Người đời vẫn thường nói: quên ơn người là thói của loài chim loài thú, kẻ vô ơn sẽ bị cả thiên hạ chê cười. Thế nhưng ngay cả chim muông cũng biết đền ơn, nên kẻ chịu ơn mà không báo đáp còn tệ hơn cả loài vật câm. Chẳng phải là điều đáng hổ thẹn sao?
Ngày xửa ngày xưa, trong một túp lều ở nơi gọi là Na-mê-ca-ta, xứ Hi-ta-chi, có một vị sư già. Ông chẳng nổi tiếng học rộng, cũng chẳng nổi tiếng khôn ngoan, chỉ một lòng sống qua ngày bằng kinh kệ và thiền định. Ông chẳng có lấy một chú tiểu hầu hạ, tự tay nấu lấy cơm ăn. Sớm tối ông niệm câu nam mô A Di Đà Phật, chỉ chuyên tâm vào mỗi việc ấy. Tiếng tăm đức độ của ông không lan được xa, nhưng hàng xóm kính trọng ông, thường mang tới cho ông cơm ăn áo mặc. Mái hay vách lều hư hỏng, họ lại sửa giúp. Vì thế chuyện cõi đời này ông chẳng phải bận tâm.
Một đêm rét căm căm, đang lúc chẳng ngờ có ai ở ngoài, ông bỗng nghe một giọng gọi:
— Bạch thầy! Bạch thầy!
Ông bèn dậy ra xem ai, thì thấy một con lửng già đứng đó. Người thường hẳn đã hoảng sợ lắm trước cảnh ấy. Nhưng nhà sư, vốn là người như vừa kể, chẳng tỏ chút sợ hãi nào, hỏi con vật tới có việc gì. Con lửng cung kính quỳ xuống, thưa:
— Bạch thầy, xưa nay hang con ở trên núi, tuyết sương con chẳng quản. Nhưng giờ con già rồi, cái rét buốt này quá sức con chịu. Con xin thầy cho con vào sưởi nhờ bên bếp lửa trong lều, để con qua được đêm giá buốt này.
Nghe con vật lâm vào cảnh khốn khổ như thế, nhà sư động lòng thương, nói:
— Có gì đâu. Mau vào mà sưởi đi.
Được đón tiếp tử tế như thế, con lửng mừng lắm, vào lều ngồi chồm hỗm bên bếp lửa sưởi ấm. Còn nhà sư lại càng thành tâm hơn, tụng kinh, gõ mõ trước tượng Phật, mắt nhìn thẳng phía trước. Hai canh giờ sau, con lửng cảm tạ rối rít rồi cáo từ ra về. Từ đó, đêm nào nó cũng tới lều. Con lửng còn nhặt cành khô lá rụng trên núi mang tới làm củi, nên dần dần nhà sư trở nên thân thiết với nó, quen có nó bầu bạn. Đêm nào khuya rồi mà lửng chưa tới, ông lại thấy nhớ, tự hỏi sao nó chưa tới.
Hết mùa đông, sang xuân, vào cuối tháng hai, con lửng thôi không tới nữa, chẳng thấy bóng dáng đâu. Nhưng mùa đông trở lại, con vật lại tới lều như cũ. Cứ thế được mười năm, một hôm con lửng thưa với nhà sư:
— Nhờ lòng tốt của thầy suốt bao năm nay, con được qua những đêm đông ấm áp. Ơn thầy lớn lắm, suốt đời con, kể cả sau khi con chết, con cũng phải ghi nhớ. Con biết làm gì để báo đáp đây? Thầy có mong muốn điều gì, xin thầy cứ bảo con.
Nhà sư mỉm cười nghe lời ấy, đáp:
— Người như ta chẳng ham muốn, chẳng mong cầu gì. Nghe con có lòng như thế, ta vui lắm, nhưng ta chẳng có gì để nhờ con làm cả. Con chẳng phải lo gì cho ta. Ta còn sống ngày nào thì mùa đông tới, con cứ tới đây, ta vẫn đón con.
Nghe thế, con lửng không giấu nổi lòng khâm phục tấm lòng nhân từ sâu thẳm của ông lão. Nhưng mang ơn nhiều như thế mà không báo đáp được, nó thấy day dứt. Chuyện ấy cứ được nhắc lại giữa hai bên mãi, sau cùng nhà sư cảm động trước tấm lòng tốt của con lửng, bèn nói:
— Từ khi cạo đầu, lìa bỏ thế tục, từ bỏ mọi thú vui đời này, ta chẳng còn ham muốn gì để thoả mãn. Nhưng thú thật ta cũng muốn có ba lạng vàng. Cơm ăn áo mặc ta đã có dân làng lo cho, nên ta chẳng bận tâm. Nếu mai ta chết, được như ý nguyện sinh sang thế giới bên kia, thì cũng những người tốt bụng ấy đã hứa sẽ lo chôn cất thân xác ta. Vậy nên ta chẳng có lý do gì khác để cần tiền. Nhưng nếu có ba lạng vàng, ta sẽ cúng vào một ngôi chùa linh thiêng nào đó, để người ta làm lễ, tụng kinh cho ta, nhờ thế ta được giải thoát. Có điều, ta chẳng muốn kiếm số tiền ấy bằng cách cướp đoạt hay trái phép. Ta chỉ nghĩ giá mà có được thì thế này thế kia thôi. Đấy, con đã bày tỏ lòng tốt với ta như thế, nên ta nói cho con nghe điều trong lòng ta.
Nhà sư nói xong, con lửng nghiêng đầu, vẻ bối rối, lo âu, tới mức ông lão hối hận vì đã nói ra một mong ước dường như làm khổ con vật, bèn cố rút lại lời mình:
— Rốt cuộc, mong được tôn vinh sau khi chết là ước muốn của người thường. Ta là người tu hành, đáng lẽ không được nghĩ thế, không được ham tiền. Vậy con đừng để tâm tới lời ta nói nhé.
Con lửng làm như vâng theo điều nhà sư dặn dò, rồi về núi như mọi lần.
Từ đó con lửng không tới lều nữa. Nhà sư thấy lạ lắm. Ông đoán hoặc là con lửng ngại tới tay không, hoặc là nó đã bị giết khi tìm cách trộm tiền. Ông tự trách mình đã vô cớ chuốc thêm tội, hối hận thì đã muộn. Tin chắc con lửng đã bị giết, ông dành hết thời gian tụng kinh cầu siêu cho nó, hết lượt này tới lượt khác.
Ba năm trôi qua. Một đêm, ông lão nghe một giọng gọi ngoài cửa:
— Bạch thầy! Bạch thầy!
Giọng nghe giống giọng con lửng, ông vừa nghe đã bật dậy, chạy ra mở cửa. Quả nhiên đúng là con lửng. Nhà sư mừng quá, kêu lên:
— Vậy ra con vẫn bình an vô sự! Sao lâu thế con không tới đây? Ta ngóng con mãi.
Con lửng vào lều, thưa:
— Nếu số tiền thầy cần là để làm việc phi pháp thì con có thể kiếm được bao nhiêu tuỳ thầy muốn, dễ dàng thôi. Nhưng khi nghe thầy nói nó là để cúng chùa làm lễ cầu siêu cho thầy, con nghĩ nếu con đi trộm của cải chôn giấu của người khác, thầy đâu thể dùng vào việc thiêng liêng số tiền kiếm được bằng nỗi đau của người ta. Vì thế con ra đảo Xa-đô, nơi có mỏ vàng, gom nhặt đất cát thợ mỏ đã vứt bỏ vì cho là vô dụng, rồi đem nấu lại trong lửa. Con đã ròng rã mất bao tháng ngày vào việc ấy.
Con lửng nói xong, nhà sư nhìn số tiền nó mang tới, quả nhiên thấy vàng sáng loáng, mới tinh, sạch sẽ. Ông bèn cung kính nhận lấy, nâng lên ngang đầu.
— Vậy ra con đã chịu bao vất vả khó nhọc chỉ vì một câu nói dại dột của ta sao? Ta đã được toại nguyện, thật lòng biết ơn con lắm.
Trong lúc ông đang lễ phép trịnh trọng cảm ơn con lửng, con vật thưa:
— Con làm thế chỉ là làm theo ý nguyện của con thôi. Nhưng con mong thầy đừng kể chuyện này với ai.
Nhà sư đáp:
— Thật ra ta không thể không kể chuyện này. Vì nếu để số tiền này trong túp lều nghèo của ta, kẻ trộm sẽ lấy mất. Ta phải gửi ai đó giữ hộ, hoặc đem cúng chùa ngay. Mà khi làm thế, người ta thấy một ông sư già nghèo khó lại có một số tiền chẳng hợp với thân phận mình, hẳn sẽ sinh nghi, và ta sẽ phải kể lại câu chuyện đúng như nó đã xảy ra. Nhưng ta sẽ nói rằng con lửng cho ta tiền đã thôi không tới lều nữa, nên con chẳng phải sợ bị ai rình bắt, cứ tới như xưa mà tránh rét.
Con lửng gật đầu bằng lòng. Và chừng nào vị sư già còn sống, mùa đông nào nó cũng tới, qua những đêm đông bên ông.
Câu chuyện này cho thấy rõ ngay cả loài thú cũng biết ơn nghĩa. Về đức tính ấy, loài chó hơn hẳn mọi loài thú khác. Chẳng phải sử sách nước Nhật đã chép chuyện con chó của Tô-tô-ri-bê Yô-rô-dư đó sao? Người kể chuyện này nghe nói có nhiều chuyện như thế đã được gom lại in thành sách, nhưng chưa được thấy. Có điều chuyện kể ở đây lại là chuyện con lửng, nên nghe thật lạ lùng biết mấy.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích