Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đứa trẻ trôi dạt

của Rabindranath Tagore

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 20.032 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Về chiều, cơn bão lên tới đỉnh điểm. Mưa…
  2. 1:09Sa-rát bảo:
  3. 3:22Thằng bé ở lại với gia đình. Nó vừa…
  4. 9:57Nin-kan-ta tới ở được ít lâu thì em trai…
  5. 13:18Cuối cùng cũng tới lúc cả nhà phải về.…
  6. 15:01Hôm trước ngày lên đường, bộ lọ mực biến…
  7. 16:19Không bao giờ.
  8. 18:29Giờ thì, cho thoả tò mò, mình mở rương…

Về chiều, cơn bão lên tới đỉnh điểm. Mưa trút như thác, sấm nổ ầm ầm, chớp loé liên hồi, tưởng như trên trời đang có một trận chiến giữa thần và quỷ. Những đám mây đen phần phật như những lá cờ của ngày Tận thế. Sông Hằng bị quất tới điên cuồng, và cây cối trong những khu vườn hai bên bờ ngả nghiêng, thở than rên rỉ.

Trong căn phòng đóng kín của một ngôi nhà bên sông ở Chan-đéc-na-go, hai vợ chồng ngồi trên tấm nệm trải dưới sàn, đang bàn chuyện chăm chú. Một ngọn đèn đất cháy bên cạnh.

Người chồng, Sa-rát, nói:

— Anh mong em ở lại thêm ít hôm nữa. Thế thì lúc về nhà em sẽ khoẻ hẳn.

Người vợ, Ki-ran, nói:

— Em khỏi hẳn rồi. Giờ về nhà thì chẳng hại gì cho em đâu, không thể nào hại được.

Người đã có vợ có chồng nào cũng hiểu ngay rằng câu chuyện không ngắn gọn như tôi vừa kể. Chuyện thì chẳng có gì khó, nhưng lý lẽ của bên này bên kia chẳng đẩy nó tới gần lời giải chút nào. Như con thuyền không bánh lái, cuộc bàn cãi cứ quay vòng vòng quanh một chỗ, và cuối cùng có nguy cơ chìm nghỉm trong một trận nước mắt.

Sa-rát nói:

— Thầy thuốc bảo em nên ở lại đây thêm ít hôm nữa.

Ki-ran đáp:

— Thầy thuốc của anh cái gì mà chẳng biết!

Sa-rát bảo:

— Thì em biết đấy, lúc này đủ thứ bệnh tật đang lan khắp nơi. Em ở lại đây thêm một hai tháng nữa là tốt nhất.

Ki-ran vặn lại:

— Còn ở đây thì lúc này chắc ai cũng khoẻ re cả!

Chuyện là thế này. Ki-ran được cả nhà và hàng xóm láng giềng quý mến, nên khi chị ốm nặng, ai cũng lo. Các bậc thông thái trong làng cho rằng thật là vô liêm sỉ khi một người chồng làm ầm ĩ lên vì mỗi một bà vợ, lại còn đòi đưa vợ đi đổi gió. Họ hỏi phải chăng Sa-rát tưởng xưa nay chưa từng có người đàn bà nào ốm, hay là anh đã khám phá ra rằng người ở cái nơi anh định đưa vợ tới đều bất tử cả. Anh tưởng ở đó lệnh của Số Phận không có hiệu lực chắc? Nhưng Sa-rát và mẹ anh bỏ ngoài tai hết, cho rằng mạng sống nhỏ bé của người thân yêu còn quan trọng hơn trí khôn của cả một làng gộp lại. Hễ người thân yêu gặp nguy, người ta thường lý luận như thế. Vậy là Sa-rát đưa vợ tới Chan-đéc-na-go, và Ki-ran khỏi bệnh, tuy vẫn còn yếu lắm. Gương mặt chị hốc hác tới mức ai nhìn cũng thấy thương, và tim cứ run lên khi nghĩ chị đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Ki-ran thích đông vui, thích chơi bời. Sự cô quạnh của ngôi biệt thự bên sông chẳng hợp với chị chút nào. Chẳng có gì để làm, chẳng có hàng xóm nào thú vị, mà chị thì ghét phải suốt ngày bận bịu với thuốc thang và ăn kiêng. Đong từng liều thuốc, chườm từng miếng nóng, thật chẳng có gì vui. Đó là chuyện hai vợ chồng bàn cãi trong căn phòng đóng kín buổi tối bão bùng ấy.

Chừng nào Ki-ran còn chịu cãi lý, thì vẫn còn là một trận đấu sòng phẳng. Còn khi chị thôi không đáp, hất đầu buồn bã nhìn sang chỗ khác, thì anh chồng tội nghiệp coi như bị tước hết vũ khí. Anh đã sắp đầu hàng vô điều kiện, thì một người đầy tớ đứng ngoài cánh cửa đóng gọi to báo tin.

Sa-rát đứng dậy mở cửa, thì được biết có một chiếc thuyền bị lật trong bão, và một người trên thuyền, một cậu bé Bà-la-môn, đã bơi được vào bờ, ngay trong vườn nhà mình.

Ki-ran lập tức trở lại là con người dịu dàng của chị, bắt tay ngay vào việc tìm quần áo khô cho thằng bé. Rồi chị hâm một cốc sữa, gọi nó vào phòng mình.

Thằng bé có mái tóc dài quăn, đôi mắt to rất có hồn, mặt chưa có chút lông tơ nào. Cho nó uống sữa xong, Ki-ran hỏi han nó đủ điều.

Nó kể nó tên là Nin-kan-ta, ở trong một gánh hát. Cả gánh đang đi thuyền tới diễn ở một biệt thự gần đây thì thuyền bỗng chìm trong cơn bão. Nó chẳng biết các bạn diễn của nó giờ ra sao. Nó bơi giỏi, vừa đủ sức vào được tới bờ.

Thằng bé ở lại với gia đình. Nó vừa thoát khỏi một cái chết khủng khiếp, nên Ki-ran hết sức quan tâm tới nó. Sa-rát thì nghĩ thằng bé xuất hiện đúng lúc này cũng hay, vợ anh sẽ có cái mà tiêu khiển, và có khi chịu ở lại thêm ít lâu. Bà mẹ chồng cũng vui, vì có dịp làm phúc cho một vị khách Bà-la-môn. Còn chính Nin-kan-ta thì sướng rơn, vì một lúc thoát được cả ông chủ gánh lẫn thế giới bên kia, lại còn tìm được chỗ nương thân trong một gia đình giàu có.

Nhưng chẳng bao lâu Sa-rát và mẹ anh đổi ý, chỉ mong nó đi cho khuất mắt. Thằng bé tìm được một niềm vui thầm kín trong việc rít trộm điếu ống của Sa-rát. Nó thản nhiên cầm cây ô lụa tốt nhất của Sa-rát đi dạo khắp làng giữa trời mưa như trút, gặp ai cũng kết bạn. Chưa hết, nó vớ được một con chó lai trong làng, cưng chiều quá đáng tới mức con chó cứ mang bốn chân bùn vào nhà, để lại dấu tích ghé thăm trên chiếc giường trắng tinh của Sa-rát. Rồi nó tụ tập quanh mình cả một đám trẻ trung thành đủ mọi lứa tuổi, và kết quả là mùa ấy chẳng một quả xoài nào quanh vùng có cơ hội chín.

Chắc chắn là Ki-ran góp phần làm hư thằng bé. Sa-rát nhiều lần nhắc chị, nhưng chị không nghe. Chị lấy quần áo cũ của Sa-rát diện cho nó thành một cậu công tử, lại còn may cho nó quần áo mới. Vì chị thấy quý nó, lại tò mò muốn biết thêm về nó, nên chị cứ gọi nó vào phòng mình luôn. Sau khi tắm và ăn trưa xong, Ki-ran ngồi trên giường, hộp trầu bên cạnh, và trong lúc chị người hầu chải tóc, hong tóc cho chị, thì Nin-kan-ta đứng trước mặt, diễn lại những vai trong vốn tuồng của nó, có điệu bộ, có hát hò, những lọn tóc rối bù tung tẩy. Cứ thế những buổi chiều dài trôi qua vui vẻ. Ki-ran thường cố rủ Sa-rát ngồi xem cùng, nhưng Sa-rát đã ghét thằng bé ra mặt, nhất định không chịu, mà hễ có Sa-rát ở đó thì Nin-kan-ta cũng diễn không được bằng nửa lúc thường. Mẹ anh đôi khi cũng bị dụ ngồi xem, vì mong được nghe những danh hiệu thiêng liêng trong lời tuồng. Nhưng lòng ham ngủ trưa chẳng mấy chốc thắng lòng mộ đạo, và bà lại nằm chìm trong giấc mộng.

Thằng bé hay bị Sa-rát bạt tai, véo tai, nhưng so với những gì nó đã quen chịu hồi còn ở gánh hát thì thế chẳng thấm tháp gì, nên nó chẳng để bụng chút nào. Qua chút kinh nghiệm ngắn ngủi ở đời, nó đã đi tới kết luận rằng, cũng như mặt đất gồm có đất và nước, đời người gồm có ăn và đòn, mà đòn thì nhiều hơn hẳn.

Thật khó mà biết Nin-kan-ta bao nhiêu tuổi. Nếu nó chừng mười bốn mười lăm, thì mặt nó già quá so với tuổi. Nếu nó mười bảy mười tám, thì mặt nó lại non quá. Nó hoặc là một người đàn ông tới quá sớm, hoặc là một cậu bé ở lại quá lâu. Sự thật là, vào gánh hát từ hồi còn rất nhỏ, nó đã đóng vai nàng Ra-đi-ca, nàng Đa-ma-y-an-ti, nàng Xi-ta, và vai cô hầu của nàng Vi-đi-a. Một Đấng Tạo hoá chu đáo đã sắp đặt sao cho nó lớn vừa đúng tầm vóc mà ông chủ gánh cần, rồi thôi không lớn nữa. Vì ai cũng thấy nó bé nhỏ, và chính nó cũng thấy mình bé nhỏ, nên nó chẳng được người ta kính trọng cho xứng với tuổi. Những nguyên do ấy, tự nhiên cũng có, mà do người cũng có, gộp lại khiến nó có lúc trông non nớt so với tuổi mười bảy, có lúc trông như cậu bé mười bốn mà lại khôn quá cái tuổi mười bảy. Và vì trên mặt nó chưa có dấu hiệu lông râu nào, nên càng thêm khó đoán. Không biết vì hút thuốc, hay vì ăn nói quá tuổi, mà đôi môi nó cứ hằn những nếp nhăn khiến nó trông già dặn và chai sạn. Nhưng trong đôi mắt to của nó thì sáng lên vẻ ngây thơ và trẻ trung. Tôi đoán trái tim nó vẫn còn trẻ, chỉ có ánh đèn sân khấu chói chang như một lò ấp đã làm cho vẻ ngoài của nó chín vội trước thời.

Trong chốn nương thân yên tĩnh của ngôi nhà và khu vườn của Sa-rát ở Chan-đéc-na-go, Tạo hoá được thong thả làm việc của mình, không gì cản trở. Nó đã nấn ná lại trong một thứ tuổi thơ trái tự nhiên, nhưng giờ thì nó lặng lẽ và nhanh chóng vượt qua chặng ấy. Mười bảy mười tám tuổi của nó đã lộ ra đúng như nó vốn là. Không ai nhận thấy sự thay đổi ấy, và dấu hiệu đầu tiên là thế này: khi Ki-ran đối xử với nó như một đứa trẻ, nó thấy xấu hổ. Một hôm Ki-ran vui vẻ bảo nó đóng vai cô hầu của một tiểu thư, thì ý nghĩ phải mặc đồ con gái làm nó đau, tuy nó không nói được vì sao. Thế nên giờ đây, mỗi lần chị gọi nó tới diễn lại những vai cũ, nó lại biến mất. Nó chẳng bao giờ nghĩ rằng ngay lúc này mình cũng chẳng hơn gì một đứa sai vặt trong một gánh hát rong. Nó còn quyết tâm học lấy dăm chữ với ông quản lý của Sa-rát. Nhưng vì Nin-kan-ta là con cưng của bà chủ, nên ông quản lý không ưa nổi nó. Lại thêm cái nếp sống bồn chồn đã quen khiến nó không sao chú tâm được lâu. Chẳng mấy chốc, những con chữ đã nhảy một điệu múa mờ ảo trước mắt nó. Nó ngồi rất lâu, cuốn sách mở trên đùi, lưng tựa vào một bụi hoa ngọc lan bên bờ sông Hằng. Sóng thở dài dưới chân, thuyền trôi qua, chim bay nhảy líu lo không ngớt trên đầu. Khi nhìn xuống cuốn sách, trong đầu nó nghĩ những gì, chỉ mình nó biết, nếu quả thật nó có biết. Nó chẳng bao giờ đọc được từ chữ này sang chữ khác, nhưng cái ý nghĩ huy hoàng rằng mình đang thật sự đọc sách làm lòng nó hân hoan. Hễ có chiếc thuyền nào đi qua, nó lại giơ cuốn sách lên, làm ra vẻ đang chăm chỉ đọc, đọc gào lên hết cỡ. Nhưng khán giả vừa đi khuất là nhiệt tình của nó cũng xẹp ngay.

Trước kia nó hát những bài ca của mình như cái máy, nhưng giờ những giai điệu ấy lay động trong lòng nó. Lời ca chẳng có ý nghĩa gì lắm, toàn những chữ láy vần vụn vặt. Ngay cả chút ý nghĩa ít ỏi ấy nó cũng chẳng hiểu nổi. Vậy mà mỗi khi nó hát:

Hỡi thiên nga trắng, cớ chi
Nỡ đem hại nàng công chúa?
Hỡi thiên nga, hãy nói đi,
Sao đành giết nàng giữa rừng xanh?

là nó thấy mình như được đưa sang một thế giới khác, giữa những con người khác hẳn. Mặt đất quen thuộc này và cuộc đời nghèo khổ của nó hoá thành âm nhạc, và nó biến thành một người khác. Câu chuyện con thiên nga và nàng công chúa ấy hắt lên tấm gương tâm hồn nó một bức tranh đẹp tuyệt vời. Không thể nói nó tưởng tượng mình là ai, nhưng đứa đầy tớ bé nhỏ khốn khổ của gánh hát đã phai khỏi trí nhớ nó.

Khi chiều xuống, đứa con của cảnh túng thiếu nằm trong căn nhà ổ chuột, bẩn thỉu và đói khát, mà được nghe kể chuyện hoàng tử, công chúa và vàng bạc trong truyện cổ, thì trong túp lều tối tăm với ngọn nến leo lét, tâm hồn nó vùng thoát khỏi xiềng xích của nghèo đói và khổ đau, bước đi trong một vẻ đẹp mới và áo quần rực rỡ, mạnh mẽ chẳng sợ gì ngăn trở, qua cõi thần tiên nơi mọi điều đều có thể.

Cũng thế, đứa đầy tớ của gánh hát rong này nhào nặn lại chính mình và thế giới của mình, khi tâm hồn nó dạo bước giữa những bài ca. Tiếng nước vỗ, tiếng lá xào xạc, tiếng chim gọi nhau, vị nữ thần đã cho nó, đứa bơ vơ bị Trời bỏ rơi, một chốn nương thân, gương mặt dịu hiền xinh đẹp của chị, đôi cánh tay tuyệt mỹ với những chiếc vòng sáng lấp lánh, đôi bàn chân hồng mềm như cánh hoa, tất cả bằng một phép màu nào đó hoà làm một với tiếng nhạc trong bài ca của nó. Bài hát dứt thì ảo ảnh tan, và Nin-kan-ta của sân khấu lại hiện ra, với những lọn tóc rối bù. Vừa nghe ông hàng xóm có vườn xoài bị phá phách tới kêu ca, Sa-rát bước tới bạt tai nó, đấm nó. Và thằng bé Nin-kan-ta, kẻ dắt đám trẻ hâm mộ vào đường hư, lại ra đi, để bày thêm những trò phá phách mới, trên cạn, dưới nước, và trên những cành cây cao.

Nin-kan-ta tới ở được ít lâu thì em trai của Sa-rát là Xa-tít về nghỉ hè cùng gia đình. Ki-ran mừng lắm vì tìm được trò tiêu khiển mới. Chị và Xa-tít bằng tuổi nhau, và thời gian trôi qua vui vẻ với những trò đùa nghịch, những trận cãi nhau rồi làm lành, những tràng cười, thậm chí cả nước mắt. Chị bất ngờ đứng sau lưng, lấy đôi tay dính son đỏ bịt mắt cậu, viết chữ "con khỉ" lên lưng cậu, có lúc cười như nắc nẻ mà cài then nhốt cậu từ bên ngoài. Xa-tít cũng chẳng chịu thua. Cậu lấy chùm chìa khoá và nhẫn của chị, bỏ hạt tiêu vào trầu của chị, nhân lúc chị không để ý mà buộc chị vào giường.

Trong khi ấy, có trời mới biết Nin-kan-ta tội nghiệp bị làm sao. Nó bỗng thấy lòng đầy cay đắng, phải trút lên ai đó hay cái gì đó. Nó đánh đám trẻ trung thành của mình chẳng vì lỗi gì, đuổi chúng về khóc lóc. Nó đá con chó lai của nó tới mức con vật rên ăng ẳng vang trời. Đi dạo đâu, nó lại lấy roi quất vào bụi cây ven đường, rải lá và cành con khắp lối.

Ki-ran thích nhìn người ta ăn ngon. Nin-kan-ta ăn khoẻ vô cùng, mời món ngon bao nhiêu lần nó cũng chẳng từ chối. Vì thế Ki-ran hay gọi nó tới ăn trước mặt mình, gắp cho nó món này món nọ, sung sướng ngắm cậu bé Bà-la-môn ăn tới no căng. Từ khi Xa-tít về, chị ít thì giờ rảnh hẳn đi, ít khi có mặt lúc người ta dọn cơm cho Nin-kan-ta. Trước kia, chị có vắng mặt thì thằng bé cũng chẳng vì thế mà ăn kém đi. Nó chẳng chịu đứng dậy chừng nào chưa uống cạn cốc sữa, rồi tráng nước cái cốc thật sạch mà uống nốt. Đó là thói quen còn sót lại từ những ngày nghèo khó, khi sữa là thứ xa xỉ hiếm hoi tới mức ngay cả vết sữa dính trong cốc cũng không được phí.

Nhưng giờ thì hễ Ki-ran không có mặt để mời nó nếm món này món kia, là nó thấy khổ sở, ăn gì cũng chẳng thấy ngon. Nó đứng dậy, ăn chẳng được bao nhiêu, nghẹn ngào nói với chị người hầu:

— Em không đói.

Nó tưởng tượng rằng cái tin nó cứ từ chối mãi, "em không đói", sẽ tới tai Ki-ran. Nó hình dung chị lo lắng, mong chị cho gọi nó tới, ép nó ăn. Nhưng chẳng có gì như thế xảy ra cả. Ki-ran chẳng bao giờ biết, cũng chẳng bao giờ cho gọi nó, còn chị người hầu thì ăn hết phần nó bỏ dở. Thế là nó về phòng tắt đèn, quăng mình lên giường trong bóng tối, vùi đầu vào gối mà nức nở từng cơn. Nó oán điều gì? Oán ai? Và nó mong ai đền bù cho nó? Cuối cùng, khi chẳng có ai khác tới, thì Mẹ Giấc Ngủ dùng những cái vuốt ve êm ái của mình mà xoa dịu trái tim bị thương của đứa bé không mẹ.

Nin-kan-ta đi tới niềm tin không gì lay chuyển nổi rằng Xa-tít đang đầu độc lòng Ki-ran chống lại nó. Hễ Ki-ran có vẻ lơ đãng, không cười như mọi khi, là nó vội kết luận ngay rằng Xa-tít đã giở trò gì đó khiến chị giận nó. Nó bắt đầu cầu khấn thần linh, với tất cả sự hăng say của lòng căm ghét, xin cho kiếp sau nó được làm Xa-tít, còn Xa-tít phải làm nó. Nó tin rằng cơn giận của một người Bà-la-môn chẳng bao giờ vô ích. Nhưng nó càng cố thiêu Xa-tít bằng ngọn lửa nguyền rủa, thì chính trái tim nó càng cháy bỏng. Và trên lầu, nó nghe Xa-tít cười đùa với chị dâu.

Nin-kan-ta chẳng bao giờ dám ra mặt thù ghét Xa-tít. Nhưng nó bày ra trăm cách vặt vãnh để làm cậu bực mình. Xa-tít ra sông bơi, để bánh xà phòng trên bậc bến tắm, lúc quay lại lấy thì đã thấy biến mất. Có lần cậu thấy cái áo kẻ sọc ưa thích của mình đang trôi ngang qua trên mặt nước, cứ tưởng là bị gió thổi bay.

Một hôm Ki-ran muốn mua vui cho Xa-tít, cho gọi Nin-kan-ta tới diễn như thường lệ, nhưng nó đứng đó, im lặng, mặt sa sầm. Hết sức ngạc nhiên, Ki-ran hỏi nó bị làm sao. Nhưng nó vẫn im lặng. Chị lại nài nó diễn một đoạn chị đặc biệt ưa thích, thì nó đáp:

— Em không nhớ.

Rồi nó bỏ đi.

Cuối cùng cũng tới lúc cả nhà phải về. Ai nấy bận rộn thu xếp hành lý. Xa-tít cũng về cùng. Nhưng chẳng ai nói với Nin-kan-ta một lời. Hình như chẳng ai nghĩ tới chuyện nó có đi theo hay không.

Thật ra, chính Ki-ran đã nêu chuyện ấy, chị đề nghị đưa nó theo. Nhưng chồng chị, mẹ chồng và em chồng đều phản đối kịch liệt, nên chị đành thôi. Hai hôm trước ngày lên đường, chị gọi thằng bé tới, dịu dàng khuyên nó về nhà.

Đã bao ngày cảm thấy bị bỏ rơi, giờ được một chút dịu dàng ấy, nó không chịu nổi, oà lên khóc. Mắt Ki-ran cũng rưng rưng. Chị thấy ân hận vô cùng khi nghĩ rằng mình đã tạo ra một sợi dây tình cảm không thể bền lâu.

Nhưng Xa-tít thì bực lắm khi thấy cái thằng nhóc lớn xác ấy khóc nhè. Cậu nói:

— Sao cái thằng ngốc ấy cứ đứng đấy mà gào lên thế, không nói được câu nào à?

Ki-ran mắng cậu là đồ vô tình, thì cậu đáp:

— Chị ơi, chị không hiểu đâu. Chị tốt bụng và cả tin quá. Thằng này từ đâu trên trời rơi xuống, được đối xử như ông hoàng. Đương nhiên con hổ chẳng muốn hoá lại thành con chuột nữa. Mà rõ ràng nó đã phát hiện ra rằng chẳng có gì làm chị mềm lòng bằng vài giọt nước mắt.

Nin-kan-ta vội vã bỏ đi. Nó ước gì mình là một lưỡi dao để băm Xa-tít ra từng mảnh, một mũi kim để đâm Xa-tít thủng lỗ chỗ, một ngọn lửa để đốt Xa-tít thành tro. Nhưng Xa-tít chẳng hề xây xước. Chỉ có trái tim nó là rỉ máu, rỉ máu mãi.

Xa-tít mang từ Calcutta về một bộ lọ mực sang trọng. Lọ mực đặt trong một chiếc thuyền bằng xà cừ, do một con thiên nga bằng bạc Đức kéo, con thiên nga đỡ một cái giá cắm bút. Cậu quý nó lắm, ngày nào cũng lấy một chiếc khăn tay lụa cũ lau chùi cẩn thận. Ki-ran hay cười, gõ gõ vào mỏ con chim bạc mà hát:

Hỡi thiên nga trắng, cớ chi
Nỡ đem hại nàng công chúa?

và thế là trận khẩu chiến thường lệ giữa chị với em chồng lại nổ ra.

Hôm trước ngày lên đường, bộ lọ mực biến mất, tìm khắp nơi không thấy. Ki-ran mỉm cười bảo:

— Chú ơi, con thiên nga của chú bay đi tìm nàng Đa-ma-y-an-ti cho chú rồi đấy.

Ý chị là con thiên nga đi tìm vợ cho Xa-tít. Nhưng Xa-tít thì giận điên lên. Cậu chắc mẩm Nin-kan-ta đã lấy trộm, vì có mấy người bảo tối hôm trước thấy nó lảng vảng quanh phòng cậu. Cậu cho gọi kẻ bị buộc tội tới trước mặt mình. Ki-ran cũng có mặt. Cậu buột miệng:

— Mày lấy trộm lọ mực của tao, đồ ăn cắp! Mang trả lại đây ngay!

Nin-kan-ta xưa nay vẫn thản nhiên chịu đòn của Sa-rát, đáng hay không đáng cũng thế. Nhưng khi bị gọi là đồ ăn cắp trước mặt Ki-ran, mắt nó long lên giận dữ, ngực phồng lên, cổ nghẹn lại. Nếu Xa-tít nói thêm một câu nữa, hẳn nó đã nhảy xổ vào cậu như con mèo hoang, giương móng tay như vuốt.

Ki-ran hết sức khổ tâm vì cảnh ấy. Chị dẫn thằng bé sang phòng khác, nói bằng cái giọng dịu dàng tử tế của chị:

— Nin-u, nếu đúng là em đã lấy lọ mực ấy, thì cứ lặng lẽ đưa cho chị, chị sẽ lo để không ai nói với em thêm lời nào nữa.

Những giọt nước mắt to tướng lăn dài trên má thằng bé, cho tới khi cuối cùng nó úp mặt vào hai bàn tay mà khóc nức nở. Ki-ran trở ra, nói:

— Chị chắc chắn Nin-kan-ta không lấy lọ mực.

Sa-rát và Xa-tít cũng chắc chắn không kém rằng chẳng ai khác ngoài Nin-kan-ta có thể làm việc ấy.

Nhưng Ki-ran nói quả quyết:

— Không bao giờ.

Sa-rát muốn tra hỏi thằng bé, nhưng vợ anh không cho.

Rồi Xa-tít đề nghị khám phòng và rương của nó. Ki-ran nói:

— Chú mà dám làm thế thì chị sẽ không bao giờ, không bao giờ tha thứ cho chú. Chú không được rình mò đứa bé tội nghiệp vô tội ấy.

Nói rồi đôi mắt tuyệt đẹp của chị ngân ngấn nước. Thế là xong chuyện, và chẳng ai còn dám quấy rầy Nin-kan-ta thêm nữa!

Lòng Ki-ran tràn ngập thương xót trước sự xúc phạm suýt nữa đã giáng xuống một đứa bé không nhà ấy. Chị lấy hai bộ quần áo mới và một đôi giày, cầm thêm một tờ giấy bạc, tối hôm ấy lặng lẽ vào phòng Nin-kan-ta. Chị định bỏ những món quà chia tay ấy vào rương của nó để nó bất ngờ. Chính chiếc rương cũng là quà của chị.

Chị chọn trong chùm chìa khoá một chiếc vừa ổ, khẽ khàng mở rương. Trong rương lộn xộn đủ thứ linh tinh tới mức bộ quần áo mới không nhét vào được. Chị nghĩ tốt nhất là lấy hết ra rồi xếp lại cho nó. Thoạt tiên lộ ra dao nhíp, con quay, ống cuộn dây diều, que tre, vỏ ốc mài nhẵn để gọt xoài xanh, đáy cốc vỡ, và đủ thứ đồ quý báu với lòng con trai. Rồi tới một lớp quần áo, chiếc sạch chiếc bẩn. Và từ dưới lớp quần áo hiện ra bộ lọ mực bị mất, nguyên cả con thiên nga!

Mặt đỏ bừng, Ki-ran ngồi phịch xuống, tay cầm bộ lọ mực, bối rối không hiểu nổi.

Trong lúc ấy, Nin-kan-ta đã từ phía sau bước vào phòng mà Ki-ran không biết. Nó đã thấy hết, và nghĩ rằng Ki-ran đã tới như một kẻ trộm để bắt quả tang nó ăn trộm, và việc làm của nó đã bại lộ. Làm sao nó có thể mong thuyết phục được chị rằng nó không phải là kẻ trộm, rằng nó lấy bộ lọ mực chỉ vì muốn trả thù, và định có dịp là ném ngay xuống sông? Trong một phút yếu lòng, nó đã cất vào rương. Trái tim nó gào lên: "Mình không phải kẻ trộm, không phải kẻ trộm!" Vậy thì nó là gì? Nó biết nói sao đây? Nó đã lấy trộm, mà lại không phải kẻ trộm! Nó không bao giờ có thể giải thích cho Ki-ran hiểu rằng chị đã sai lầm tai hại thế nào khi coi nó là kẻ trộm. Mà làm sao nó chịu nổi ý nghĩ rằng chị đã rình mò nó?

Cuối cùng Ki-ran thở dài một tiếng thật sâu, đặt bộ lọ mực vào rương, rồi như chính mình là kẻ trộm, phủ quần áo và đồ lặt vặt lên trên như cũ. Trên cùng, chị đặt những món quà cùng tờ giấy bạc đã mang tới cho nó.

Hôm sau, chẳng thấy thằng bé đâu nữa. Dân làng không ai thấy nó. Cảnh sát cũng chẳng tìm ra dấu vết gì. Sa-rát bảo:

— Giờ thì, cho thoả tò mò, mình mở rương nó ra xem thử đi.

Nhưng Ki-ran nhất định không cho làm thế.

Chị cho mang chiếc rương lên phòng mình, chỉ lấy riêng bộ lọ mực ra, và ném nó xuống sông.

Cả nhà về quê. Chỉ một ngày, khu vườn đã hoang vắng. Và chỉ còn con chó lai đói khát của Nin-kan-ta là còn lảng vảng dọc bờ sông, rên ư ử mãi, như thể tim nó sắp vỡ.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal Apad của Rabindranath Tagore, 1895; dịch từ bản tiếng Anh The Castaway trong tập Mashi and Other Stories, 1918
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →