờ biển hoang vắng, nơi bụi nước mặn viền bãi biển thành một dải trắng đóng băng.

Trong căn nhà gỗ mọi chuyện đều ổn. Số vàng cám của họ cân được chừng tám nghìn đô la, và họ không thể không hài lòng. Đàn ông làm giày đi tuyết, săn thịt tươi cho kho thức ăn, và trong những buổi tối dài, chơi bài uýt và bài pê-đrô không biết chán. Giờ việc khai mỏ đã ngừng, Ê-đít Nen-xơn giao việc nhóm lửa và rửa bát cho đàn ông, còn chị mạng tất và vá quần áo cho họ.

Trong căn nhà gỗ nhỏ không có càu nhàu, không cãi cọ, không xích mích vặt vãnh, và họ thường chúc mừng nhau vì cả nhóm hoà thuận vui vẻ. Han-xơ Nen-xơn điềm tĩnh, dễ tính, còn Ê-đít từ lâu đã khiến anh khâm phục vô bờ vì chị khéo sống với mọi người. Hác-ki, một người Tếch-dát cao lêu nghêu, gầy gò, thân thiện khác thường so với cái tính khí u uất của anh ta, và chừng nào không ai bác bỏ thuyết vàng tự mọc ra của anh ta, thì anh ta khá dễ chịu. Thành viên thứ tư của nhóm, Mai-cơn Đen-nin, góp óc hài hước Ai-len của mình vào niềm vui của căn nhà. Anh ta to lớn, khoẻ mạnh, dễ nổi cơn giận đột ngột vì những chuyện nhỏ, nhưng lại luôn vui vẻ trước sức ép nặng nề của những chuyện lớn. Thành viên thứ năm và cuối cùng, Đất-chi, sẵn lòng làm trò cười cho cả nhóm. Anh thậm chí còn chủ động tự biến mình thành trò cười để giữ cho không khí vui vẻ. Mục đích có chủ ý trong đời anh dường như là làm cho người khác cười. Chưa từng có cuộc cãi vã nghiêm trọng nào làm xáo động sự êm ả của nhóm. Và giờ khi mỗi người đã có một nghìn sáu trăm đô la sau một mùa hè làm việc ngắn ngủi, một tinh thần no đủ, mãn nguyện của sự sung túc ngự trị khắp nơi.

Thế rồi điều bất ngờ xảy ra. Họ vừa ngồi vào bàn ăn sáng. Dù đã tám giờ, bữa sáng muộn đã thành lệ tự nhiên từ khi thôi làm việc đều đặn ở mỏ, một cây nến cắm trên cổ chai vẫn thắp sáng bữa ăn. Ê-đít và Han-xơ ngồi hai đầu bàn. Một bên bàn, lưng quay ra cửa, là Hác-ki và Đất-chi. Chỗ ở phía bên kia bỏ trống. Đen-nin chưa vào.

Han-xơ Nen-xơn nhìn chiếc ghế trống, chậm rãi lắc đầu, và cố đùa một cách nặng nề:

— Bao giờ anh ấy cũng ngồi vào mâm đầu tiên. Lạ thật. Có khi anh ấy ốm.

— Mai-cơn đâu rồi? Ê-đít hỏi.

— Dậy sớm hơn bọn mình một chút rồi đi ra ngoài, Hác-ki đáp.

Mặt Đất-chi rạng lên tinh nghịch. Anh làm như mình biết vì sao Đen-nin vắng mặt, và ra vẻ bí ẩn, trong khi mọi người nhao nhao đòi anh nói. Ê-đít liếc vào phòng ngủ của đàn ông, rồi quay lại bàn. Han-xơ nhìn chị, và chị lắc đầu.

— Trước giờ anh ấy chưa bao giờ trễ bữa, chị nhận xét.

— Tôi không hiểu nổi, Han-xơ nói. Lúc nào anh ấy cũng ăn khoẻ như ngựa.

— Thật đáng buồn, Đất-chi nói, lắc đầu rầu rĩ.

Họ bắt đầu đùa vui về sự vắng mặt của người bạn.

— Thật là đáng thương lắm! Đất-chi nói thêm.

— Cái gì? mọi người đồng thanh hỏi.

— Mai-cơn tội nghiệp, câu trả lời thê thảm.

— Thì Mai-cơn làm sao? Hác-ki hỏi.

— Anh ấy hết đói rồi, Đất-chi rên rỉ. Anh ấy mất cái sự ngon miệng rồi. Anh ấy chả thích đồ ăn nữa.

— Nhìn cái cách cậu ta vục đầu vào ăn tới tận mang tai thì chẳng giống thế, Hác-ki nhận xét.

— Đấy là anh ấy chỉ làm thế cho lịch sự với bà Nen-xơn thôi, Đất-chi đốp ngay. Tôi biết mà, tôi biết, mà thế thì đáng buồn lắm. Sao anh ấy không có ở đây? Vì anh ấy đã ra ngoài. Sao anh ấy ra ngoài? Để làm cho cái sự ngon miệng nó lớn lên. Làm sao cho nó lớn lên? Anh ấy đi chân đất trên tuyết. Chà! Tôi lại chả biết à? Đấy là cách nhà giàu đuổi theo cái sự ngon miệng khi nó không còn mà lại đang chạy trốn. Mai-cơn có một nghìn sáu trăm đô la. Anh ấy là nhà giàu. Anh ấy không ngon miệng. Thế nên, bởi vậy, anh ấy đang đuổi theo cái sự ngon miệng. Các người cứ mở cửa ra mà xem chân đất của anh ấy trên tuyết. Không, các người không thấy cái sự ngon miệng đâu. Khổ là khổ ở chỗ ấy đấy. Khi nào anh ấy thấy cái sự ngon miệng, anh ấy sẽ tóm được nó rồi vào ăn sáng.

Mọi người phá lên cười to vì những lời nhảm nhí của Đất-chi. Tiếng cười chưa kịp tắt thì cửa mở và Đen-nin bước vào. Mọi người quay lại nhìn anh ta. Anh ta cầm một khẩu súng săn. Ngay trong lúc họ đang nhìn, anh ta nâng súng lên vai và bắn hai phát. Phát đầu tiên, Đất-chi gục xuống bàn, làm đổ cốc cà phê, mớ tóc vàng của anh nhúng vào đĩa cháo bột. Trán anh tì lên mép gần của chiếc đĩa, làm nó chổng ngược lên, dựa vào tóc anh, nghiêng bốn mươi lăm độ. Tới phát thứ hai, Hác-ki đang bật người lên định đứng dậy, và anh ta ngã sấp mặt xuống sàn, tiếng "Trời ơi!" ồng ộc rồi tắt lịm trong cổ họng.

Đó là điều bất ngờ. Han-xơ và Ê-đít chết lặng. Họ ngồi bên bàn, toàn thân căng cứng, mắt dán chặt vào kẻ giết người như bị thôi miên. Họ lờ mờ thấy anh ta qua làn khói thuốc súng, và trong im lặng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng cà phê của Đất-chi đổ ra nhỏ giọt tí tách xuống sàn. Đen-nin bẻ khoá nòng súng, hất vỏ đạn rỗng ra. Một tay cầm súng, tay kia anh ta thò vào túi lấy đạn mới.

Anh ta đang nhét đạn vào súng thì Ê-đít Nen-xơn bừng tỉnh hành động. Rõ ràng anh ta định giết cả Han-xơ lẫn chị. Trong khoảng có lẽ ba giây, chị đã choáng váng, tê liệt trước cái hình hài khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi mà điều bất ngờ đã khoác lên khi xuất hiện. Rồi chị vùng lên đối mặt với nó, vật lộn với nó. Chị vật lộn với nó một cách cụ thể, nhảy chồm lên kẻ giết người như một con mèo, hai tay túm chặt lấy khăn quàng cổ của anh ta. Đà lao của thân chị khiến anh ta loạng choạng lùi lại mấy bước. Anh ta cố hất chị ra mà vẫn giữ được súng. Thật khó, vì tấm thân săn chắc của chị đã thành thân mèo. Chị quăng mình sang một bên, tay vẫn bám chặt cổ anh ta, suýt giật anh ta ngã xuống sàn. Anh ta đứng thẳng lên, xoay người thật nhanh. Vẫn trung thành bám chặt, thân chị lượn theo vòng xoay của anh ta tới mức chân chị rời khỏi sàn, và chị vung qua không trung, treo vào cổ anh ta bằng hai bàn tay. Vòng xoay kết thúc bằng cú va vào một chiếc ghế, và người đàn ông cùng người đàn bà đổ ầm xuống sàn trong một cú ngã vật lộn điên cuồng, trượt dài qua nửa căn phòng.

Han-xơ Nen-xơn đứng dậy trước điều bất ngờ chậm hơn vợ nửa giây. Thần kinh và đầu óc anh vận hành chậm hơn chị. Anh có cơ thể thô hơn, và anh mất thêm nửa giây để nhận ra, quyết định, rồi hành động. Chị đã lao vào Đen-nin, túm lấy cổ anh ta, khi Han-xơ mới bật dậy. Nhưng anh không có sự điềm tĩnh của chị. Anh đang trong cơn cuồng nộ mù quáng, cơn điên của chiến binh hoang dã. Ngay khi anh bật dậy khỏi ghế, miệng anh há ra, phát ra một âm thanh nửa như tiếng gầm, nửa như tiếng rống. Vòng xoay của hai thân người đã bắt đầu, và vẫn gầm rống, anh đuổi theo vòng xoay ấy dọc căn phòng, bắt kịp nó đúng lúc nó đổ xuống sàn.

Han-xơ lao vào người đàn ông đang nằm sóng soài, đấm như điên. Đó là những cú đấm như búa tạ. Khi Ê-đít thấy thân Đen-nin mềm ra, chị buông tay, lăn ra một bên. Chị nằm trên sàn, thở hổn hển, nhìn. Trận mưa đòn cuồng nộ vẫn trút xuống. Đen-nin có vẻ chẳng để ý tới những cú đấm. Anh ta thậm chí không cử động. Rồi chị chợt hiểu ra anh ta đã bất tỉnh. Chị kêu Han-xơ dừng lại. Chị kêu lần nữa. Nhưng anh chẳng để ý tới tiếng chị. Chị nắm lấy cánh tay anh, nhưng việc chị bám vào chỉ làm vướng động tác của anh.

Không phải một thôi thúc có suy xét đã khiến chị làm điều chị làm sau đó. Cũng không phải lòng thương hại, hay sự vâng theo điều răn "Chớ giết người" của tôn giáo. Đúng hơn, đó là một ý thức nào đó về luật pháp, một đạo lý của giống nòi và môi trường thuở nhỏ của chị, đã buộc chị đem thân mình chắn giữa chồng và kẻ giết người đang bất lực. Chỉ khi Han-xơ biết mình đang đánh vào vợ, anh mới dừng lại. Anh để chị đẩy ra, gần giống như một con chó hung dữ nhưng biết vâng lời để chủ đẩy ra. Sự so sánh còn đi xa hơn. Tận sâu trong cổ họng, theo kiểu loài thú, cơn giận của Han-xơ vẫn còn gầm gừ, và mấy lần anh làm như định nhảy bổ lại vào con mồi, chỉ bị ngăn lại vì người đàn bà nhanh chóng chen thân vào giữa.

Ê-đít đẩy chồng lùi lại, lùi mãi. Chị chưa bao giờ thấy anh như thế này, và chị sợ anh hơn cả sợ Đen-nin giữa lúc vật lộn. Chị không tin nổi con thú đang điên giận này là Han-xơ của chị. Và chị chợt bàng hoàng nhận ra trong mình một nỗi sợ co rúm, theo bản năng, rằng anh có thể ngoạm lấy tay chị bằng răng như bất cứ con thú hoang nào. Trong mấy giây, không muốn làm chị đau mà vẫn khăng khăng muốn quay lại tấn công, Han-xơ né qua né lại. Nhưng chị cương quyết né theo anh, cho tới khi những tia lý trí đầu tiên quay về và anh chịu thôi.

Cả hai lồm cồm đứng dậy. Han-xơ loạng choạng lùi dựa vào tường, mặt co giật, trong cổ họng vẫn vang tiếng gầm gừ trầm và liên tục, rồi tiếng ấy nhỏ dần theo từng giây và cuối cùng tắt hẳn. Đã tới lúc cơn phản ứng ập tới. Ê-đít đứng giữa sàn, vặn vẹo hai bàn tay, thở hồng hộc, toàn thân run bần bật.

Han-xơ chẳng nhìn vào đâu, còn mắt Ê-đít thì đảo cuống cuồng từ chi tiết này sang chi tiết khác của những gì vừa xảy ra. Đen-nin nằm không cử động. Chiếc ghế đổ, bị hất văng theo vòng xoay điên cuồng, nằm gần anh ta. Khẩu súng săn nằm một phần dưới thân anh ta, khoá nòng vẫn mở. Rơi ra khỏi bàn tay phải anh ta là hai viên đạn anh ta chưa kịp nhét vào súng, mà anh ta vẫn nắm chặt cho tới khi bất tỉnh. Hác-ki nằm sấp mặt trên sàn, ở đúng chỗ anh ta ngã. Còn Đất-chi gục về phía trước trên bàn, mớ tóc vàng vùi trong đĩa cháo, chính chiếc đĩa vẫn chổng nghiêng bốn mươi lăm độ. Chiếc đĩa chổng nghiêng ấy hút lấy mắt chị. Sao nó không đổ xuống? Thật lố bịch. Lẽ tự nhiên đâu có chuyện một đĩa cháo tự chổng ngược lên trên bàn, dù có vài người vừa bị giết.

Chị liếc nhìn lại Đen-nin, nhưng mắt chị lại quay về chiếc đĩa chổng nghiêng. Lố bịch quá! Chị cảm thấy một thôi thúc như lên cơn muốn bật cười. Rồi chị nhận ra sự im lặng, và quên cả chiếc đĩa vì mong có điều gì đó xảy ra. Tiếng cà phê nhỏ giọt đều đều từ bàn xuống sàn chỉ càng làm nổi bật sự im lặng. Sao Han-xơ không làm gì đi? Không nói gì đi? Chị nhìn anh, định lên tiếng, thì nhận ra lưỡi mình không chịu làm phận sự quen thuộc của nó. Có một cảm giác đau kỳ lạ trong cổ họng, miệng chị khô khốc và rít lại. Chị chỉ có thể nhìn Han-xơ, và anh cũng nhìn chị.

Bỗng sự im lặng bị phá vỡ bởi một tiếng loảng xoảng sắc, đanh như kim loại. Chị thét lên, giật mắt về phía bàn. Chiếc đĩa đã đổ xuống. Han-xơ thở dài như vừa tỉnh giấc. Tiếng loảng xoảng của chiếc đĩa đã đánh thức họ dậy để sống trong một thế giới mới. Căn nhà gỗ là hình ảnh thu nhỏ của thế giới mới mà từ nay họ phải sống và đi lại trong đó. Căn nhà gỗ cũ đã vĩnh viễn ra đi. Chân trời cuộc sống hoàn toàn mới mẻ và xa lạ. Điều bất ngờ đã phủ phép thuật của nó lên bộ mặt vạn vật, thay đổi góc nhìn, đảo lộn giá trị, xáo trộn cái thật và cái không thật thành một mớ rối ren khó hiểu.

— Hết chương 1 —

Mục lục Điều bất ngờ

  1. 1Bữa sáng trong căn nhà gỗ16 phút
  2. 2Những phiên canh bốn tiếngĐang thu âm
  3. 3Luật của hai ngườiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảJack London (1876 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Unexpected, Jack London, 1906; in trong tập Love of Life and Other Stories (1907)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →