Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đứa trẻ làm gián điệp

của Alphonse Daudet

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 12.737 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Nó tên là Xten, thằng bé Xten.
  2. 2:42Có một người đặc biệt, một gã to lớn…
  3. 4:19Lờ mờ như trong mơ, thằng bé Xten thấy…
  4. 6:10“Về thôi… Đừng đi nữa”, thằng bé Xten cứ…
  5. 7:40Thằng bé Xten cũng muốn nói, muốn tỏ ra…
  6. 8:56Rồi họ bắt đầu bàn bạc với nhau rất…
  7. 10:50Chưa bao giờ ông Xten hiền từ, vui vẻ…
  8. 12:14Thế là một mạch, thằng bé Xten kể lại…

Nó tên là Xten, thằng bé Xten.

Đó là một đứa trẻ Pa-ri, gầy gò, xanh xao, có thể mười tuổi, cũng có thể mười lăm. Với những chú nhóc bé như con muỗi ấy, chẳng bao giờ biết chắc được. Mẹ nó đã mất. Bố nó, một cựu lính thuỷ, làm người coi một khu vườn hoa nhỏ ở khu phố Tăm-pơ. Những em bé, những chị vú em, những bà già mang ghế xếp, những bà mẹ nghèo, tất cả cái Pa-ri lon ton ấy, đến tránh xe cộ trong những bồn hoa có vỉa hè bao quanh, đều biết ông Xten và quý ông lắm. Ai cũng biết rằng dưới bộ ria mép rậm làm lũ chó và bọn ngồi lì ghế đá khiếp sợ, ẩn một nụ cười hiền hậu, trìu mến, gần như của người mẹ, và muốn thấy nụ cười ấy, chỉ cần hỏi ông:

“Cậu con trai ông dạo này thế nào?…”

Ông Xten thương con trai biết bao! Buổi chiều tan học, thằng bé đến đón bố, hai bố con đi một vòng quanh các lối đi, dừng lại ở mỗi chiếc ghế để chào những khách quen, đáp lại những lời thăm hỏi của họ, ông sung sướng biết bao.

Khi thành phố bị vây hãm, khốn thay, mọi sự đều thay đổi. Khu vườn của ông Xten bị đóng cửa, người ta chứa dầu hoả trong đó, và người đàn ông tội nghiệp phải canh gác suốt ngày đêm, sống giữa những bồn cây vắng tanh và xơ xác, một mình, không được hút thuốc, chỉ được gặp con trai vào buổi tối, rất muộn, ở nhà. Vì thế phải thấy bộ ria của ông dựng lên thế nào khi ông nói đến bọn Phổ… Còn thằng bé Xten thì chẳng phàn nàn mấy về cuộc sống mới này.

Một cuộc vây hãm! Với lũ nhóc thì vui lắm chứ. Không phải đến trường! Không phải học bài! Nghỉ suốt ngày, và phố xá như một bãi chợ phiên…

Thằng bé ở ngoài đường chạy nhảy tới tận tối. Nó đi theo các tiểu đoàn trong khu phố ra mặt thành, chọn những tiểu đoàn có ban nhạc hay. Về khoản này, thằng bé Xten thạo lắm. Nó nói rất rành rằng ban nhạc của tiểu đoàn chín mươi sáu chẳng ra gì, nhưng tiểu đoàn năm mươi lăm thì có một ban nhạc tuyệt vời. Những lúc khác, nó xem lính cơ động tập. Rồi còn những hàng người xếp hàng nữa…

Cắp giỏ dưới nách, nó chen vào những hàng dài dằng dặc xếp từ lúc trời còn tối, những buổi sáng mùa đông không có đèn hơi, trước song sắt cửa hàng thịt, cửa hàng bánh mì. Ở đó, chân ngâm trong nước, người ta làm quen với nhau, người ta bàn chuyện chính trị, và vì là con ông Xten, ai cũng hỏi ý kiến nó. Nhưng vui nhất vẫn là những ván ném nút chai, cái trò ném đồng xu vào nút chai mà lính cơ động xứ Brơ-ta-nhơ làm thành mốt trong thời gian vây hãm. Khi thằng bé Xten không ở trên mặt thành hay ở các cửa hàng bánh mì, thì chắc chắn sẽ thấy nó ở chỗ ném nút chai trên quảng trường Sa-tô Đô. Nó không chơi, dĩ nhiên rồi, phải có nhiều tiền lắm. Nó chỉ đứng nhìn những người chơi bằng cặp mắt thèm thuồng!

Có một người đặc biệt, một gã to lớn mặc áo bờ lu xanh, chỉ đặt cược bằng đồng bạc năm phrăng, làm nó thán phục nhất. Mỗi khi gã chạy, nghe thấy tiền kêu xủng xoảng trong túi áo…

Một hôm, nhặt một đồng tiền lăn đến tận chân thằng bé Xten, gã to lớn bảo nó khẽ:

“Thèm lác mắt chứ gì?… Thế thì, nếu mày muốn, tao sẽ chỉ cho chỗ kiếm được thứ này.”

Ván chơi xong, gã dẫn nó ra một góc quảng trường và rủ nó cùng đi bán báo cho bọn Phổ, mỗi chuyến được ba mươi phrăng. Lúc đầu, thằng Xten từ chối, rất phẫn nộ. Và thế là nó ở lì ba ngày không đến chỗ ném nút chai nữa. Ba ngày khủng khiếp. Nó không ăn, không ngủ được nữa. Đêm đến, nó thấy những đống nút chai dựng đứng dưới chân giường, và những đồng bạc năm phrăng sáng loáng trượt đi trên mặt đất. Cám dỗ mạnh quá. Ngày thứ tư, nó trở lại quảng trường Sa-tô Đô, gặp lại gã to lớn, và để bị dụ dỗ…

Hai đứa ra đi vào một buổi sáng có tuyết, vai đeo một cái bao vải, báo giấu dưới áo bờ lu. Khi chúng tới cửa ô Phlăng-đơ, trời vừa mới hửng sáng. Gã to lớn nắm tay thằng Xten, đến gần người lính gác, một anh vệ binh hiền lành, mũi đỏ, vẻ tốt bụng, và nói bằng giọng của kẻ nghèo khổ:

“Ông tốt bụng ơi, cho chúng cháu qua với… Mẹ chúng cháu ốm, bố chúng cháu chết rồi. Cháu với em cháu đi xem có nhặt được ít khoai tây ngoài ruộng không.”

Gã khóc. Thằng Xten, xấu hổ quá, cúi gằm mặt xuống. Người lính gác nhìn hai đứa một lúc, đưa mắt nhìn con đường vắng tanh và trắng xoá.

“Đi nhanh lên”, anh bảo chúng, rồi đứng tránh sang một bên. Thế là chúng đã ở trên đường đi Ô-béc-vi-li-ê. Gã to lớn cười mới khoái chứ!

Lờ mờ như trong mơ, thằng bé Xten thấy những nhà máy biến thành trại lính, những chiến luỹ bỏ trống, chất đầy giẻ ướt, những ống khói cao xuyên qua sương mù và vươn lên trời, nguội lạnh, sứt mẻ. Thỉnh thoảng lại có một người lính gác, mấy sĩ quan trùm mũ cầm ống nhòm nhìn về phía xa, và những chiếc lều nhỏ ướt đẫm tuyết tan trước những đống lửa sắp tàn. Gã to lớn thuộc đường, đi tắt qua đồng để tránh các đồn gác. Thế nhưng chúng vẫn không tránh khỏi một tiền đồn lớn của đội du kích. Những người du kích ở đó, mặc áo choàng ngắn, ngồi co ro dưới đáy một cái hào đầy nước, dọc theo đường sắt đi Xoa-xông. Lần này, gã to lớn có kể lại câu chuyện của mình cũng vô ích, người ta không cho chúng qua. Đang lúc gã kêu khóc thì từ ngôi nhà của người gác chắn đường bước ra một ông trung sĩ già, tóc trắng xoá, nhăn nheo, trông giống ông Xten:

Ông bảo hai đứa:

“Thôi nào! Các nhóc, đừng khóc nữa! Rồi người ta sẽ cho các cháu đi nhặt khoai tây. Nhưng trước hết vào đây sưởi một chút đã… Thằng nhóc này trông như đông cứng lại rồi!”

Than ôi! Thằng bé Xten run không phải vì lạnh, mà vì sợ, vì xấu hổ… Trong đồn, chúng thấy mấy người lính ngồi co ro quanh một đống lửa leo lét, đúng là một bếp lửa nhà nghèo, họ hơ những mẩu bánh quy đông cứng trên đầu lưỡi lê. Người ta cho hai đứa một ngụm rượu, một chút cà phê. Trong lúc chúng đang uống, một viên sĩ quan đến cửa, gọi ông trung sĩ ra, nói nhỏ với ông mấy câu rồi vội vã đi ngay.

Ông trung sĩ quay vào, mặt rạng rỡ, bảo:

“Các cậu ơi! Đêm nay có chuyện lớn rồi đấy… Ta đã bắt được mật khẩu của bọn Phổ… Lần này tôi tin là ta sẽ chiếm lại được cái làng Bua-giê khốn kiếp ấy!”

Cả đồn reo hò và cười vang. Người ta nhảy múa, ca hát, đánh bóng lưỡi lê. Và lợi dụng lúc ồn ào ấy, hai đứa trẻ lẩn mất.

Qua khỏi chiến hào thì chỉ còn đồng bằng, và ở cuối là một bức tường dài màu trắng đục lỗ châu mai. Chúng đi về phía bức tường ấy, cứ mỗi bước lại dừng lại, giả vờ nhặt khoai tây.

“Về thôi… Đừng đi nữa”, thằng bé Xten cứ nói mãi.

Thằng kia nhún vai và cứ đi tiếp. Bỗng chúng nghe tiếng lách cách của một khẩu súng đang lên cò.

“Nằm xuống!” Gã to lớn nói, rồi nằm rạp xuống đất.

Nằm xuống rồi, gã huýt sáo. Một tiếng huýt sáo khác đáp lại trên tuyết. Chúng bò tới… Trước bức tường, sát mặt đất, hiện ra hai cái ria vàng hoe dưới một chiếc mũ nồi bẩn thỉu. Gã to lớn nhảy xuống hào, cạnh tên lính Phổ.

“Em tôi đấy”, gã nói, chỉ vào thằng bạn đồng hành.

Thằng Xten bé quá, đến nỗi trông thấy nó, tên lính Phổ phá lên cười, phải bế nó lên để đưa qua chỗ tường thủng.

Bên kia bức tường là những đống đất đắp cao, những thân cây đổ, những hố đen trên tuyết, và trong mỗi hố lại là chiếc mũ nồi bẩn thỉu ấy, bộ ria vàng ấy, đang cười khi thấy hai đứa trẻ đi qua.

Trong một góc có một ngôi nhà của người làm vườn được gia cố bằng thân cây thành công sự. Tầng dưới đầy lính đang đánh bài, nấu xúp trên một đống lửa to sáng rực. Thơm phức mùi bắp cải, mùi mỡ lợn. Khác hẳn với chỗ đóng quân của đội du kích! Ở tầng trên là các sĩ quan, nghe thấy họ đánh dương cầm, mở rượu sâm banh. Khi hai đứa trẻ Pa-ri bước vào, một tràng reo mừng đón chúng. Chúng đưa báo ra. Rồi người ta rót rượu cho chúng uống và gợi chuyện. Tất cả những sĩ quan ấy đều có vẻ kiêu ngạo và độc ác. Nhưng gã to lớn làm họ thích thú với cái giọng ba hoa của dân ngoại ô, với lối nói của dân du thủ du thực. Họ cười, nhắc lại những câu gã nói, khoái trá lăn mình trong cái thứ bùn Pa-ri mà người ta mang đến cho họ.

Thằng bé Xten cũng muốn nói, muốn tỏ ra mình không ngốc. Nhưng có cái gì làm nó ngượng ngùng. Trước mặt nó, ngồi tách riêng, có một tên lính Phổ nhiều tuổi hơn, nghiêm nghị hơn những người khác, đang đọc sách, hay đúng hơn là làm như đang đọc, vì mắt ông ta không rời khỏi nó. Trong cái nhìn ấy có sự trìu mến và trách móc, như thể người ấy có ở quê nhà một đứa con cùng tuổi với thằng Xten, và đang tự nhủ:

“Thà ta chết còn hơn thấy con trai ta làm cái nghề như thế…”

Từ lúc ấy, thằng Xten cảm thấy như có một bàn tay đặt lên tim mình, không cho nó đập.

Để thoát khỏi nỗi khắc khoải ấy, nó bắt đầu uống. Chẳng mấy chốc mọi thứ quay cuồng quanh nó. Giữa những tràng cười to, nó lờ mờ nghe thằng bạn chế giễu đội vệ binh quốc gia, chế giễu cách họ tập luyện, bắt chước một buổi tập hợp ở khu Ma-rê, một lần báo động ban đêm trên mặt thành. Rồi gã to lớn hạ giọng, các sĩ quan xích lại gần, và những khuôn mặt trở nên nghiêm trọng. Thằng khốn nạn đang báo cho họ biết về cuộc tấn công của đội du kích.

Đến đây thì thằng bé Xten đứng bật dậy, tức giận, tỉnh hẳn rượu:

“Không được thế, anh ơi… Tôi không muốn.”

Nhưng thằng kia chỉ cười và nói tiếp. Nó chưa nói hết thì tất cả các sĩ quan đã đứng dậy. Một người chỉ ra cửa cho hai đứa trẻ:

“Cút đi!” Hắn quát.

Rồi họ bắt đầu bàn bạc với nhau rất nhanh bằng tiếng Đức. Gã to lớn đi ra, vênh váo như một ông quan lớn, lắc cho tiền kêu xủng xoảng. Thằng Xten đi theo, đầu cúi gằm. Khi đi ngang qua tên lính Phổ có cái nhìn làm nó ngượng ngùng biết bao, nó nghe một giọng buồn bã nói bằng thứ tiếng Pháp lơ lớ: “Không đẹp, cái đó… Không đẹp…”

Nước mắt nó trào ra.

Ra tới đồng bằng, hai đứa trẻ bắt đầu chạy và nhanh chóng quay về. Bao của chúng đầy khoai tây mà bọn Phổ đã cho. Nhờ thế chúng qua được chiến hào của đội du kích mà không gặp trở ngại gì. Ở đó người ta đang chuẩn bị cho cuộc tấn công đêm nay. Quân lính kéo đến, lặng lẽ tập trung sau các bức tường. Ông trung sĩ già cũng ở đó, đang bố trí người của mình, vẻ mặt thật sung sướng! Khi hai đứa trẻ đi qua, ông nhận ra chúng và gửi cho chúng một nụ cười hiền hậu…

Ôi! Nụ cười ấy làm thằng bé Xten đau đớn biết bao! Có lúc nó muốn kêu lên:

“Đừng đến đấy… chúng cháu đã phản bội các chú rồi.”

Nhưng thằng kia đã bảo nó: “Mày mà nói ra thì cả hai đứa sẽ bị bắn”, và nỗi sợ đã giữ nó lại…

Đến Cuốc-nớp, chúng vào một ngôi nhà bỏ hoang để chia tiền. Sự thật buộc tôi phải nói rằng tiền được chia sòng phẳng, và nghe những đồng bạc đẹp đẽ kêu xủng xoảng dưới áo, nghĩ đến những ván ném nút chai đang chờ mình, thằng bé Xten không còn thấy tội lỗi của mình ghê tởm đến thế nữa.

Nhưng khi chỉ còn lại một mình, đứa trẻ khốn khổ! Khi qua cửa ô, gã to lớn đã bỏ nó lại, thì lúc ấy những cái túi của nó bắt đầu trở nên nặng trĩu, và bàn tay bóp chặt trái tim nó lại bóp chặt hơn bao giờ hết. Pa-ri dường như không còn như trước nữa. Những người qua đường nhìn nó nghiêm khắc, như thể họ biết nó từ đâu về. Cái chữ gián điệp, nó nghe thấy trong tiếng bánh xe lăn, trong tiếng trống đang tập dọc bờ kênh. Cuối cùng nó về đến nhà, và mừng rỡ vì thấy bố chưa về, nó vội lên phòng giấu dưới gối những đồng bạc làm nó nặng lòng biết bao.

Chưa bao giờ ông Xten hiền từ, vui vẻ như khi về nhà tối hôm ấy. Người ta vừa nhận được tin tức từ các tỉnh: tình hình đất nước đã khá hơn. Vừa ăn, người lính già vừa nhìn khẩu súng treo trên tường, và nói với con bằng nụ cười hiền hậu:

“Này con, nếu con đã lớn, con sẽ xông vào bọn Phổ hăng thế nào nhỉ!”

Khoảng tám giờ, có tiếng đại bác.

“Ô-béc-vi-li-ê đấy… Đang đánh nhau ở Bua-giê”, ông già nói, ông thuộc hết các pháo đài.

Thằng bé Xten tái mặt đi, và lấy cớ rất mệt, nó đi nằm, nhưng không ngủ được. Đại bác vẫn gầm vang. Nó hình dung những người du kích đến trong đêm để đánh úp bọn Phổ, và chính họ lại sa vào ổ phục kích. Nó nhớ ông trung sĩ đã mỉm cười với nó, nó thấy ông nằm sóng soài đằng kia, trên tuyết, cùng biết bao người khác!… Cái giá của tất cả máu ấy đang giấu ở đây, dưới gối nó, và chính nó, con trai của ông Xten, của một người lính… Nước mắt làm nó nghẹn thở. Ở phòng bên, nó nghe tiếng bố đi lại, mở cửa sổ. Dưới quảng trường, trống tập hợp nổi lên, một tiểu đoàn lính cơ động đang điểm số để lên đường. Rõ ràng đó là một trận đánh thật. Đứa trẻ khốn khổ không nén nổi một tiếng nấc.

“Con làm sao thế?” Ông Xten vừa bước vào vừa hỏi.

Thằng bé không chịu nổi nữa, nhảy ra khỏi giường và lao đến quỳ dưới chân bố. Nó cử động mạnh quá, những đồng bạc lăn ra sàn.

“Cái gì thế này? Con ăn cắp à?” Ông già run run hỏi.

Thế là một mạch, thằng bé Xten kể lại rằng nó đã đến chỗ bọn Phổ và đã làm gì ở đó. Càng nói, nó càng thấy lòng nhẹ nhõm, tự thú tội ra làm nó thấy đỡ hơn… Ông Xten lắng nghe, mặt mày khủng khiếp. Khi nó kể xong, ông ôm mặt khóc.

“Bố ơi, bố ơi!…” Thằng bé định nói.

Ông già gạt nó ra, không đáp, và nhặt tiền lên.

“Hết chưa?” Ông hỏi.

Thằng bé Xten ra hiệu là hết rồi. Ông già lấy khẩu súng và bao đạn trên tường xuống, bỏ tiền vào túi, rồi nói:

“Được rồi, bố sẽ đi trả lại cho chúng.”

Rồi không nói thêm một lời, cũng không ngoái đầu lại, ông đi xuống, nhập vào đoàn lính cơ động đang lên đường trong đêm. Từ đó không ai còn gặp lại ông nữa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1873
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: L'Enfant espion, trong tập Les Contes du lundi, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →