Một buổi chiều, tôi cùng bác thợ săn Éc-mô-lai đi "rình chim". Nhưng có lẽ không phải bạn đọc nào cũng biết "rình chim" là gì. Để tôi kể các bạn nghe.
Mùa xuân, trước lúc mặt trời lặn chừng mười lăm phút, bạn vác súng vào rừng, không dắt chó theo. Bạn tìm cho mình một chỗ ở ven rừng, nhìn quanh một lượt, xem lại hạt nổ, đưa mắt nhìn người bạn đi cùng. Mười lăm phút trôi qua. Mặt trời đã lặn, nhưng trong rừng vẫn còn sáng. Bầu trời trong và thoáng. Chim chóc ríu rít, líu lo. Cỏ non lấp lánh như ngọc bích. Bạn chờ. Dần dần lòng rừng tối lại. Ánh ráng chiều đỏ như máu chậm chạp bò lên gốc cây, thân cây, mỗi lúc một cao, từ những cành thấp còn gần như trơ trụi lên đến những ngọn cây im lìm đang thiu thiu ngủ. Rồi đến cả những cành cao nhất cũng sẫm lại. Bầu trời đỏ tía nhạt dần thành xanh thẫm. Mùi rừng nồng hơn, thoảng hơi ấm và mùi đất ẩm. Làn gió phập phồng bên bạn lặng đi. Chim chóc đi ngủ, không phải tất cả cùng lúc mà lần lượt từng loài. Trước tiên lũ sẻ đồng im tiếng, vài phút sau đến lũ chích, rồi đến lũ sẻ vàng. Trong rừng mỗi lúc một tối hơn. Cây cối hòa vào nhau thành những khối đen lớn. Trên nền trời xanh thẫm, những vì sao đầu tiên rụt rè ló ra. Chim chóc đều đã ngủ cả. Chỉ còn lũ chim đuôi đỏ và lũ trèo cây là còn chiêm chiếp ngái ngủ. Rồi chúng cũng lặng nốt. Tiếng kêu vang vọng cuối cùng của con chim te te ngân trên đầu ta. Tiếng kêu buồn bã của con hoàng anh vọng lại từ đâu xa. Rồi tiếng hót đầu tiên của con họa mi. Lòng bạn mỏi mệt vì chờ đợi. Thì bỗng nhiên, nhưng chỉ người đi săn mới hiểu được tôi, bỗng nhiên giữa cái lặng im sâu thẳm vang lên một tiếng kêu khàn khàn, vù vù rất lạ, rồi tiếng đập đều đặn của đôi cánh nhanh, và con chim dẽ, duyên dáng nghiêng cái mỏ dài, êm ả lượn xuống sau một bụi cây tối, ra đón phát súng của bạn.
Rình chim là như thế đấy. Vậy là tôi đi rình chim cùng Éc-mô-lai. Nhưng xin bạn đọc thứ lỗi, trước hết tôi phải giới thiệu Éc-mô-lai với các bạn đã.
Các bạn hãy hình dung một người đàn ông bốn mươi lăm tuổi, cao lêu nghêu, gầy gò, cái mũi dài và mảnh, vầng trán hẹp, đôi mắt xám nhỏ, mái tóc dựng tua tủa, cặp môi dày nhếch lên giễu cợt. Người ấy đông cũng như hè mặc một chiếc áo vải vàng cắt theo kiểu Đức, nhưng thắt lưng bằng một cái khăn quấn. Anh ta mặc quần xanh, đội mũ da cừu non, quà của một ông địa chủ phá gia chi tử tặng trong một lúc vui chân. Trên khăn thắt lưng đeo hai cái túi. Một túi đằng trước, buộc khéo chia làm hai ngăn, một ngăn đựng thuốc súng, một ngăn đựng đạn chì. Túi kia đằng sau, đựng chim săn được. Còn bùi nhùi nhồi súng thì Éc-mô-lai lôi ra từ cái mũ kỳ lạ, dường như không bao giờ cạn của anh ta. Với số tiền bán chim, anh dư sức mua một cái hộp đạn và một cái bầu đựng thuốc súng, nhưng chưa một lần anh nghĩ đến chuyện mua sắm ấy. Anh vẫn cứ nạp súng theo lối cũ, khiến ai trông thấy cũng phải phục cái tài tránh được mọi nguy cơ làm đổ thuốc súng hay lẫn thuốc với đạn. Súng của anh là khẩu một nòng, đánh bằng đá lửa, lại có cái tật đáng ghét là giật rất mạnh. Vì thế mà má phải của Éc-mô-lai lúc nào cũng sưng to hơn má trái. Anh làm thế nào mà bắn trúng được cái gì với khẩu súng ấy thì phải là người tinh lắm mới đoán ra, nhưng anh vẫn bắn trúng.
Anh còn có một con chó săn tên là Va-lét-ca, một con vật kỳ lạ hết sức. Éc-mô-lai không bao giờ cho nó ăn.
- Tao mà đi nuôi chó à! - anh lý sự. - Chó là con vật khôn, nó tự kiếm ăn được.
Mà quả thật, tuy cái gầy giơ xương của Va-lét-ca làm cả người dửng dưng nhất cũng phải giật mình, nó vẫn sống, và sống lâu nữa. Dù cảnh ngộ đáng thương như thế, nó chưa một lần đi lạc, cũng chưa bao giờ tỏ ý muốn bỏ chủ. Có một lần, hồi còn trẻ, nó vắng nhà hai ngày vì mải mê chuyện tình, nhưng cái dại ấy chẳng mấy chốc qua đi. Nét đặc biệt nhất của Va-lét-ca là sự thờ ơ không gì xuyên thủng nổi đối với mọi thứ trên đời. Nếu không phải tôi đang nói về một con chó, hẳn tôi đã gọi nó là kẻ "chán đời". Nó thường ngồi, cái đuôi cụt cuộn dưới mông, mặt cau có, thỉnh thoảng giật giật, và chẳng bao giờ cười. Ai cũng biết chó biết cười, mà cười rất duyên nữa. Nó xấu kinh khủng, và bọn gia nô ăn không ngồi rồi chẳng bỏ dịp nào chế giễu dáng vẻ của nó một cách độc ác. Nhưng mọi lời chế nhạo, kể cả những trận đòn, Va-lét-ca đều chịu đựng với một vẻ dửng dưng đáng kinh ngạc. Nó là niềm vui đặc biệt của đám đầu bếp. Hễ nó, vì một nhược điểm không chỉ riêng loài chó mới có, thò cái mũi đói vào khe cửa bếp khép hờ, nơi hơi ấm và mùi thơm đang mời gọi, là cả bọn bỏ hết việc, la hét chửi rủa đuổi theo nó. Khi đi săn, nó nổi bật vì sức dẻo dai không biết mỏi, mũi lại thính. Nhưng nếu tình cờ đuổi kịp một con thỏ bị thương nhẹ, nó sẽ ăn ngấu nghiến đến tận cái xương cuối cùng, ở một chỗ mát mẻ nào đó dưới bụi cây xanh, cách xa Éc-mô-lai một quãng đáng nể, trong khi Éc-mô-lai chửi nó bằng đủ mọi thứ tiếng đã biết và chưa biết.
Éc-mô-lai là người của một ông hàng xóm tôi, một địa chủ kiểu cũ. Địa chủ kiểu cũ không ưa chim săn, họ thích gà vịt nuôi trong nhà hơn. Chỉ những dịp đặc biệt như sinh nhật, ngày lễ thánh bổn mạng hay ngày bầu cử, đầu bếp của các ông địa chủ kiểu cũ mới bắt tay làm mấy con chim mỏ dài. Rơi vào cơn cuồng nhiệt riêng của người Nga khi không biết mình nên làm gì cho phải, họ chế ra những thứ nước sốt kỳ diệu đến mức khách khứa tò mò săm soi đĩa thức ăn rất chăm chú, nhưng hiếm khi dám nếm thử. Éc-mô-lai có lệnh mỗi tháng phải nộp cho bếp nhà chủ hai cặp gà rừng và gà gô. Còn lại anh muốn sống ở đâu, sống thế nào tùy ý. Người ta đã coi anh là đồ vô dụng, chẳng làm nổi việc gì, "lười thối thây", như cách nói ở vùng Ô-ri-ôn chúng tôi. Thuốc súng, đạn chì thì dĩ nhiên họ không cấp, theo đúng cái nguyên tắc khiến anh không cho chó ăn.
Éc-mô-lai là một con người rất lạ. Vô tư lự như con chim, khá thích nói, vụng về, trông ngơ ngơ ngác ngác. Anh mê rượu quá mức, và chẳng bao giờ ngồi yên được lâu. Anh đi lệt xệt, người lắc lư bên này bên kia, thế mà với cái dáng đi lắc lư lệt xệt ấy, mỗi ngày anh vẫn đi được năm chục dặm. Anh dấn thân vào đủ thứ phiêu lưu: ngủ đêm ngoài đầm lầy, trên cây, trên mái nhà, dưới gầm cầu. Đã bao lần anh bị nhốt trong gác xép, trong hầm, trong kho thóc. Có khi anh mất súng, mất chó, mất cả những món quần áo không thể thiếu. Có khi anh bị đánh một trận dài và nặng. Nhưng chẳng bao lâu sau anh lại về nhà, quần áo chỉnh tề, súng và chó đủ cả. Không thể gọi anh là người vui tính, dù hầu như lúc nào gặp anh cũng thấy anh bình thản. Ai cũng coi anh là người kỳ quặc. Éc-mô-lai thích ngồi chuyện trò một lúc với người bạn tốt, nhất là bên ly rượu, nhưng anh không ngồi lâu. Anh đứng dậy và bỏ đi.
- Ma quỷ nào xui anh đi đâu thế? Ngoài trời tối om rồi.
- Đi Chap-li-nô.
- Đi Chap-li-nô xa mười dặm để làm gì?
- Tôi đến ngủ nhờ nhà Xô-phơ-rôn.
- Thì ngủ lại đây.
- Không, không được.
Thế là Éc-mô-lai cùng con Va-lét-ca đi vào đêm tối, băng qua rừng, qua lạch nước. Và rất có thể bác nông dân Xô-phơ-rôn chẳng cho anh vào nhà, thậm chí, tôi e rằng, còn cho anh một cú để dạy anh "đừng có quấy rầy người lương thiện". Vậy mà chẳng ai bì được với Éc-mô-lai về tài bắt cá nước sâu mùa xuân, mò tôm bằng tay, đánh hơi tìm thú, bẫy chim cút, luyện chim ưng, bắt những con họa mi hót được nhiều giọng nhất. Chỉ có một việc anh không làm được, là dạy chó. Anh không đủ kiên nhẫn.
Anh cũng có vợ. Mỗi tuần anh đến thăm vợ một lần. Chị sống trong một túp lều xiêu vẹo khốn khổ, sống lần hồi, tối đến chẳng biết ngày mai có gì mà ăn. Số phận chị đáng thương về mọi mặt. Éc-mô-lai, con người trông vô tư dễ dãi đến thế, lại đối xử với vợ tàn nhẫn hết sức. Ở nhà mình, anh làm ra vẻ nghiêm khắc, dữ dằn. Người vợ tội nghiệp làm đủ mọi cách cho chồng vừa lòng, run rẩy khi anh nhìn, tiêu đồng xu cuối cùng để mua rượu cho anh. Và khi anh oai vệ nằm duỗi dài trên bếp lò, chìm vào giấc ngủ như một vị anh hùng, chị lại khúm núm đắp tấm áo da cừu lên người anh. Chính tôi đã hơn một lần bắt gặp trong mắt anh một cái nhìn hung tợn vô tình lộ ra. Tôi không ưa vẻ mặt anh khi anh lấy răng cắn chết con chim bị thương. Nhưng Éc-mô-lai chưa bao giờ ở nhà quá một ngày. Ra khỏi nhà, anh lại là "Éc-mô-lơ-ca", nghĩa là cái mũ săn, như người ta gọi anh suốt một trăm dặm quanh vùng, và như đôi khi chính anh tự gọi mình. Tên gia nô hèn mọn nhất cũng thấy mình hơn gã lang thang ấy, và có lẽ chính vì thế mà họ đối xử với anh khá thân thiện. Lúc đầu, nông dân lấy làm vui khi đuổi anh, xua anh chạy như đuổi thỏ ngoài đồng trống, nhưng về sau họ để mặc anh cho Chúa. Một khi đã coi anh là người "dở hơi", họ thôi không hành hạ anh nữa, thậm chí còn cho anh bánh mì và ngồi nói chuyện với anh.
Đó là người tôi chọn làm thợ săn đi cùng, và cùng anh tôi đi rình chim ở một khu rừng bạch dương lớn bên bờ sông I-xta.
Nhiều con sông Nga, như sông Vôn-ga, có một bờ dốc đứng lởm chởm, còn bờ kia là đồng cỏ bằng phẳng. Sông I-xta cũng vậy. Con sông nhỏ ấy uốn lượn hết sức thất thường, quanh co như rắn bò, chẳng chảy thẳng được nửa dặm nào. Có chỗ, đứng trên đỉnh một con dốc gắt, người ta nhìn thấy con sông suốt mười dặm, với những con đê, những vũng nước, những cối xay, những khu vườn ven bờ có liễu và vườn hoa rậm rạp vây quanh. Sông I-xta nhiều cá vô kể, nhất là cá đầu bạc. Trời nóng, nông dân thò tay vào gầm bụi cây là bắt được. Những con chim choi choi nhỏ huýt sáo chập chờn bay dọc bờ đá, nơi có những dòng nước lạnh trong vắt rỉ ra thành vệt. Vịt trời lặn ngụp giữa vũng nước, dè chừng nhìn quanh. Trong những vụng nước dưới vách đá nhô ra, những con diệc đứng sừng sững trong bóng râm.
Chúng tôi đứng rình gần một giờ, bắn được hai cặp dẽ rừng. Vì muốn thử vận may một lần nữa lúc mặt trời mọc, mà rình chim thì sáng sớm cũng rình được, chúng tôi quyết định ngủ đêm ở cái cối xay gần nhất. Chúng tôi ra khỏi rừng, đi xuống dốc. Dưới kia dòng sông xanh thẫm trôi. Không khí đặc sương đêm. Chúng tôi gõ cổng. Trong sân chó bắt đầu sủa.
- Ai đấy? - một giọng khàn khàn ngái ngủ hỏi.
- Chúng tôi là người đi săn, cho chúng tôi ngủ nhờ một đêm.
Không có tiếng trả lời.
- Chúng tôi sẽ trả tiền.
- Để tôi vào thưa ông chủ. Suỵt! Cái lũ chó chết tiệt này! Cút đi!
Chúng tôi nghe người làm công đi vào nhà. Chẳng mấy chốc anh ta quay lại cổng.
- Không được đâu, - anh ta nói. - Ông chủ bảo không cho các ông vào.
- Sao lại không?
- Ông ấy sợ. Các ông là người đi săn, có khi các ông đốt mất cối xay. Các ông mang súng ống mà lại.
- Nói vớ vẩn!
- Năm ngoái cối xay nhà tôi cháy đúng như thế đấy. Có mấy tay buôn cá ngủ nhờ, thế nào mà chúng nó đốt cháy mất.
- Nhưng anh bạn ơi, chúng tôi không thể ngủ ngoài trời được!
- Đấy là việc của các ông.
Anh ta bỏ đi, ủng gõ lộp cộp.
Éc-mô-lai hứa hẹn cho anh ta đủ thứ chuyện chẳng hay ho gì trong tương lai.
- Ta vào làng thôi, - cuối cùng anh thở dài nói.
Nhưng vào đến làng còn hai dặm.
- Ta ngủ lại đây, - tôi bảo, - ngủ ngoài trời. Đêm ấm mà. Mình trả tiền thì bác thợ xay sẽ cho ít rơm.
Éc-mô-lai đồng ý ngay không bàn cãi. Chúng tôi lại gõ cổng.
- Lại muốn gì nữa? - giọng người làm công lại vang lên. - Đã bảo là không được mà.
Chúng tôi giải thích điều mình muốn. Anh ta vào hỏi ý chủ nhà, rồi quay ra cùng với ông ta. Cánh cổng nhỏ bên hông kêu cót két. Bác thợ xay hiện ra, một người cao lớn, mặt béo phị, cổ to như cổ bò, bụng tròn, người đẫy đà. Bác đồng ý với đề nghị của tôi. Cách cối xay chừng trăm bước có một cái lán nhỏ trống trải bốn bề. Người ta mang rơm và cỏ khô ra đó cho chúng tôi. Người làm công đặt cái ấm xa-mô-va xuống bãi cỏ gần sông, ngồi xổm xuống, ra sức thổi vào ống khói. Than hồng rực lên, hắt ánh sáng lên khuôn mặt trẻ măng của anh. Bác thợ xay chạy đi đánh thức vợ, cuối cùng còn mời tôi vào nhà ngủ, nhưng tôi thích ở ngoài trời hơn. Bà vợ bác thợ xay mang ra cho chúng tôi sữa, trứng, khoai tây và bánh mì.
Chẳng mấy chốc ấm xa-mô-va sôi, chúng tôi bắt đầu uống trà. Sương bốc lên từ mặt sông. Trời không một gợn gió. Bốn phía vang tiếng gà nước kêu. Từ phía guồng cối xay vọng lại những âm thanh khe khẽ: tiếng nước nhỏ giọt từ những cánh guồng, tiếng nước róc rách luồn qua song chắn cửa cống. Chúng tôi nhóm một đống lửa nhỏ trên mặt đất. Trong lúc Éc-mô-lai vùi khoai vào tro nướng, tôi kịp thiu thiu ngủ.
Tôi tỉnh dậy vì tiếng thì thầm khe khẽ, dè dặt ở gần bên. Tôi ngẩng đầu lên. Trước đống lửa, trên một cái thùng úp ngược, bà vợ bác thợ xay đang ngồi nói chuyện với bác thợ săn của tôi. Qua cách ăn mặc, dáng điệu và lối ăn nói của bà, tôi đã đoán ra bà từng làm hầu gái trong nhà quyền quý, không phải dân quê mà cũng chẳng phải dân thành phố. Nhưng giờ tôi mới được nhìn rõ nét mặt bà. Bà trông chừng ba mươi tuổi. Khuôn mặt gầy, xanh xao vẫn còn dấu vết của một nhan sắc khác thường. Điều làm tôi đặc biệt xao xuyến là đôi mắt bà, to và buồn. Bà chống khuỷu tay lên đầu gối, hai bàn tay ôm mặt. Éc-mô-lai ngồi quay lưng về phía tôi, đang dúi những que củi vào lửa.
- Ở Giên-tu-khi-na bò lại bị dịch rồi, - bà vợ bác thợ xay nói. - Hai con bò của cha I-van chết cả. Lạy Chúa thương xót!
- Thế lợn nhà chị thế nào? - Éc-mô-lai hỏi, sau một lúc im lặng.
- Vẫn sống cả.
- Chị phải biếu tôi một con lợn sữa mới được.
Bà vợ bác thợ xay lặng đi một lúc, rồi thở dài.
- Anh đi với ai thế? - bà hỏi.
- Với một ông ở Kô-xtô-ma-rô-vô.
Éc-mô-lai ném mấy cành thông vào lửa. Chúng bắt lửa ngay tức khắc, một luồng khói trắng đặc phả thẳng vào mặt anh.
- Sao chồng chị không cho chúng tôi vào nhà?
- Ông ấy sợ.
- Sợ! Cái thùng mỡ già ấy! A-ri-na Ti-mô-phê-ép-na, em yêu của anh, mang cho anh một ly rượu đi.
Bà vợ bác thợ xay đứng dậy, khuất vào bóng tối. Éc-mô-lai khe khẽ hát:
"Đi thăm người yêu bao lần, mòn hết cả đôi giày."
A-ri-na quay lại, mang theo một cái chai nhỏ và một cái ly. Éc-mô-lai đứng dậy, làm dấu thánh, uống một hơi cạn.
- Ngon! - anh nhận xét.
Bà vợ bác thợ xay lại ngồi xuống thùng.
- Thế nào, A-ri-na Ti-mô-phê-ép-na, chị vẫn còn ốm à?
- Vẫn ốm.
- Bệnh gì?
- Đêm đến ho dữ quá.
- Hình như ông khách ngủ rồi, - Éc-mô-lai nói, sau một lúc im lặng. - Chị đừng đi thầy thuốc, A-ri-na ạ, đi lại càng tệ hơn.
- Thì tôi có đi đâu.
- Nhưng chị đến chơi nhà tôi đi.
A-ri-na buồn bã cúi đầu.
- Hôm ấy tôi sẽ đuổi vợ tôi đi, - Éc-mô-lai nói tiếp. - Thật đấy, tôi đuổi thật.
- Anh Éc-mô-lai Pê-tơ-rô-vích, anh đánh thức ông khách dậy đi, khoai chín rồi kìa.
- Thôi, cứ để ông ấy ngáy, - người đầy tớ trung thành của tôi dửng dưng nói. - Ông ấy đi bộ mỏi chân nên ngủ say.
Tôi trở mình trong đống cỏ. Éc-mô-lai đứng dậy, đến bên tôi.
- Khoai chín rồi, ông có ra ăn không?
Tôi ra khỏi lán. Bà vợ bác thợ xay đứng dậy khỏi cái thùng, định đi. Tôi hỏi chuyện bà.
- Bà ở cối xay này lâu chưa?
- Đến lễ Chúa Ba Ngôi này là được hai năm.
- Còn chồng bà người ở đâu?
A-ri-na không nghe rõ câu hỏi.
- Chồng chị người ở đâu? - Éc-mô-lai cao giọng nhắc lại.
- Ở Bê-li-ốp. Ông ấy là thị dân Bê-li-ốp.
- Thế bà cũng người Bê-li-ốp à?
- Không, tôi là nông nô. Tôi đã từng là nông nô.
- Của ai?
- Chủ tôi là ông Dơ-vi-ê-cốp. Giờ tôi được tự do rồi.
- Ông Dơ-vi-ê-cốp nào?
- Ông A-lếch-xan-đrơ Xi-lích.
- Có phải bà từng là hầu gái riêng của bà vợ ông ấy không?
- Sao ông biết? Vâng, đúng thế.
Tôi nhìn A-ri-na với nỗi tò mò và cảm thông tăng lên gấp bội.
- Tôi có biết ông chủ cũ của bà, - tôi nói tiếp.
- Ông biết ạ? - bà khẽ đáp, rồi cúi gằm mặt xuống.
Tôi phải kể bạn đọc nghe vì sao tôi lại nhìn A-ri-na với nỗi cảm thông như thế. Hồi ở Pê-téc-bua, tôi tình cờ quen ông Dơ-vi-ê-cốp. Ông ta có địa vị khá thế lực, được tiếng là người hiểu biết, có học thức. Ông ta có một bà vợ béo, đa sầu đa cảm, hay khóc lóc và hay hằn học, một con người tầm thường và khó ưa. Ông ta còn có một cậu con trai, đúng là kiểu mẫu công tử bột thời nay, được nuông chiều và ngu đần. Bề ngoài của chính ông Dơ-vi-ê-cốp cũng chẳng gây được thiện cảm. Đôi mắt nhỏ như mắt chuột ranh mãnh hé nhìn ra từ một khuôn mặt rộng gần như vuông. Cái mũi to, nhô ra, lỗ mũi phồng. Mái tóc xám cắt ngắn dựng lên như bàn chải phía trên vầng trán cau có. Đôi môi mỏng lúc nào cũng giật giật và mỉm cười một cách ngọt xớt. Tư thế ưa thích của ông Dơ-vi-ê-cốp là đứng dạng chân, hai bàn tay béo thọc vào túi quần.
Có lần tôi tình cờ đi chung xe ngựa với ông Dơ-vi-ê-cốp ra ngoại thành, chỉ có hai người. Chúng tôi trò chuyện với nhau. Là người từng trải và sáng suốt, ông Dơ-vi-ê-cốp bắt đầu tìm cách dẫn dắt tôi vào "con đường chân lý".
- Cho phép tôi nhận xét với anh, - cuối cùng ông ta kéo dài giọng, - bọn trẻ các anh cái gì cũng phê phán, cái gì cũng phán xét bừa bãi. Các anh hiểu biết rất ít về đất nước mình. Nước Nga, các cậu ạ, là một xứ sở xa lạ đối với các cậu, thế đấy! Các cậu suốt ngày đọc sách Đức. Chẳng hạn bây giờ các cậu nói thế này thế nọ về mọi chuyện, chẳng hạn về bọn gia nô. Hay lắm, tôi không cãi, nghe hay lắm. Nhưng các cậu không biết chúng nó, các cậu không biết chúng nó là hạng người thế nào.
Ông Dơ-vi-ê-cốp hỉ mũi thật to, rồi hít một nhúm thuốc lá bột.
- Cho phép tôi kể anh nghe một mẩu chuyện nhỏ để minh họa. Có lẽ anh sẽ thấy thú vị.
Ông Dơ-vi-ê-cốp đằng hắng.
- Hẳn anh biết vợ tôi là người thế nào rồi. Tôi nghĩ khó mà tìm được người đàn bà nào tốt bụng hơn, anh cũng đồng ý chứ. Bọn hầu gái của bà ấy sống chẳng khác gì ở thiên đường, thật không sai tí nào. Nhưng vợ tôi đặt ra một nguyên tắc là không bao giờ giữ hầu gái đã có chồng. Mà như thế thì cũng không được thật. Con cái sinh ra, rồi thì chuyện này chuyện nọ, làm sao một đứa hầu gái còn chăm sóc bà chủ cho chu đáo, chiều theo ý bà chủ được nữa. Nó không làm nổi nữa, đầu óc nó để vào chuyện khác rồi. Phải nhìn sự việc theo bản tính con người. Ấy thế, có một lần chúng tôi đi xe qua làng của mình, cách đây, để tôi nói cho chính xác, à, mười lăm năm trước. Ở nhà lão quản lý, chúng tôi trông thấy một con bé, con gái lão, xinh xắn lắm, lại có cái gì đó, anh hiểu đấy, có cái gì đó dễ thương trong cử chỉ. Vợ tôi bảo tôi: "Cô-cô ơi", anh hiểu đấy, đó là tên bà ấy gọi yêu tôi, "mình đem con bé này lên Pê-téc-bua đi, em thích nó, Cô-cô ạ." Tôi bảo: "Thì đem đi, được lắm." Lão quản lý, dĩ nhiên, quỳ rạp dưới chân chúng tôi. Lão đâu ngờ được một vận may như thế, anh cứ tưởng tượng. Còn con bé, dĩ nhiên là khóc lóc thảm thiết. Dĩ nhiên lúc đầu nó thấy khó khăn. Rời mái nhà cha mẹ mà, nói chung là, chẳng có gì lạ cả. Nhưng chẳng mấy chốc nó quen với chúng tôi. Lúc đầu chúng tôi cho nó ở phòng bọn hầu gái, dĩ nhiên là có người dạy dỗ nó. Thế anh nghĩ sao? Con bé tiến bộ lạ lùng. Vợ tôi đâm ra quý nó hết mực, cuối cùng đưa nó lên trên hết bọn kia, cho làm hầu riêng bà ấy, anh để ý nhé. Mà phải công bằng mà nói, vợ tôi chưa bao giờ có một đứa hầu như thế, tuyệt đối chưa bao giờ. Chu đáo, khiêm tốn, ngoan ngoãn, nói tóm lại là chẳng còn mong gì hơn. Nhưng tôi phải thú nhận là vợ tôi chiều nó quá. Cho nó ăn mặc đẹp, cho nó ăn cơm bàn chủ, cho nó uống trà, anh cứ tưởng tượng xem! Nó hầu vợ tôi như thế suốt mười năm. Bỗng một buổi sáng đẹp trời, anh hình dung xem, A-ri-na, tên nó là A-ri-na, chẳng báo trước, xông vào phòng làm việc của tôi, rồi quỳ sụp xuống dưới chân tôi. Tôi nói thật với anh, cái đó thì tôi không chịu nổi. Không một con người nào được phép đánh mất phẩm giá của mình. Tôi nói có đúng không? Anh thấy thế nào? "Bẩm ông A-lếch-xan-đrơ Xi-lích, con xin ông một ơn." "Ơn gì?" "Xin ông cho con lấy chồng." Thú thật là tôi sững cả người. "Nhưng mày biết đấy, đồ ngốc, bà chủ không có hầu gái nào khác cả?" "Con sẽ vẫn hầu bà như trước." "Vớ vẩn! Vớ vẩn! Bà chủ không chịu nổi hầu gái có chồng." "Ma-la-nha có thể thay con." "Thôi, đừng có cãi." "Con xin vâng." Thú thật với anh, tôi bàng hoàng thật sự, tôi đảm bảo đấy. Tôi là người như thế. Chẳng có gì làm tôi đau lòng bằng, tôi dám nói là chẳng có gì làm tôi đau lòng sâu sắc bằng sự vô ơn. Tôi chẳng cần nói anh cũng biết vợ tôi là người thế nào. Một thiên thần trên mặt đất, lòng tốt không bao giờ cạn. Người ta tưởng ngay cả kẻ tồi tệ nhất cũng phải xấu hổ nếu làm bà ấy phiền lòng. Thế là tôi đuổi A-ri-na ra. Tôi nghĩ có lẽ rồi nó sẽ tỉnh ngộ. Anh biết đấy, tôi không muốn tin rằng ở ai đó lại có sự vô ơn độc ác, đen tối đến thế. Thế anh nghĩ sao? Chưa được sáu tháng, nó lại đến xin tôi đúng điều ấy. Tôi thấy ghê tởm. Nhưng anh hãy tưởng tượng tôi kinh ngạc đến thế nào khi ít lâu sau, vợ tôi đến gặp tôi, nước mắt đầm đìa, xúc động đến mức tôi phát hoảng. "Có chuyện gì thế?" "Con A-ri-na... Anh hiểu đấy... em xấu hổ không nói ra được." "Không thể thế được! Thằng nào?" "Thằng Pê-tơ-ru-sca, đứa hầu bàn." Thế là tôi nổi trận lôi đình. Tôi là người như thế. Tôi không ưa những biện pháp nửa vời! Thằng Pê-tơ-ru-sca không có lỗi. Có thể cho nó ăn roi, nhưng theo tôi thì nó không có lỗi. Còn con A-ri-na... Thôi, thôi, thôi! Còn gì mà nói nữa? Dĩ nhiên tôi ra lệnh cắt tóc nó, cho nó mặc áo vải bao tải, và đày về quê. Vợ tôi mất một đứa hầu gái tuyệt vời, nhưng biết làm thế nào được. Trong một gia đình, dù thế nào cũng không thể dung thứ chuyện đồi bại. Thà cắt ngay cái chi đã nhiễm độc còn hơn. Đấy, đấy! Giờ anh tự xét lấy. Anh biết vợ tôi là, phải, phải, phải! Đúng thế! Một thiên thần! Bà ấy đã quý mến con A-ri-na, mà con A-ri-na cũng biết thế, vậy mà nó còn dám... Hả? Không, anh nói xem... hả? Mà nói làm gì nữa. Dù sao cũng chẳng còn cách nào khác. Chính tôi, chính tôi đây, đã thấy đau lòng, thấy tổn thương rất lâu vì sự vô ơn của con bé ấy. Anh nói gì thì nói, đừng có mong tìm thấy tình cảm, tấm lòng ở cái hạng người ấy! Nuôi sói thế nào thì nó vẫn cứ nhớ rừng. Học vấn, dĩ nhiên rồi! Nhưng tôi chỉ muốn đưa anh một ví dụ...
Và ông Dơ-vi-ê-cốp, chưa nói hết câu, quay mặt đi, quấn chặt tấm áo choàng vào người, cố nén một cách can trường cơn xúc động bất giác dâng lên.
Bây giờ hẳn bạn đọc đã hiểu vì sao tôi nhìn A-ri-na với nỗi cảm thông như vậy.
- Bà lấy bác thợ xay lâu chưa? - cuối cùng tôi hỏi.
- Hai năm.
- Sao lại thế được? Ông chủ cũ cho phép à?
- Người ta chuộc tôi ra.
- Ai chuộc?
- Ông Xa-vê-li A-lếch-xê-ích.
- Ông ấy là ai?
- Chồng tôi.
Éc-mô-lai khẽ mỉm cười một mình.
- Có lẽ ông chủ cũ đã kể với ông về tôi rồi phải không? - A-ri-na nói thêm, sau một lúc im lặng.
Tôi không biết trả lời câu hỏi của bà thế nào.
- A-ri-na! - bác thợ xay gọi từ đằng xa.
Bà đứng dậy, đi về.
- Chồng bà ấy có tử tế không? - tôi hỏi Éc-mô-lai.
- Cũng tàm tạm.
- Họ có con không?
- Có một đứa, nhưng chết rồi.
- Chuyện thế nào? Bác thợ xay mê bà ấy à? Bác ấy bỏ ra nhiều tiền để chuộc bà ấy không?
- Tôi không biết. Bà ấy biết đọc biết viết, trong việc làm ăn của họ thì có ích. Chắc là bác ấy thích bà ấy.
- Anh biết bà ấy lâu chưa?
- Lâu rồi. Trước tôi hay đến nhà chủ cũ của bà ấy. Nhà họ cách đây không xa.
- Thế anh có biết anh hầu bàn Pê-tơ-ru-sca không?
- Pi-ốt-tơ Va-xi-li-ê-vích à? Biết chứ, sao không.
- Bây giờ anh ta ở đâu?
- Bị bắt đi lính rồi.
Chúng tôi im lặng một lúc.
- Hình như bà ấy không được khỏe? - cuối cùng tôi hỏi Éc-mô-lai.
- Khỏe thế nào được! Mai, tôi bảo ông, ta sẽ săn được khá đấy. Giờ chợp mắt một tí cũng chẳng hại gì.
Một đàn vịt trời vù vù bay qua đầu chúng tôi, rồi chúng tôi nghe tiếng chúng sà xuống mặt sông cách đó không xa. Trời đã tối hẳn, và bắt đầu lạnh. Trong lùm cây, một con họa mi cất tiếng hót du dương. Chúng tôi vùi mình vào đống cỏ khô và ngủ thiếp đi.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn