Chương 1: Toà lâu đài mái vàng
Các ngươi đã nghe lời rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Ta bảo các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác.
Phúc Âm theo thánh Mát-thêu, chương năm.
Sự báo oán thuộc về Ta. Chính Ta sẽ báo trả.
Thư gửi tín hữu Rô-ma, chương mười hai.
Một bác nông dân nghèo sinh được đứa con trai. Bác mừng lắm, sang nhà hàng xóm mời người ta làm cha đỡ đầu. Người hàng xóm từ chối, chẳng ai muốn làm cha đỡ đầu cho con nhà nghèo. Bác nông dân nghèo đi sang nhà khác, người ấy cũng từ chối.
Bác đi khắp làng mà chẳng ai chịu nhận. Bác bèn sang một làng khác. Dọc đường, bác gặp một người khách qua đường. Người khách dừng lại, hỏi:
— Chào bác nông dân. Bác đi đâu thế?
Bác nông dân đáp:
— Chúa vừa cho tôi một đứa con. Lúc trẻ thì để ngắm, lúc già thì để cậy, lúc chết thì để nó thắp hương cầu hồn cho. Nhưng vì tôi nghèo, nên trong làng chẳng ai chịu làm cha đỡ đầu cho nó. Tôi đang đi tìm người đỡ đầu đây.
Người khách qua đường nói:
— Bác để tôi làm cha đỡ đầu cho.
Bác nông dân mừng lắm, cảm ơn người khách, rồi hỏi:
— Thế mời ai làm mẹ đỡ đầu bây giờ?
Người khách bảo:
— Mẹ đỡ đầu thì bác mời con gái một nhà buôn. Bác lên tỉnh, ở quảng trường có ngôi nhà bằng đá, dưới có cửa hàng. Bác đứng ở cửa mà xin ông nhà buôn cho con gái ông làm mẹ đỡ đầu.
Bác nông dân ngần ngại:
— Thưa ông, người cha đỡ đầu của con tôi, tôi làm sao dám tới nhà một nhà buôn giàu có? Ông ấy sẽ khinh tôi, chẳng cho con gái đi đâu.
— Việc ấy bác đừng lo. Cứ đi mà xin. Sáng mai bác chuẩn bị sẵn đi, tôi sẽ tới làm lễ rửa tội.
Bác nông dân nghèo trở về nhà, rồi đánh xe lên tỉnh tìm ông nhà buôn. Bác buộc ngựa trong sân. Chính ông nhà buôn bước ra.
— Bác cần gì?
— Thưa ông, Chúa vừa cho tôi một đứa con. Lúc trẻ thì để ngắm, lúc già thì để cậy, lúc chết thì để nó thắp hương cầu hồn cho. Xin ông làm ơn cho cô nhà làm mẹ đỡ đầu cho cháu.
— Thế bao giờ làm lễ rửa tội?
— Sáng mai ạ.
— Được, bác cứ về đi, sáng mai trước giờ lễ nó sẽ tới.
Hôm sau, mẹ đỡ đầu tới, cha đỡ đầu cũng tới, đứa bé được rửa tội. Rửa tội xong, người cha đỡ đầu đi ra, chẳng ai biết ông là ai, và từ đó cũng chẳng ai thấy ông nữa.
Đứa bé lớn lên, làm cho cha mẹ vui lòng. Cậu khoẻ mạnh, chăm làm, thông minh, lại hiền lành. Cậu lên mười tuổi, cha mẹ cho đi học chữ. Cái mà người khác học năm năm, cậu học một năm đã xong. Chẳng còn gì để học nữa.
Tới tuần lễ Phục Sinh, cậu bé sang chúc mừng mẹ đỡ đầu, rồi trở về nhà, hỏi:
— Thưa cha, thưa mẹ, cha đỡ đầu của con ở đâu? Con muốn tới chúc mừng ông.
Người cha bảo:
— Con yêu ơi, cha mẹ cũng không biết cha đỡ đầu của con ở đâu. Chính cha mẹ cũng buồn vì chuyện ấy. Từ khi ông rửa tội cho con tới giờ, cha mẹ chưa gặp lại ông. Cũng chẳng nghe tin tức gì, chẳng biết ông ở đâu, chẳng biết ông còn sống hay không.
Cậu con cúi chào cha mẹ, nói:
— Thưa cha, thưa mẹ, xin cha mẹ cho con đi tìm cha đỡ đầu. Con muốn tìm ra ông, để chúc mừng ông ngày Chúa sống lại.
Cha mẹ cho cậu đi. Và cậu bé lên đường tìm cha đỡ đầu của mình.
Cậu bé ra khỏi nhà, cứ thế mà đi theo đường cái. Đi được nửa ngày, cậu gặp một người khách qua đường.
Người khách dừng lại, hỏi:
— Chào cháu. Cháu đi đâu thế?
Cậu bé đáp:
— Cháu vừa sang chúc mừng mẹ đỡ đầu ngày Chúa sống lại. Về nhà, cháu hỏi cha mẹ cha đỡ đầu của cháu ở đâu, vì cháu muốn tới chúc mừng ông. Cha mẹ cháu bảo không biết, từ ngày rửa tội cho cháu, ông đi đâu mất, chẳng ai biết tin tức gì, cũng chẳng biết ông còn sống không. Thế là cháu muốn gặp cha đỡ đầu của mình, nên đi tìm ông đây.
Người khách nói:
— Ta là cha đỡ đầu của con đây.
Cậu bé mừng rỡ, chúc mừng cha đỡ đầu ngày Chúa sống lại.
— Thưa cha đỡ đầu, bây giờ cha đi đâu? Nếu cha đi về phía làng con, thì xin mời cha ghé nhà con. Còn nếu cha về nhà cha, thì con xin đi theo cha.
Người cha đỡ đầu bảo:
— Bây giờ ta không rảnh để ghé nhà con được, ta còn có việc ở các làng. Nhưng mai ta sẽ về nhà. Lúc ấy con hãy tới chỗ ta.
— Thưa cha, nhưng con biết tìm cha ở đâu?
— Con cứ đi thẳng về phía mặt trời mọc, cứ đi thẳng mãi. Con sẽ tới một khu rừng, giữa rừng có một bãi trống. Con hãy ngồi xuống bãi trống ấy mà nghỉ, và nhìn xem có chuyện gì xảy ra ở đó. Ra khỏi rừng, con sẽ thấy một khu vườn, trong vườn có một toà lâu đài mái vàng. Đó là nhà ta. Con cứ tới cổng. Chính ta sẽ ra đón con ở đó.
Nói xong, người cha đỡ đầu biến mất khỏi mắt cậu bé.
Cậu bé đi đúng như lời cha đỡ đầu dặn. Đi mãi, đi mãi, cậu tới một khu rừng. Cậu ra tới bãi trống, thì thấy giữa bãi có một cây thông. Trên một cành thông có buộc một sợi dây thừng, đầu dây treo một khúc gỗ sồi nặng chừng năm chục cân. Ngay dưới khúc gỗ là một cái máng đầy mật ong. Cậu bé vừa nghĩ không hiểu sao mật ong lại để ở đây, sao khúc gỗ lại treo ở đây, thì trong rừng có tiếng cành cây gãy răng rắc. Cậu thấy một bầy gấu đi tới. Đi đầu là gấu mẹ, theo sau là một con gấu choai một tuổi, cuối cùng là ba chú gấu con nhỏ xíu. Gấu mẹ hếch mũi hít hít, rồi đi thẳng tới cái máng, bầy gấu con theo sau. Gấu mẹ thò mõm vào mật, gọi các con. Bầy gấu con nhảy tới, chúi mõm vào máng. Khúc gỗ đung đưa ra một chút, rồi quay lại, huých vào bầy gấu con. Gấu mẹ thấy thế, lấy chân gạt khúc gỗ ra. Khúc gỗ văng ra xa hơn, rồi lại quay về, nện vào giữa bầy gấu con, con thì trúng lưng, con thì trúng đầu. Bầy gấu con kêu ré lên, nhảy tránh ra xa. Gấu mẹ gầm lên, giơ cả hai chân trước túm lấy khúc gỗ trên đầu, quẳng mạnh ra xa. Khúc gỗ bay vút lên cao. Con gấu choai nhảy tới cái máng, chúi mõm vào mật, nhai tóp tép, mấy con kia cũng bắt đầu lại gần. Chưa kịp lại gần thì khúc gỗ đã bay trở về, nện trúng đầu con gấu choai, giết chết nó. Gấu mẹ gầm lên còn dữ hơn trước, túm lấy khúc gỗ, dồn hết sức ném vút lên trời. Khúc gỗ bay cao hơn cả cành cây, đến nỗi sợi dây cũng chùng xuống. Gấu mẹ đi tới cái máng, bầy gấu con theo sau. Khúc gỗ bay lên, bay lên mãi, rồi dừng lại, rồi rơi xuống. Càng xuống thấp càng lao nhanh. Nó lao vun vút, nện xuống gấu mẹ, giáng một cú trời giáng vào đầu. Gấu mẹ lăn lộn, giãy giãy mấy cái chân rồi chết. Bầy gấu con chạy tán loạn.
Cậu bé lấy làm lạ, rồi đi tiếp. Cậu tới một khu vườn lớn, trong vườn có một toà lâu đài cao, mái vàng. Người cha đỡ đầu đang đứng ở cổng mỉm cười. Ông chào đứa con đỡ đầu, dẫn cậu vào cổng, rồi dẫn đi khắp vườn. Đến trong mơ, cậu bé cũng chưa từng thấy cảnh đẹp đẽ, vui tươi như trong khu vườn ấy.
Người cha đỡ đầu dẫn cậu bé vào lâu đài. Trong lâu đài còn đẹp hơn nữa. Ông dẫn cậu đi qua hết các phòng, phòng nào cũng đẹp hơn phòng trước, vui hơn phòng trước. Rồi ông dẫn cậu tới một cánh cửa có niêm phong.
— Con có thấy cánh cửa này không? Nó không có khoá, chỉ có niêm phong. Mở ra thì cũng mở được, nhưng ta cấm con. Con cứ sống ở đây, muốn đi chơi đâu, muốn làm gì cũng được. Con hãy vui hưởng mọi niềm vui. Ta chỉ cấm con một điều: đừng bước vào cánh cửa này. Mà nếu có bước vào, thì hãy nhớ lại những gì con đã thấy trong rừng.
Nói xong, người cha đỡ đầu đi mất. Đứa con đỡ đầu ở lại một mình, và cứ thế sống ở đó. Cậu vui sướng, hạnh phúc tới mức tưởng mình mới ở đó có ba giờ, mà thật ra cậu đã ở đó ba mươi năm. Ba mươi năm trôi qua, đứa con đỡ đầu tới bên cánh cửa niêm phong, nghĩ bụng: "Tại sao cha đỡ đầu lại cấm mình vào căn phòng này nhỉ? Để mình vào xem trong ấy có gì."
Anh đẩy cửa, các dấu niêm phong bật tung, cánh cửa mở ra. Anh bước vào, thấy một gian phòng rộng nhất, đẹp nhất, chính giữa có một chiếc ngai vàng. Anh đi quanh gian phòng một lúc, rồi tới bên ngai, bước lên bậc, và ngồi xuống. Ngồi xuống rồi, anh thấy cạnh ngai có dựng một cây quyền trượng. Anh cầm lấy cây trượng. Vừa cầm cây trượng lên tay thì bỗng cả bốn bức tường của gian phòng đổ sập xuống. Anh nhìn quanh mình, thấy cả thế gian và mọi việc người đời đang làm trên thế gian. Nhìn thẳng phía trước, anh thấy biển cả, tàu thuyền qua lại. Nhìn sang bên phải, anh thấy những dân tộc xa lạ, không theo đạo Ki-tô. Nhìn sang bên trái, anh thấy những người theo đạo Ki-tô, nhưng không phải người Nga. Nhìn sang phía thứ tư, anh thấy người Nga mình đang sống. Anh nghĩ: "Để mình xem ở nhà đang có chuyện gì, lúa má năm nay có tốt không." Anh nhìn ra cánh đồng nhà mình, thấy những đống lúa đang xếp ngoài ruộng. Anh đang đếm xem có bao nhiêu đống, được bao nhiêu lúa, thì thấy một chiếc xe đi ra đồng, trên xe có một người đàn ông. Anh tưởng là cha mình ra chở lúa ban đêm. Nhìn kỹ thì thấy đó là Va-xi-li Cu-đri-a-sốp, một tên trộm. Hắn đánh xe tới chỗ những đống lúa, bắt đầu chất lên xe. Đứa con đỡ đầu tức lắm, kêu lên:
— Cha ơi, có người ăn trộm lúa ngoài đồng!
Người cha đang trông ngựa ngoài bãi đêm, giật mình tỉnh dậy, nói:
— Mình vừa mơ thấy có người ăn trộm lúa. Để mình ra xem sao.
Ông lên ngựa, đi ra đồng.
Ra tới đồng, ông thấy Va-xi-li, bèn hô hoán người làng. Người ta đánh Va-xi-li một trận, trói lại, giải vào nhà tù.
Đứa con đỡ đầu lại nhìn về thành phố, nơi mẹ đỡ đầu của anh sống. Anh thấy bà đã lấy chồng là một nhà buôn. Bà đang nằm ngủ, còn ông chồng thì trở dậy, đi tới chỗ nhân tình. Đứa con đỡ đầu kêu lên với bà:
— Dậy đi, chồng bà đang làm chuyện xấu đấy.
Bà mẹ đỡ đầu bật dậy, mặc áo, tìm ra chỗ chồng, sỉ nhục chồng, đánh người nhân tình một trận, rồi đuổi chồng đi.
Đứa con đỡ đầu lại nhìn về mẹ mình, thì thấy bà đang ngủ trong nhà, có một tên cướp trèo vào, bắt đầu phá cái rương. Bà mẹ tỉnh dậy, la lên. Tên cướp thấy thế, chộp lấy cái rìu, vung lên định giết bà.
Đứa con đỡ đầu không kìm được, ném mạnh cây trượng vào tên cướp, trúng ngay thái dương, giết chết hắn tại chỗ.
Đứa con đỡ đầu vừa giết tên cướp thì các bức tường lại khép lại, gian phòng trở lại như cũ.
Cánh cửa mở ra, người cha đỡ đầu bước vào. Ông tới bên đứa con đỡ đầu, nắm tay anh, dắt xuống khỏi ngai, rồi nói:
— Con đã không nghe lời ta dặn. Việc xấu thứ nhất là con đã mở cánh cửa bị cấm. Việc xấu thứ hai là con đã bước lên ngai và cầm cây trượng của ta. Việc xấu thứ ba là con đã thêm biết bao điều ác cho thế gian. Nếu con ngồi đó thêm một giờ nữa, con đã làm hại tới một nửa loài người.
Rồi người cha đỡ đầu lại đưa đứa con đỡ đầu lên ngai, cầm cây trượng lên tay. Các bức tường lại đổ xuống, mọi thứ lại hiện ra trước mắt.
Người cha đỡ đầu nói:
— Bây giờ con hãy xem con đã làm gì với cha con. Va-xi-li đã ngồi tù một năm, học được đủ mọi thói ác, trở nên hung dữ vô cùng. Con xem kia, hắn đã trộm của cha con hai con ngựa, và con thấy đấy, hắn còn đang châm lửa đốt nhà cha con. Con đã làm thế đấy với cha con.
Đứa con đỡ đầu vừa thấy nhà cha mình bốc cháy thì người cha đỡ đầu đã che cảnh ấy đi, bảo anh nhìn sang phía khác.
— Đây, chồng của mẹ đỡ đầu con đã bỏ vợ được một năm nay, đi ăn chơi với những người đàn bà khác. Còn bà thì vì đau khổ mà sinh ra rượu chè. Còn người nhân tình cũ của ông ta thì sa đoạ hẳn. Con đã làm thế đấy với mẹ đỡ đầu của con.
Người cha đỡ đầu lại che cảnh ấy đi, chỉ về nhà anh. Anh thấy mẹ mình. Bà đang khóc vì tội lỗi của mình, đang sám hối, nói:
— Giá như hồi ấy tên cướp giết quách tôi đi, thì tôi đã chẳng phạm bao nhiêu tội lỗi thế này.
— Con đã làm thế đấy với mẹ con.
Người cha đỡ đầu lại che cả cảnh ấy, rồi chỉ xuống dưới. Đứa con đỡ đầu thấy tên cướp. Hai tên lính canh đang giữ hắn trước cửa ngục tối. Người cha đỡ đầu nói:
— Người này đã giết chín mạng người. Đáng lẽ hắn phải tự mình chuộc lấy tội lỗi của hắn, nhưng con đã giết hắn, nên con đã gánh hết tội lỗi của hắn về mình. Bây giờ con phải trả lời về tất cả tội lỗi của hắn. Con đã làm thế đấy với chính mình. Con gấu mẹ hất khúc gỗ lần thứ nhất, nó làm bầy gấu con hoảng sợ. Lần thứ hai, nó giết chết con gấu choai. Lần thứ ba, nó giết chết chính mình. Con cũng đã làm đúng như thế. Bây giờ ta cho con một hạn ba mươi năm. Con hãy đi vào thế gian mà chuộc tội cho tên cướp. Nếu không chuộc được, con sẽ phải thế chỗ hắn.
Đứa con đỡ đầu hỏi:
— Làm sao con chuộc được tội của hắn?
Người cha đỡ đầu đáp:
— Khi nào con trừ bỏ trên thế gian được bao nhiêu điều ác bằng chừng con đã gây ra, thì con sẽ chuộc được tội của con và tội của tên cướp.
Đứa con đỡ đầu hỏi:
— Làm sao trừ bỏ được điều ác trên thế gian?
Người cha đỡ đầu nói:
— Con hãy đi thẳng về phía mặt trời mọc. Con sẽ tới một cánh đồng, trên đồng có người. Con hãy để ý xem người ta làm gì, và dạy cho họ những điều con biết. Rồi con đi tiếp, để ý những gì con thấy. Tới ngày thứ tư, con sẽ tới một khu rừng. Trong rừng có một túp lều tu, trong lều có một ông lão ẩn tu. Con hãy kể cho ông nghe hết mọi chuyện. Ông sẽ dạy con. Khi nào con làm xong tất cả những gì ông lão bảo, thì con sẽ chuộc được tội của con và tội của tên cướp.
Nói xong, người cha đỡ đầu đưa đứa con đỡ đầu ra khỏi cổng.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn