Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Đứa bé rơi xuống từ trời sao

Đứa con của vì sao · Chương 1/2 · của Oscar Wilde

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 13.591 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Ngày xửa ngày xưa, có hai bác tiều phu…
  2. 1:51Hai bác tiều phu cứ đi mãi, đi mãi,…
  3. 4:27Nhưng người kia đáp: "Không, để đứa bé chết…
  4. 5:48Bác đáp: "Không, đây là Đứa con của vì…
  5. 7:04Thế là Đứa con của vì sao được nuôi…
  6. 10:26Đứa con của vì sao đỏ mặt tía tai…
  7. 11:39Thế là bác tiều phu và vợ ra ngoài…
  8. 13:18Đứa con của vì sao nói: "Không, mụ gớm…

Chương 1: Đứa bé rơi xuống từ trời sao

Ngày xửa ngày xưa, có hai bác tiều phu nghèo đang băng qua một khu rừng thông lớn để về nhà. Hôm ấy là mùa đông, một đêm rét cắt da cắt thịt. Tuyết phủ dày trên mặt đất và trên những cành cây. Sương giá cứ làm gãy tanh tách những cành con hai bên đường khi họ đi qua. Tới chỗ Thác Núi, thì thấy dòng thác đứng sững lơ lửng giữa không trung, vì Vua Băng đã hôn nàng.

Lạnh đến nỗi cả muông thú lẫn chim chóc cũng chẳng biết nghĩ sao.

Lão Sói vừa cụp đuôi tập tễnh đi qua bụi rậm vừa gầm gừ: "Hừ! Thời tiết gì mà quái gở thế này. Sao chính quyền không lo liệu đi?"

Lũ chim Hồng Tước xanh ríu rít: "Chiêm chiếp! Chiêm chiếp! Mẹ Đất già chết rồi, người ta đã liệm bà trong tấm vải trắng."

Đôi Chim Gáy thì thầm với nhau: "Mẹ Đất sắp lấy chồng, đây là áo cưới của bà đấy." Đôi chân nhỏ màu hồng của chúng đã cóng cả, nhưng chúng thấy mình có bổn phận nhìn sự việc một cách lãng mạn.

Lão Sói gầm lên: "Vớ vẩn! Ta bảo các ngươi, tất cả là lỗi của chính quyền. Không tin thì ta ăn thịt." Lão Sói có đầu óc thực tế hết sức, và chẳng bao giờ thiếu lý lẽ hay.

Bác Gõ Kiến vốn là một nhà triết học bẩm sinh, nói: "Riêng tôi thì tôi chẳng màng mảy may đến chuyện giải thích. Sự việc thế nào thì nó thế ấy, mà hiện giờ thì trời lạnh khủng khiếp."

Trời lạnh khủng khiếp thật. Lũ Sóc nhỏ sống trong thân cây linh sam cao cứ cọ mũi vào nhau cho ấm, lũ Thỏ cuộn tròn trong hang, chẳng dám ló đầu ra cửa. Kẻ duy nhất có vẻ khoái chí là những con Cú lớn có túm lông như sừng. Lông chúng cứng đơ vì sương muối, nhưng chúng chẳng bận tâm. Chúng đảo đôi mắt vàng to tướng, gọi nhau khắp rừng: "Hu hu! Hu hu! Thời tiết mới tuyệt làm sao!"

Hai bác tiều phu cứ đi mãi, đi mãi, hà hơi thật mạnh vào ngón tay, nện đôi ủng to đóng đinh sắt xuống lớp tuyết đông cứng. Có lần họ sụt xuống một đống tuyết sâu, chui ra trắng toát như người thợ xay lúc cối đang xay. Có lần họ trượt chân trên lớp băng cứng nhẵn chỗ nước đầm đóng băng, củi rơi ra khỏi bó, phải nhặt lên buộc lại. Có lần họ tưởng mình lạc đường, một nỗi kinh hoàng lớn xâm chiếm lấy họ, vì họ biết Tuyết rất tàn nhẫn với những ai ngủ trong vòng tay nàng. Nhưng họ đặt lòng tin vào ông thánh Mác-tanh nhân từ, vị thánh che chở mọi người lữ hành, quay lại theo dấu chân cũ, thận trọng bước đi, và cuối cùng ra tới bìa rừng, thấy tít dưới thung lũng bên dưới những ánh đèn của ngôi làng nơi họ sống.

Thoát nạn, họ mừng quá, cười phá lên, mặt đất trong mắt họ như một bông hoa bạc, vầng trăng như một bông hoa vàng.

Nhưng cười xong, họ lại buồn, vì nhớ đến cảnh nghèo của mình. Một người bảo người kia: "Mình vui làm gì kia chứ, trong khi đời sống là để cho người giàu, chứ đâu phải cho hạng như mình? Thà chết rét trong rừng, hay bị thú dữ vồ chết còn hơn."

Người kia đáp: "Đúng thật. Có người được cho nhiều, có người được cho ít. Bất công đã chia chác thế gian, chẳng có gì được chia đều, trừ nỗi khổ."

Nhưng đang than thở với nhau về cảnh khốn cùng thì một chuyện lạ lùng xảy ra. Từ trên trời rơi xuống một ngôi sao rất sáng, rất đẹp. Nó trượt xuống theo sườn trời, lướt qua những ngôi sao khác trên đường rơi. Khi họ đang kinh ngạc nhìn theo, nó như chìm xuống sau một lùm liễu mọc sát một chuồng cừu nhỏ, cách đó chỉ một tầm ném đá.

Họ reo lên: "Ơ kìa! Ai tìm thấy thì được cả một hũ vàng!" Rồi họ cắm đầu chạy, vì họ thèm vàng quá.

Một người chạy nhanh hơn bạn, vượt lên trước, len qua lùm liễu, ra tới phía bên kia. Và kìa! Quả thật có một vật bằng vàng nằm trên tuyết trắng. Bác vội chạy tới, cúi xuống đặt tay lên. Đó là một tấm áo choàng dệt chỉ vàng, thêu hình sao rất khéo, quấn thành nhiều lớp. Bác gọi to báo cho bạn rằng mình đã tìm thấy kho báu từ trên trời rơi xuống. Khi bạn tới nơi, họ ngồi xuống tuyết, gỡ các lớp áo ra để chia nhau những đồng vàng. Nhưng than ôi! Trong đó chẳng có vàng, chẳng có bạc, cũng chẳng có của báu gì, mà chỉ có một đứa bé đang ngủ.

Một người bảo người kia: "Thật là một kết cục cay đắng cho niềm hy vọng của mình, số mình chẳng gặp may gì cả. Vì một đứa trẻ thì có ích gì cho người ta? Thôi cứ để nó lại đây mà đi đường mình. Mình là người nghèo, lại có con cái riêng, đâu thể đem bánh của con mình cho đứa khác."

Nhưng người kia đáp: "Không, để đứa bé chết rét ở đây trong tuyết là điều ác. Tôi cũng nghèo như anh, nhà cũng lắm miệng ăn, trong nồi chẳng có bao nhiêu, nhưng tôi vẫn sẽ mang nó về, vợ tôi sẽ chăm nó."

Thế là bác dịu dàng bế đứa bé lên, quấn áo choàng quanh nó cho đỡ rét, rồi xuống đồi về làng, người bạn đi bên cứ lấy làm lạ mãi vì sự dại dột và mềm lòng của bác.

Tới làng, người bạn bảo bác: "Anh lấy đứa bé thì cho tôi tấm áo choàng, chia thế mới phải."

Nhưng bác đáp: "Không, tấm áo choàng chẳng phải của tôi cũng chẳng phải của anh, mà chỉ là của đứa bé." Rồi bác chào bạn, về nhà mình gõ cửa.

Vợ bác ra mở cửa, thấy chồng về bình yên thì vòng tay ôm cổ chồng mà hôn, đỡ bó củi trên lưng xuống, phủi tuyết trên ủng, bảo chồng vào nhà.

Nhưng bác nói với vợ: "Tôi tìm được một thứ trong rừng, mang về để mình chăm nom." Rồi bác đứng nguyên ở ngưỡng cửa.

Vợ bác kêu lên: "Cái gì thế? Cho tôi xem nào, nhà mình trống trơn, đang thiếu đủ thứ." Bác vén áo choàng, cho vợ xem đứa bé đang ngủ.

Vợ bác lẩm bẩm: "Khốn khổ thay ông ơi! Nhà mình chẳng có con cái riêng hay sao mà ông phải mang một đứa trẻ chẳng biết từ đâu tới về ngồi bên bếp? Ai biết được nó có đem vận rủi đến cho nhà mình không? Mà lấy gì nuôi nó?" Rồi bà nổi giận với chồng.

Bác đáp: "Không, đây là Đứa con của vì sao." Rồi bác kể cho vợ nghe chuyện lạ lùng lúc tìm thấy đứa bé.

Nhưng bà không chịu nguôi, cứ chế nhạo chồng, nói giận dữ, rồi kêu lên: "Con mình còn thiếu bánh ăn, lại đi nuôi con người khác? Có ai lo cho mình đâu? Có ai cho mình cái ăn đâu?"

Bác đáp: "Không, đến chim sẻ Thượng đế cũng còn lo cho, còn cho chúng ăn."

Bà hỏi: "Thế mùa đông chim sẻ chẳng chết đói đấy thôi? Mà bây giờ chẳng phải mùa đông là gì?"

Bác không đáp, nhưng vẫn đứng nguyên ở ngưỡng cửa.

Một luồng gió buốt từ rừng lùa qua cánh cửa mở, làm bà run lên. Bà rùng mình, bảo chồng: "Ông không đóng cửa lại à? Gió buốt lùa vào nhà, tôi lạnh."

Bác hỏi: "Nhà nào có trái tim chai đá, chẳng phải lúc nào cũng có gió buốt lùa vào sao?" Bà không đáp, chỉ thu mình lại gần bếp lửa.

Một lúc sau, bà quay lại nhìn chồng, mắt bà ngấn lệ. Bác vội bước vào, đặt đứa bé vào tay vợ. Bà hôn đứa bé, đặt nó vào chiếc giường nhỏ nơi đứa con út của mình đang nằm. Hôm sau, bác tiều phu lấy tấm áo choàng vàng lạ lùng cất vào một chiếc rương lớn, còn chuỗi hổ phách quanh cổ đứa bé thì vợ bác lấy ra, cũng cất vào rương.

Thế là Đứa con của vì sao được nuôi chung với lũ con bác tiều phu, ngồi cùng mâm với chúng, làm bạn chơi với chúng. Năm này qua năm khác, cậu càng đẹp đẽ hơn, khiến cả làng ai cũng kinh ngạc. Vì trong khi họ da ngăm tóc đen, thì cậu trắng trẻo mịn màng như ngà vừa xẻ, những lọn tóc xoăn như những vòng hoa thuỷ tiên vàng. Môi cậu như cánh một bông hoa đỏ, mắt cậu như những bông violét bên dòng sông trong vắt, thân hình cậu như đoá thuỷ tiên trắng trên cánh đồng nơi người cắt cỏ chưa tới.

Nhưng vẻ đẹp lại làm hại cậu. Vì cậu trở nên kiêu căng, độc ác và ích kỷ. Lũ con bác tiều phu và những đứa trẻ khác trong làng, cậu đều khinh rẻ, bảo chúng là con nhà hèn mọn, còn cậu là dòng dõi cao quý, sinh ra từ một Vì Sao. Cậu tự cho mình làm chủ chúng, gọi chúng là đầy tớ. Cậu chẳng có chút lòng thương nào với người nghèo, với những người mù loà, què cụt hay khốn khổ bất cứ cách nào, mà còn ném đá vào họ, đuổi họ ra đường cái, bảo họ đi ăn xin chỗ khác. Thế nên ngoài bọn trộm cướp ra, chẳng ai đến làng ấy xin bố thí đến lần thứ hai. Thật vậy, cậu như kẻ si mê cái đẹp, cứ chế giễu, trêu chọc những người yếu đuối và xấu xí. Còn chính mình thì cậu yêu lắm. Mùa hè, những lúc lặng gió, cậu thường nằm bên giếng trong vườn cây của cha xứ, nhìn xuống gương mặt tuyệt đẹp của chính mình, rồi cười vì sung sướng trước vẻ đẹp ấy.

Bác tiều phu và vợ thường mắng cậu: "Chúng ta đâu có đối xử với con như con đối xử với những kẻ bơ vơ, không ai giúp đỡ. Sao con lại độc ác với tất cả những ai cần được thương xót như thế?"

Cha xứ già cũng thường cho gọi cậu đến, cố dạy cậu biết yêu thương những sinh vật sống. Ông bảo cậu: "Con ruồi là anh em của con, đừng làm hại nó. Những con chim hoang bay lượn khắp rừng có quyền được tự do, đừng bẫy chúng để mua vui. Thượng đế đã tạo ra con rắn mù và con chuột chũi, con nào cũng có chỗ của nó. Con là ai mà đem nỗi đau vào thế gian của Thượng đế? Ngay cả trâu bò ngoài đồng cũng ca ngợi Người."

Nhưng Đứa con của vì sao chẳng nghe lời họ, chỉ cau mày, bĩu môi, rồi quay về với lũ bạn, dẫn đầu chúng. Lũ bạn đi theo cậu, vì cậu đẹp, chạy nhanh, biết nhảy múa, biết thổi sáo, biết làm ra âm nhạc. Đứa con của vì sao dẫn chúng đi đâu, chúng theo đó. Đứa con của vì sao bảo chúng làm gì, chúng làm nấy. Khi cậu lấy cây sậy nhọn chọc vào đôi mắt mờ của con chuột chũi, chúng cười. Khi cậu ném đá vào người hủi, chúng cũng cười. Cậu cai trị chúng trong mọi việc, và chúng cũng trở nên chai đá y như cậu.

Rồi một hôm, có một người đàn bà ăn xin nghèo khổ đi ngang qua làng. Áo quần bà rách bươm, đôi chân rướm máu vì con đường gồ ghề đã đi qua, trông bà khốn khổ vô cùng. Mệt lả, bà ngồi xuống nghỉ dưới một gốc dẻ.

Nhưng Đứa con của vì sao trông thấy bà thì bảo lũ bạn: "Nhìn kìa! Có một mụ ăn mày bẩn thỉu ngồi dưới gốc cây lá xanh đẹp đẽ kia. Lại đây, ta đuổi mụ đi, vì mụ xấu xí, gớm ghiếc quá."

Thế là cậu lại gần ném đá vào bà, chế giễu bà. Bà nhìn cậu, mắt đầy kinh hãi, không rời mắt khỏi cậu. Bác tiều phu đang bổ củi trong một khoảnh vườn gần đó, thấy Đứa con của vì sao làm thế, liền chạy tới mắng cậu: "Con đúng là có trái tim sắt đá, chẳng biết thương xót là gì. Người đàn bà tội nghiệp này đã làm gì hại con mà con đối xử với bà như thế?"

Đứa con của vì sao đỏ mặt tía tai vì giận, giậm chân xuống đất mà nói: "Ông là ai mà hỏi tôi làm gì? Tôi đâu phải con ông mà phải nghe lời ông."

Bác tiều phu đáp: "Con nói đúng. Nhưng ta đã thương con khi tìm thấy con trong rừng."

Người đàn bà nghe những lời ấy thì kêu lên một tiếng thật to rồi ngất đi. Bác tiều phu bế bà về nhà, vợ bác chăm sóc bà. Khi bà tỉnh lại sau cơn ngất, họ bày thức ăn thức uống trước mặt bà, bảo bà cứ yên lòng.

Nhưng bà không ăn cũng không uống, mà hỏi bác tiều phu: "Có phải bác vừa nói đứa trẻ ấy được tìm thấy trong rừng không? Có phải đến hôm nay là đúng mười năm không?"

Bác tiều phu đáp: "Phải, tôi tìm thấy nó trong rừng, đến hôm nay là đúng mười năm."

Bà kêu lên: "Thế bác thấy những dấu vết gì theo nó? Trên cổ nó có đeo một chuỗi hổ phách không? Quanh người nó có quấn một tấm áo choàng dệt chỉ vàng thêu hình sao không?"

Bác tiều phu đáp: "Đúng thật, y như lời bà nói." Rồi bác lấy tấm áo choàng và chuỗi hổ phách trong rương ra cho bà xem.

Nhìn thấy chúng, bà khóc vì vui mừng, nói: "Nó là đứa con trai bé bỏng tôi đánh mất trong rừng. Xin bác cho gọi nó về ngay, vì tôi đã lang thang khắp thế gian để tìm nó."

Thế là bác tiều phu và vợ ra ngoài gọi Đứa con của vì sao, bảo cậu: "Vào nhà đi con, mẹ con đang đợi con trong đó."

Cậu chạy vào, lòng đầy kinh ngạc và vui sướng. Nhưng khi thấy người đang đợi mình, cậu cười khinh bỉ, nói: "Ơ, mẹ tôi đâu? Ở đây tôi chỉ thấy mụ ăn mày đê tiện này thôi."

Người đàn bà đáp: "Mẹ là mẹ con đây."

Đứa con của vì sao giận dữ kêu lên: "Mụ điên rồi mới nói thế. Tôi chẳng phải con mụ. Mụ là đồ ăn mày, xấu xí, rách rưới. Cút đi, đừng để tôi thấy bộ mặt gớm ghiếc của mụ nữa."

Bà kêu lên: "Không, con đúng là đứa con trai bé bỏng mẹ đã sinh ra trong rừng." Rồi bà quỳ xuống, dang tay về phía cậu. Bà thì thầm: "Bọn cướp đã bắt trộm con khỏi tay mẹ, bỏ mặc con cho chết. Nhưng thấy con là mẹ nhận ra ngay, mẹ cũng nhận ra những dấu vết, tấm áo choàng dệt chỉ vàng và chuỗi hổ phách. Vậy mẹ xin con hãy đi với mẹ, vì mẹ đã lang thang khắp thế gian để tìm con. Đi với mẹ đi con, vì mẹ cần tình thương của con."

Nhưng Đứa con của vì sao không nhúc nhích khỏi chỗ mình đứng, mà đóng chặt cửa lòng lại với bà. Chẳng có tiếng động nào ngoài tiếng người đàn bà khóc vì đau đớn.

Cuối cùng cậu cất tiếng nói với bà, giọng cứng rắn và cay độc: "Nếu quả thật mụ là mẹ tôi, thì thà mụ đừng đến đây làm tôi xấu hổ còn hơn. Tôi vẫn tưởng mình là con của một Vì Sao nào đó, chứ không phải con một mụ ăn mày như mụ nói. Thế nên cút đi, đừng để tôi thấy mụ nữa."

Bà kêu lên: "Than ôi, con ơi, con không hôn mẹ một cái trước khi mẹ đi sao? Mẹ đã khổ sở biết bao mới tìm được con."

Đứa con của vì sao nói: "Không, mụ gớm ghiếc quá, tôi thà hôn con rắn lục hay con cóc còn hơn hôn mụ."

Thế là người đàn bà đứng dậy, khóc nức nở mà đi vào rừng. Thấy bà đi rồi, Đứa con của vì sao mừng lắm, chạy về với lũ bạn để chơi đùa.

Nhưng thấy cậu đến, chúng chế nhạo cậu: "Ơ kìa, mày gớm ghiếc như con cóc, ghê tởm như con rắn lục. Cút đi, chúng tao không cho mày chơi cùng đâu." Rồi chúng đuổi cậu ra khỏi vườn.

Đứa con của vì sao cau mày, tự nhủ: "Chúng nói gì với ta thế này? Ta sẽ ra giếng nước nhìn xuống, giếng sẽ nói cho ta biết ta đẹp thế nào."

Thế là cậu ra giếng nước nhìn xuống. Và kìa! Mặt cậu giống mặt con cóc, mình cậu đầy vảy như con rắn lục. Cậu gieo mình xuống cỏ mà khóc, tự nhủ: "Hẳn là điều này đã giáng xuống đầu ta vì tội lỗi của ta. Vì ta đã chối bỏ mẹ ta, đã xua đuổi bà, đã kiêu căng và độc ác với bà. Thế nên ta sẽ đi tìm bà khắp thế gian, chưa tìm thấy bà thì ta chưa nghỉ."

Cô con gái nhỏ của bác tiều phu đến bên cậu, đặt tay lên vai cậu, nói: "Mất vẻ đẹp thì có sao đâu? Anh cứ ở lại với chúng em, em sẽ không chế nhạo anh đâu."

Cậu bảo cô bé: "Không, anh đã độc ác với mẹ anh, nên điều ác này mới giáng xuống anh để trừng phạt. Thế nên anh phải đi, phải lang thang khắp thế gian cho tới khi tìm thấy mẹ, và được mẹ tha thứ."

— Hết chương 1 —

Mục lục Đứa con của vì sao

  1. 1Đứa bé rơi xuống từ trời sao14 phút
  2. 2Ba đồng tiền vàngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảOscar Wilde (1854 – 1900)
Năm mất1900
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Star-Child, trong A House of Pomegranates, 1891
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →