Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Dương Giác Ai bỏ mạng trọn nghĩa bạn

của Kim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 16.142 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Người xưa than: lật bàn tay là mây, úp…
  2. 4:06Đêm ấy hai người nằm chung, chân chạm chân,…
  3. 5:55Giác Ai nói:
  4. 7:48Bá Đào nói:
  5. 9:56Giác Ai chịu rét, nửa đói nửa no, đến…
  6. 11:37Thần xin cáo nghỉ, về nơi ấy chôn cất…
  7. 14:21Giác Ai hỏi:
  8. 16:29Hắn sao dám ức hiếp anh như thế! Em…

Người xưa than: lật bàn tay là mây, úp bàn tay là mưa, thói khinh bạc ở đời kể sao cho xiết. Thử xem tình bạn lúc nghèo của Quản Trọng với Bào Thúc, người đời nay coi như đất bùn.

Xưa nước Tề có Quản Trọng, tự là Di Ngô, và Bào Thúc, tự là Tuyên Tử. Hai người kết bạn với nhau từ thuở nhỏ, lúc còn nghèo hèn. Về sau Bào Thúc được Tề Hoàn Công tin dùng, hiển đạt trước, bèn tiến cử Quản Trọng làm tể tướng, ngôi còn trên cả mình. Hai người đồng lòng giúp việc nước, trước sau như một.

Quản Trọng từng nói: "Ta ba lần ra trận ba lần bỏ chạy, Bào Thúc không cho ta là hèn, vì biết ta còn mẹ già. Ta ba lần làm quan ba lần bị đuổi, Bào Thúc không cho ta là bất tài, vì biết ta chưa gặp thời. Ta bàn việc với Bào Thúc, Bào Thúc không cho ta là ngu, vì biết thời có lúc thuận lúc nghịch. Ta đi buôn với Bào Thúc, chia lãi phần hơn, Bào Thúc không cho ta là tham, vì biết ta nghèo. Sinh ra ta là cha mẹ, hiểu ta là Bào Thúc!" Cho nên xưa nay nói đến bạn tri kỷ, ắt nói Quản Bào.

Hôm nay xin kể chuyện hai người bạn tình cờ gặp nhau, kết làm anh em, rồi mỗi người đều bỏ mạng vì nhau, để tiếng muôn đời.

Thời Xuân Thu, Sở Nguyên Vương chuộng đạo Nho, chiêu hiền đãi sĩ. Người trong thiên hạ nghe tiếng mà tìm về, nhiều không kể xiết.

Ở núi Tích Thạch vùng Tây Khương có một hiền sĩ họ Tả, tên Bá Đào. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, gắng sức học hành, nuôi được cái tài giúp đời, học thành nghề yên dân. Tuổi gần bốn mươi, vì chư hầu Trung Nguyên thôn tính lẫn nhau, kẻ làm chính sự nhân đức thì ít, kẻ cậy mạnh làm bá thì nhiều, nên ông chưa từng ra làm quan. Về sau nghe Sở Nguyên Vương mến nhân trọng nghĩa, cầu hiền khắp nơi, ông bèn mang theo một túi sách, từ biệt hàng xóm bạn bè trong làng, đi thẳng sang nước Sở.

Đi quanh co mãi đến đất Ung, lúc ấy đang giữa mùa đông, mưa gió đan nhau. Gió lạnh rít từng cơn cắt mặt, mưa phùn lây rây thấm áo, như giục nước đóng băng, ủ tuyết xuống, phô hết oai rét. Núi tối sầm, mặt trời thỉnh thoảng ló ra cũng nhợt nhạt. Kẻ lữ khách nơi chân trời ai cũng nhớ nhà, người đi đường chắc phải hối vì đã lên đường.

Tả Bá Đào dầm mưa dãi gió đi suốt một ngày, áo quần ướt hết. Thấy trời đã nhá nhem, ông rẽ vào một xóm, muốn tìm chỗ nghỉ đêm. Xa xa thấy trong rừng trúc có ánh đèn hắt qua khung cửa sổ rách, ông đi thẳng tới đó. Thấy một hàng rào thấp bao quanh một gian nhà cỏ, ông đẩy rào bước vào, khẽ gõ cửa phên. Trong nhà có một người mở cửa bước ra. Tả Bá Đào đứng dưới mái hiên, vội thi lễ nói:

— Tiểu sinh người Tây Khương, họ Tả, tên Bá Đào, muốn sang nước Sở, không ngờ giữa đường gặp mưa, không tìm được quán trọ. Xin cho tá túc một đêm, sáng mai đi ngay, không biết ý ngài có cho chăng?

Người kia nghe nói, vội đáp lễ, mời vào nhà. Bá Đào nhìn quanh, chỉ thấy một cái giường, trên giường chất đầy sách vở, ngoài ra chẳng có gì. Bá Đào biết người này cũng là nhà Nho, định sụp lạy. Người kia nói:

— Khoan làm lễ, để tôi lấy lửa hong khô áo cho ông rồi hẵng nói chuyện.

Đêm ấy chủ nhà đốt trúc làm lửa cho Bá Đào hong áo, lại nấu cơm, bày rượu mời Bá Đào, rất mực ân cần. Bá Đào hỏi tên họ, người ấy nói:

— Tiểu sinh họ Dương, tên Giác Ai, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở một mình nơi đây. Bình sinh rất mê đọc sách, đến việc đồng áng bỏ bê cả. Nay may gặp hiền sĩ từ xa tới, chỉ tiếc nhà nghèo, chẳng có gì khoản đãi, xin ông thứ lỗi.

Bá Đào nói:

— Giữa lúc mưa dầm, được ông cho trú, lại được miếng ăn miếng uống, ơn ấy sao quên!

Đêm ấy hai người nằm chung, chân chạm chân, cùng nhau bàn học vấn trong lòng, suốt đêm không ngủ.

Đến sáng mưa vẫn chưa tạnh. Giác Ai giữ Bá Đào ở lại, đem hết những gì mình có ra đãi, rồi hai người kết làm anh em. Bá Đào hơn Giác Ai năm tuổi, Giác Ai lạy Bá Đào làm anh. Ở luôn ba ngày, mưa tạnh, đường khô. Bá Đào nói:

— Em có tài giúp vua, ôm chí kinh bang tế thế, vậy mà không cầu danh tiếng, cam lòng già nơi rừng suối, thật đáng tiếc lắm.

Giác Ai nói:

— Chẳng phải em không muốn ra làm quan, chỉ là chưa gặp dịp.

Bá Đào nói:

— Nay vua Sở hết lòng cầu kẻ sĩ. Em đã có lòng ấy, sao không cùng đi?

Giác Ai nói:

— Em xin theo lời anh.

Hai người bèn gom góp ít tiền lộ phí và gạo, bỏ lại gian nhà cỏ, cùng nhau đi về phương nam.

Đi chưa được hai ngày lại gặp mưa dầm, phải nằm lại ở quán trọ, tiền nong tiêu hết sạch, chỉ còn một bọc lương khô, hai người thay nhau đeo, đội mưa mà đi. Mưa chưa tạnh, gió lại nổi lên dữ dội, biến thành một trời tuyết lớn. Gió làm tuyết thêm lạnh, tuyết cậy gió thêm oai. Tuyết bay tơi tả như bông liễu, từng mảnh như lông ngỗng múa loạn. Cuộn tròn trên không, chẳng phân nam bắc đông tây. Phủ kín trời đất, xanh vàng đỏ đen đều hoá trắng cả. Khách thơ đi tìm hoa mai thì thấy thú vị, còn người đi đường thì muốn đứt ruột.

Hai người đi qua đất Kỳ Dương, theo đường núi Lương Sơn, hỏi mấy người tiều phu, ai cũng nói:

— Từ đây đi hơn trăm dặm nữa không có lấy một nóc nhà, toàn là núi hoang đồng vắng, sói hổ từng bầy, tốt nhất là đừng đi.

Bá Đào hỏi Giác Ai:

— Ý em thế nào?

Giác Ai nói:

— Xưa nay vẫn nói sống chết có số. Đã đến đây rồi thì cứ đi tới, đừng sinh lòng thoái lui.

Lại đi thêm một ngày, đêm ngủ trong một ngôi mộ cổ. Áo quần mỏng manh, gió lạnh thấu xương.

Hôm sau tuyết càng rơi dày, trong núi tuyết đã ngập gần một thước. Bá Đào rét không chịu nổi, nói:

— Anh nghĩ từ đây đi hơn trăm dặm không có nhà ai, lương ăn không đủ, áo mỏng bụng đói. Nếu một người đi thì đến được nước Sở. Cả hai cùng đi, dẫu không chết rét cũng chết đói giữa đường, mục nát cùng cỏ cây, có ích gì đâu? Anh cởi áo trên người cho em mặc, em mang hết chỗ lương này, gắng gượng mà đi. Anh thật không đi nổi nữa, thà chết ở đây. Đợi em gặp được vua Sở, ắt được trọng dụng, lúc ấy về chôn anh cũng chưa muộn.

Giác Ai nói:

— Làm gì có lẽ ấy! Hai ta tuy không cùng cha mẹ sinh ra, nhưng nghĩa khí hơn cả ruột thịt. Em sao nỡ đi một mình để cầu tiến thân?

Chàng nhất định không chịu, dìu Bá Đào đi tiếp. Đi chưa được mười dặm, Bá Đào nói:

— Gió tuyết càng dữ, đi sao được nữa? Hãy tìm chỗ nghỉ bên đường.

Thấy một gốc dâu khô, có thể tránh tuyết, nhưng trong gốc dâu chỉ đủ chỗ cho một người. Giác Ai dìu Bá Đào vào ngồi. Bá Đào bảo Giác Ai đập đá lấy lửa, nhặt ít cành khô về đốt cho đỡ rét. Đến lúc Giác Ai ôm củi về, chỉ thấy Bá Đào đã cởi trần trụi, áo quần trên người chất cả thành một đống. Giác Ai giật mình nói:

— Sao anh lại làm thế?

Bá Đào nói:

— Anh nghĩ mãi chẳng còn cách nào. Em đừng tự làm lỡ mình, mau mặc áo này vào, mang lương đi đi. Anh chỉ ở đây chờ chết.

Giác Ai ôm lấy anh khóc lớn:

— Hai ta sống chết có nhau, sao lại chia lìa được?

Bá Đào nói:

— Nếu cả hai cùng chết đói, xương trắng ai chôn?

Giác Ai nói:

— Nếu vậy, em xin cởi áo cho anh mặc, anh mang lương mà đi, em thà chết ở đây.

Bá Đào nói:

— Anh bình sinh nhiều bệnh, em thì trẻ khoẻ, hơn anh nhiều. Lại thêm học vấn trong lòng em, anh không bằng. Nếu gặp vua Sở, em ắt làm quan lớn. Anh chết có đáng gì! Em đừng nấn ná, mau đi đi.

Giác Ai nói:

— Nay anh chết đói trong gốc dâu, em một mình đi lấy công danh, ấy là kẻ đại bất nghĩa! Em không làm thế.

Bá Đào nói:

— Từ khi anh rời núi Tích Thạch đến nhà em, vừa gặp đã như quen từ lâu. Anh biết lòng dạ em không tầm thường, vì thế mới khuyên em đi tìm đường tiến thân. Không may bị mưa gió cản trở, ấy là số trời anh đã hết. Nếu để em cũng chết ở đây, thì là tội của anh.

Nói xong, ông định nhảy xuống con suối phía trước tìm cái chết. Giác Ai ôm chặt lấy khóc thảm thiết, lấy áo quấn quanh anh, lại dìu vào gốc dâu. Bá Đào đẩy áo ra. Giác Ai định lại gần khuyên giải thì thấy sắc mặt Bá Đào đã biến đổi, tay chân giá lạnh, miệng không nói được nữa, chỉ đưa tay vẫy bảo em đi.

Giác Ai nghĩ: "Nếu ta cứ quyến luyến mãi, cũng sẽ chết rét. Chết rồi ai chôn anh?" Chàng bèn quỳ giữa tuyết lạy Bá Đào hai lạy, khóc nói:

— Đứa em bất tài này đi đây, mong anh khuất mặt phù hộ. Nếu được chút danh phận, nhất định sẽ về chôn cất anh tử tế.

Bá Đào khẽ gật đầu như đáp. Giác Ai mang áo và lương, vừa đi vừa khóc. Bá Đào chết trong gốc dâu khô.

Người đời sau có thơ khen, đại ý rằng: rét đến tuyết dày ba thước, người đi đường còn nghìn dặm. Đường dài khổ vì tuyết lạnh, huống chi túi không còn gạo. Gộp lương thì một người sống, cùng đi thì hai người chết. Hai người chết có ích gì? Một người sống còn có chỗ trông. Hiền thay Tả Bá Đào, bỏ mạng mình để thành toàn cho người!

Giác Ai chịu rét, nửa đói nửa no, đến được nước Sở, vào nghỉ ở quán trọ. Hôm sau vào thành, hỏi người ta:

— Vua Sở chiêu hiền, phải theo đường nào mà vào?

Người ta nói:

— Ngoài cửa cung có lập một nhà khách, vua sai quan thượng đại phu Bùi Trọng tiếp đón kẻ sĩ trong thiên hạ.

Giác Ai đi thẳng đến trước nhà khách, gặp đúng lúc quan thượng đại phu xuống xe. Giác Ai bước tới vái chào. Bùi Trọng thấy Giác Ai áo quần tuy rách rưới mà khí độ khác thường, vội đáp lễ, hỏi:

— Hiền sĩ từ đâu đến?

Giác Ai nói:

— Tiểu sinh họ Dương, tên Giác Ai, người Ung Châu. Nghe quý quốc chiêu hiền, đặc biệt đến xin quy phục.

Bùi Trọng mời vào nhà khách, bày rượu thịt đãi, cho nghỉ lại ở đó.

Hôm sau, Bùi Trọng đến nhà khách thăm, đem những điều ngờ vực trong lòng ra hỏi Giác Ai, để thử học vấn thế nào. Giác Ai trăm câu hỏi trăm câu đáp, bàn luận trôi chảy. Bùi Trọng mừng lắm, vào tâu Nguyên Vương. Vua lập tức cho vời vào, hỏi đường làm nước giàu binh mạnh. Giác Ai dâng mười kế sách, kế nào cũng đúng vào việc gấp của đời. Nguyên Vương mừng lắm, bày tiệc ngự đãi, phong làm trung đại phu, ban trăm lạng vàng, trăm tấm lụa màu.

Giác Ai lạy hai lạy mà nước mắt tuôn rơi. Nguyên Vương ngạc nhiên hỏi:

— Khanh khóc lóc là vì cớ gì?

Giác Ai đem chuyện Tả Bá Đào cởi áo nhường lương tâu lại từng điều. Nguyên Vương nghe xong, cảm động thương xót. Các đại thần cũng đều đau lòng tiếc nuối. Nguyên Vương hỏi:

— Khanh muốn thế nào?

Giác Ai nói:

— Thần xin cáo nghỉ, về nơi ấy chôn cất Bá Đào xong, rồi trở lại phụng sự đại vương.

Nguyên Vương bèn truy tặng Bá Đào đã mất làm trung đại phu, ban hậu tiền mai táng, lại sai người theo xe ngựa Giác Ai cùng đi.

Giác Ai từ biệt Nguyên Vương, đi thẳng đến vùng núi Lương Sơn, tìm chỗ gốc dâu khô ngày trước. Quả thấy xác Bá Đào vẫn còn, mặt mũi như lúc sống. Giác Ai lạy hai lạy mà khóc, gọi người hầu đi mời các bô lão trong làng đến, chọn đất ở cánh đồng Can Bổ Đường. Phía trước trông ra suối lớn, phía sau dựa vách núi cao, hai bên núi non ôm quanh, phong thuỷ rất tốt.

Chàng bèn lấy nước thơm tắm cho xác Bá Đào, mặc mũ áo đại phu, đặt vào quan trong quách ngoài, chôn cất đắp mộ. Bốn phía xây tường trồng cây. Cách mộ ba mươi bước dựng nhà thờ, tạc tượng Bá Đào, dựng cột biểu, trên cột treo biển. Bên tường làm nhà ngói, sai người trông coi. Làm xong, chàng bày lễ tế trong nhà thờ, khóc lóc rất thảm thiết. Các bô lão và người hầu ai cũng rơi nước mắt. Tế xong, mọi người ai về nhà nấy.

Đêm ấy Giác Ai thắp đèn ngồi một mình, than thở không thôi. Bỗng một trận gió âm lạnh lẽo thổi tới, ngọn nến tắt rồi lại sáng. Giác Ai nhìn ra, thấy một người trong bóng đèn, lúc tiến lúc lui, văng vẳng có tiếng khóc. Giác Ai quát:

— Ai đó? Sao dám nửa đêm vào đây!

Người kia không nói. Giác Ai đứng dậy nhìn kỹ, thì ra là Bá Đào. Giác Ai kinh hãi hỏi:

— Hồn anh còn quanh quẩn đây, nay đến gặp em, ắt có chuyện gì.

Bá Đào nói:

— Cảm ơn em còn nhớ đến anh. Mới bước vào đường quan đã tâu xin chôn cất anh, lại được tặng tước cao, quan quách áo liệm đều tốt đẹp, mọi việc vẹn mười. Nhưng đất mộ lại sát cạnh mộ Kinh Kha. Người này lúc sống đi đâm vua Tần không trúng, bị giết. Cao Tiệm Ly đem xác hắn chôn ở đây. Hồn hắn rất hung dữ, đêm nào cũng cầm gươm đến mắng anh rằng: "Mày là đứa chết rét chết đói, sao dám xây mộ trên vai tao, cướp phong thuỷ của tao? Nếu không dời đi nơi khác, tao sẽ đào mộ lấy xác mày, quăng ra ngoài đồng!" Gặp nạn ấy, anh đặc biệt đến báo em. Mong em cải táng anh nơi khác, để tránh hoạ này.

Giác Ai định hỏi thêm thì gió nổi lên, bỗng không thấy nữa. Giác Ai ngồi trong nhà thờ, như vừa tỉnh một giấc mộng, nhớ rõ mọi điều.

Sáng ra, chàng lại gọi các bô lão hỏi:

— Gần đây có mộ nào không?

Bô lão nói:

— Trong bóng thông có mộ Kinh Kha, trước mộ có đền.

Giác Ai hỏi:

— Người này xưa đâm vua Tần không trúng, bị giết, sao lại có mộ ở đây?

Bô lão nói:

— Cao Tiệm Ly là người vùng này, biết Kinh Kha bị hại, xác bị vứt ngoài đồng, bèn lấy trộm xác về chôn ở đây. Hồn ông ấy thường hiển linh. Dân quanh đây lập đền, bốn mùa cúng tế, để cầu phúc.

Giác Ai nghe vậy, bèn tin chuyện trong mộng là thật. Chàng dẫn người hầu đi thẳng đến đền Kinh Kha, chỉ vào tượng thần mà mắng:

— Ngươi chỉ là một tên thất phu nước Yên, được thái tử Yên nuôi dưỡng, gái đẹp của quý đều cho ngươi hưởng. Ngươi chẳng nghĩ được kế hay để đáp lại sự phó thác, vào Tần làm việc thì mất mạng hỏng việc nước, lại đến đây doạ nạt dân làng mà đòi cúng tế! Anh của ta là Tả Bá Đào, bậc danh nho đương thời, là người nhân nghĩa liêm khiết, ngươi sao dám bức hiếp? Nếu còn như thế, ta sẽ phá đền ngươi, đào mộ ngươi, dứt hẳn gốc rễ ngươi!

Mắng xong, chàng về trước mộ Bá Đào khấn:

— Nếu đêm nay Kinh Kha lại đến, anh hãy báo cho em.

Về nhà thờ, đêm ấy chàng thắp nến ngồi chờ. Quả thấy Bá Đào nghẹn ngào đến, nói:

— Cảm ơn em đã làm thế. Nhưng Kinh Kha có rất nhiều kẻ theo hầu, đều do dân quanh đây dâng cho. Em hãy bó rơm làm người, lấy lụa màu làm áo, tay cầm khí giới, đốt trước mộ. Anh có chúng giúp sức thì Kinh Kha không làm hại được.

Nói xong thì biến mất. Giác Ai suốt đêm sai người bó rơm làm người, lấy lụa màu làm áo, mỗi người cầm dao cầm giáo, dựng mấy chục hình nhân bên mộ rồi châm lửa đốt. Chàng khấn:

— Nếu yên ổn, cũng mong anh về báo.

Về nhà thờ, đêm ấy nghe tiếng mưa gió như tiếng người đánh nhau. Giác Ai ra cửa xem, thấy Bá Đào chạy đến, nói:

— Những người em đốt cho không dùng được. Kinh Kha lại có Cao Tiệm Ly giúp sức, chẳng bao lâu nữa xác anh ắt bị lôi ra khỏi mộ. Mong em sớm dời anh đi chôn chỗ khác, để tránh hoạ này.

Giác Ai nói:

— Hắn sao dám ức hiếp anh như thế! Em sẽ ra sức giúp anh đánh hắn.

Bá Đào nói:

— Em là người dương gian, còn bọn anh đều là ma dưới âm. Người dương tuy có dũng khí, nhưng cõi trần cách biệt, sao đánh được ma âm phủ? Mấy người rơm kia cũng chỉ giúp được tiếng hò reo, không đẩy lui được hồn dữ ấy.

Giác Ai nói:

— Anh cứ đi đi, ngày mai em tự có cách.

Hôm sau, Giác Ai lại đến đền Kinh Kha mắng lớn, đập phá tượng thần. Đang định lấy lửa đốt đền, thì mấy bô lão trong làng đến van xin mãi:

— Đây là hương hoả của cả làng, nếu xúc phạm, sợ để hoạ cho trăm họ.

Chẳng mấy chốc dân quanh đó tụ lại, đều đến van xin. Giác Ai không cãi được, đành thôi.

Về nhà thờ, chàng viết một bài biểu tạ ơn vua Sở, nói rằng: "Xưa kia Bá Đào nhường lương cho thần, nhờ thế thần mới sống, mới gặp được thánh chúa. Lại được tước cao, bình sinh đã mãn nguyện. Xin cho thần kiếp sau hết lòng báo đáp." Lời lẽ rất thiết tha. Chàng giao biểu cho người hầu, rồi đến bên mộ Bá Đào khóc lớn một trận, bảo người hầu:

— Anh của ta bị hồn dữ Kinh Kha bức hiếp, không có chỗ dung thân, ta không nỡ. Muốn đốt đền đào mộ thì lại sợ trái ý dân làng. Ta thà chết làm ma dưới suối vàng, ra sức giúp anh đánh hồn dữ ấy. Các ngươi hãy chôn xác ta bên phải mộ này, sống chết ở cùng nhau, để báo nghĩa anh nhường lương cho ta. Về tâu với vua Sở, muôn mong ngài nghe lời thần, giữ mãi non sông xã tắc.

Nói xong, chàng rút gươm đeo bên mình tự đâm cổ mà chết. Người hầu cứu không kịp, vội sắm áo quan khâm liệm, chôn bên cạnh mộ Bá Đào.

Đêm ấy vào canh hai, mưa gió nổi lên dữ dội, sấm chớp đan nhau, tiếng hò reo chém giết vang xa mấy chục dặm. Sáng ra xem, mộ Kinh Kha nứt toác như bị đào, xương trắng vương vãi trước mộ. Cây tùng cây bách bên mộ bị nhổ bật cả rễ. Trong đền bỗng bốc cháy, thiêu sạch thành bãi đất trống.

Các bô lão kinh hãi, đều kéo đến trước hai ngôi mộ họ Dương họ Tả thắp hương lễ bái. Người hầu về nước Sở, đem việc ấy tâu lên Nguyên Vương. Nguyên Vương cảm nghĩa lớn của hai người, sai quan đến trước mộ lập đền, gia phong làm thượng đại phu, ban tên đền là Đền Trung Nghĩa, lại dựng bia ghi chép sự việc. Đến nay hương khói vẫn chưa dứt. Hồn Kinh Kha từ đó không còn nữa. Dân quanh đó bốn mùa cúng tế, cầu gì được nấy.

Người xưa có thơ rằng: xưa nay nhân nghĩa trùm cả trời đất, mà chỉ nằm trong tấc lòng người. Trước đền hai kẻ sĩ ngày thu trong vắt, hồn anh hùng mãi bầu bạn với ánh trăng lạnh.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)
Xuất bản lần đầu1640
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Kim Cổ Kỳ Quan 今古奇觀, hồi thứ 12: 羊角哀捨命全交 (Dương Giác Ai xả mệnh toàn giao), tuyển cuối đời Minh, Bão Ung lão nhân biên
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →