Tôi chưa từng thấy ai mê đùa cợt như nhà vua ấy. Hình như ngài chỉ sống để đùa. Kể được một chuyện đùa hay, mà kể cho khéo, là con đường chắc chắn nhất để được ngài sủng ái. Vì vậy mà bảy vị thượng thư của ngài đều nổi tiếng là những tay pha trò cừ khôi. Họ cũng giống nhà vua ở chỗ ai nấy đều to béo, phục phịch, bóng nhẫy mỡ, và pha trò thì không ai bì kịp. Người ta béo lên vì hay đùa, hay trong chính cái béo có điều gì khiến người ta hay đùa, điều ấy tôi chưa bao giờ xác định được. Nhưng có một điều chắc chắn: một tay pha trò gầy gò là của hiếm trên đời.
Còn về sự tinh tế, hay như nhà vua gọi là cái hồn ma của trí tuệ, thì ngài chẳng mấy bận tâm. Ngài đặc biệt khoái những trò đùa thô và rộng, và nhiều khi chịu nghe một chuyện dài dòng chỉ vì nó thô. Những gì quá tinh vi làm ngài chán ngấy. Giữa cuốn Ga-găng-tuy-a của Ra-bơ-le và cuốn Da-đích của Vôn-te, hẳn ngài chọn cuốn thứ nhất. Và nói chung, những trò trêu chọc bằng tay chân hợp khẩu vị ngài hơn nhiều so với những câu đùa bằng lời.
Vào thời câu chuyện của tôi xảy ra, những anh hề chuyên nghiệp vẫn chưa hoàn toàn hết thời trong các triều đình. Nhiều cường quốc lớn trên lục địa vẫn còn nuôi những anh hề mặc áo nhiều màu, đội mũ đính chuông, lúc nào cũng phải sẵn sàng tuôn ra những câu đùa sắc sảo ngay khi được gọi, để đổi lấy những mẩu bánh vụn rơi từ bàn ăn của vua.
Nhà vua của chúng ta, dĩ nhiên, cũng nuôi một anh hề. Sự thật là ngài cần một chút gì ngớ ngẩn, nếu chỉ để cân bằng lại sự khôn ngoan nặng nề của bảy nhà thông thái làm thượng thư cho ngài, chưa kể chính ngài.
Tuy vậy, anh hề của ngài không chỉ là một anh hề. Giá trị của anh tăng gấp ba trong mắt nhà vua, vì anh còn là một người lùn và một người què. Thời ấy, người lùn ở triều đình cũng nhiều như anh hề. Và nhiều ông vua hẳn thấy khó lòng sống qua ngày, mà ngày ở triều đình thì dài hơn ở nơi khác, nếu không có cả một anh hề để cùng cười, lẫn một người lùn để cười cợt. Nhưng như tôi đã nói, trong một trăm anh hề thì có đến chín mươi chín anh béo tròn, nặng nề. Vì thế nhà vua của chúng ta không khỏi tự đắc khi có được Ếch Nhảy, tên anh hề là thế, ba báu vật gom trong một con người.
Tôi tin rằng cái tên Ếch Nhảy không phải là tên cha mẹ đỡ đầu đặt cho người lùn lúc rửa tội, mà do bảy vị thượng thư đồng lòng đặt cho anh, vì anh không đi được như người khác. Quả thật, Ếch Nhảy chỉ có thể di chuyển bằng một kiểu đi giật cục, nửa nhảy nửa trườn. Kiểu đi ấy làm nhà vua thích thú vô cùng, và dĩ nhiên cũng an ủi ngài nữa, vì dù bụng phệ và đầu to bẩm sinh, nhà vua vẫn được cả triều đình coi là có dáng người tuyệt đẹp.
Nhưng dù vì đôi chân dị tật mà Ếch Nhảy chỉ lê bước được trên đường hay trên sàn nhà một cách hết sức đau đớn và khó nhọc, thì tạo hoá dường như đã bù cho đôi chân tật nguyền ấy một sức mạnh phi thường ở hai cánh tay. Nhờ đó anh làm được nhiều trò khéo léo đến kinh ngạc mỗi khi phải trèo cây, trèo dây hay leo lên bất cứ thứ gì. Những lúc ấy trông anh giống một con sóc hay một con khỉ nhỏ hơn là một con ếch.
Tôi không thể nói chính xác Ếch Nhảy vốn từ xứ nào tới. Chỉ biết là từ một vùng hoang dã nào đó chẳng ai từng nghe tên, xa tít triều đình của nhà vua. Ếch Nhảy và một cô gái tên Tri-pét-ta, cũng lùn gần như anh, nhưng thân hình cân đối tuyệt đẹp và múa giỏi lạ lùng, đã bị một trong những vị tướng trăm trận trăm thắng của nhà vua bắt đi khỏi nhà, ở hai vùng sát cạnh nhau, rồi đem về dâng vua làm quà.
Trong hoàn cảnh ấy, chẳng lạ gì hai người tù nhỏ bé trở nên thân thiết với nhau. Quả thật, họ sớm thành đôi bạn thề sống chết có nhau. Ếch Nhảy, dù làm trò mua vui rất nhiều, lại chẳng được ai ưa, nên không giúp được Tri-pét-ta bao nhiêu. Còn cô, nhờ duyên dáng và xinh đẹp tuyệt trần, dù là người lùn, được mọi người yêu mến, chiều chuộng, nên có nhiều ảnh hưởng. Và hễ có dịp là cô không bao giờ quên dùng ảnh hưởng ấy để giúp Ếch Nhảy.
Nhân một dịp đại lễ nào đó, tôi quên mất là dịp gì, nhà vua quyết định mở hội hoá trang. Và mỗi khi triều đình có hội hoá trang hay những dịp tương tự, chắc chắn tài năng của cả Ếch Nhảy lẫn Tri-pét-ta đều được đem ra dùng. Nhất là Ếch Nhảy, anh rất giỏi bày đám rước, nghĩ ra những vai mới lạ và sắp đặt trang phục cho các buổi dạ hội hoá trang, đến nỗi dường như chẳng việc gì làm được nếu không có anh giúp.
Đêm đã định cho buổi hội đã tới. Dưới sự trông nom của Tri-pét-ta, một gian sảnh lộng lẫy đã được trang hoàng đủ mọi thứ có thể làm buổi hội hoá trang thêm rực rỡ. Cả triều đình nóng lòng chờ đợi. Về trang phục và vai diễn, có thể đoán là ai nấy đều đã quyết định xong. Nhiều người đã chọn vai cho mình từ một tuần, thậm chí một tháng trước. Thật ra chẳng ai còn chút do dự nào, trừ nhà vua và bảy vị thượng thư. Vì sao họ do dự thì tôi không bao giờ hiểu được, trừ phi họ làm thế cho vui. Có lẽ đúng hơn là vì béo quá nên họ khó quyết định. Dẫu sao thì thời gian cứ trôi, và cuối cùng, không còn cách nào khác, họ cho gọi Tri-pét-ta và Ếch Nhảy tới.
Khi hai người bạn nhỏ vâng lệnh vua tới, họ thấy ngài đang ngồi uống rượu với bảy vị trong hội đồng cơ mật, nhưng có vẻ rất bực bội. Ngài biết Ếch Nhảy không thích rượu, vì rượu kích động anh chàng què tội nghiệp tới mức gần như phát điên, mà điên thì chẳng dễ chịu gì. Nhưng nhà vua mê những trò trêu chọc, và lấy làm thích thú khi ép Ếch Nhảy uống rượu và, như ngài gọi, làm cho vui lên.
– Lại đây, Ếch Nhảy, – ngài nói khi anh hề và cô bạn bước vào phòng. – Nốc cạn chén này để chúc sức khoẻ những người bạn vắng mặt của ngươi đi.
Nghe đến đây, Ếch Nhảy thở dài.
– Rồi cho chúng ta được hưởng chút sáng kiến của ngươi, – nhà vua nói tiếp. – Chúng ta cần vai diễn, vai diễn đấy, nghe chưa, cái gì mới lạ, khác thường cơ. Chúng ta chán ngấy cái kiểu muôn năm như một này rồi. Nào, uống đi! Rượu sẽ làm đầu óc ngươi sáng ra.
Như thường lệ, Ếch Nhảy cố nghĩ một câu đùa để đáp lại lời nhà vua, nhưng không sao nghĩ được. Hôm ấy lại đúng là sinh nhật của người lùn tội nghiệp, và cái lệnh phải uống mừng những người bạn vắng mặt khiến nước mắt anh trào ra. Nhiều giọt to và đắng rơi vào chiếc chén khi anh khúm núm đón lấy nó từ tay kẻ bạo chúa.
– A ha ha ha! – Nhà vua cười rống lên khi người lùn miễn cưỡng uống cạn chén. – Xem một chén rượu ngon làm được gì này! Kìa, mắt ngươi đã sáng lên rồi!
Tội nghiệp! Đôi mắt to của anh loé lên chứ không phải sáng lên, vì rượu tác động đến bộ óc dễ bị kích động của anh vừa mạnh vừa tức thì. Anh bồn chồn đặt chén lên bàn, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, ánh mắt nửa điên dại. Ai nấy đều có vẻ rất khoái chí vì trò đùa của nhà vua đã thành công.
– Giờ thì vào việc, – vị tể tướng, một người rất béo, nói.
– Phải, – nhà vua nói. – Nào, Ếch Nhảy, giúp chúng ta đi. Vai diễn, anh bạn quý ạ, chúng ta đang cần vai diễn, tất cả chúng ta, ha ha ha!
Vì nhà vua thật lòng coi câu ấy là một câu đùa, bảy vị thượng thư đồng thanh cười theo.
Ếch Nhảy cũng cười, dù yếu ớt và có phần ngây dại.
– Nào, nào, – nhà vua sốt ruột nói. – Ngươi không có gì để đề nghị à?
– Tôi đang cố nghĩ ra một cái gì mới lạ, – người lùn đáp, giọng lơ đãng, vì rượu đã làm anh hoàn toàn choáng váng.
– Cố à! – Kẻ bạo chúa quát lên dữ tợn. – Ngươi nói thế là ý gì? À, ta hiểu rồi. Ngươi đang hờn dỗi, và muốn thêm rượu. Đây, uống đi!
Nói rồi ngài rót đầy một chén nữa, chìa cho anh chàng què. Anh chỉ nhìn chén rượu, thở hổn hển.
– Ta bảo uống đi! – Con quái vật hét lên. – Không thì, có ma quỷ chứng giám…
Người lùn ngập ngừng. Nhà vua giận tím mặt. Đám cận thần cười khẩy. Tri-pét-ta, mặt tái như xác chết, tiến lại chỗ vua ngồi, quỳ xuống trước mặt ngài, van xin ngài tha cho bạn mình.
Kẻ bạo chúa nhìn cô mấy giây, rõ ràng là ngạc nhiên trước sự táo gan của cô. Ngài có vẻ hoàn toàn lúng túng, không biết làm gì, nói gì, bày tỏ cơn phẫn nộ của mình sao cho xứng đáng nhất. Cuối cùng, không nói một lời, ngài đẩy mạnh cô ra, rồi hắt cả chén rượu đầy vào mặt cô.
Cô gái tội nghiệp gượng đứng dậy, không dám cả thở dài, rồi trở về chỗ của mình ở cuối bàn.
Có một khoảng im lặng như tờ chừng nửa phút, im đến nỗi có thể nghe thấy tiếng một chiếc lá hay một cọng lông rơi. Rồi sự im lặng bị phá vỡ bởi một tiếng ken két trầm thấp, nhưng rít lên và kéo dài, như vọng tới cùng lúc từ khắp mọi góc phòng.
– Cái gì, cái gì, cái gì, sao ngươi lại làm ra tiếng động ấy? – Nhà vua giận dữ quay sang hỏi người lùn.
Người lùn dường như đã tỉnh rượu được phần lớn. Anh nhìn thẳng vào mặt kẻ bạo chúa, chăm chú mà điềm tĩnh, chỉ thốt lên:
– Tôi, tôi ấy ạ? Làm sao là tôi được?
– Tiếng động hình như ở ngoài vọng vào, – một vị cận thần nhận xét. – Tôi đoán là con vẹt bên cửa sổ đang mài mỏ vào nan lồng.
– Phải đấy, – nhà vua đáp, như nhẹ nhõm hẳn vì lời gợi ý ấy. – Nhưng ta lấy danh dự hiệp sĩ mà thề, ta cứ tưởng đó là tiếng thằng lang thang này nghiến răng.
Nghe vậy người lùn bật cười, mà nhà vua thì vốn là tay mê đùa nên chẳng bao giờ cấm ai cười, và để lộ ra một hàm răng to, khoẻ và hết sức gớm guốc. Hơn nữa, anh còn tuyên bố sẵn lòng uống bao nhiêu rượu tuỳ thích. Nhà vua nguôi giận. Uống cạn thêm một chén đầy mà chẳng thấy có hại gì rõ rệt, Ếch Nhảy lập tức hăng hái bàn ngay chuyện hội hoá trang.
– Tôi không biết vì sao lại liên tưởng như thế, – anh nhận xét, hết sức bình thản, như thể cả đời chưa từng nếm rượu, – nhưng ngay sau khi bệ hạ đánh cô gái và hắt rượu vào mặt cô ấy, ngay sau khi bệ hạ làm thế, và trong khi con vẹt đang làm cái tiếng kỳ quặc ấy ngoài cửa sổ, thì trong đầu tôi nảy ra một trò vui tuyệt diệu. Đó là một trò của quê tôi, ở chỗ chúng tôi người ta hay diễn trong các hội hoá trang, nhưng ở đây thì sẽ hoàn toàn mới lạ. Tiếc là trò ấy cần tám người, và…
– Thì đây! – Nhà vua kêu lên, cười vì mình phát hiện ra sự trùng hợp thật tinh. – Đủ tám người, không thiếu không thừa: ta và bảy vị thượng thư. Nào! Trò gì thế?
– Chúng tôi gọi nó là Tám con đười ươi bị xích, – anh chàng què đáp. – Diễn khéo thì thật là một trò vui tuyệt vời.
– Chúng ta sẽ diễn, – nhà vua nói, ưỡn người lên, mí mắt khép hờ.
– Cái hay của trò này, – Ếch Nhảy nói tiếp, – là ở chỗ nó làm cho đám đàn bà sợ chết khiếp.
– Tuyệt! – Nhà vua và các thượng thư đồng thanh rống lên.
– Tôi sẽ hoá trang cho các ngài thành đười ươi, – người lùn nói tiếp. – Cứ để mọi việc cho tôi. Giống đến nỗi những người dự hội sẽ tưởng các ngài là thú thật. Và dĩ nhiên họ sẽ vừa sửng sốt vừa khiếp sợ.
– Ôi, tuyệt diệu! – Nhà vua kêu lên. – Ếch Nhảy! Ta sẽ cho ngươi làm nên người.
– Xích là để tiếng loảng xoảng của nó làm cảnh hỗn loạn thêm. Cứ coi như các ngài đã cùng nhau trốn thoát khỏi tay người giữ thú. Bệ hạ không thể hình dung được hiệu quả trong một buổi hội hoá trang khi tám con đười ươi bị xích, mà phần lớn mọi người tưởng là thật, gào thét man rợ xông vào giữa đám đàn ông đàn bà ăn mặc sang trọng, lộng lẫy. Sự tương phản ấy thì không gì sánh nổi.
– Hẳn là thế rồi, – nhà vua nói. Và cả hội đồng vội vã đứng dậy, vì trời đã khuya, để thực hiện kế hoạch của Ếch Nhảy.
Cách anh hoá trang cho mọi người thành đười ươi rất đơn giản, nhưng đủ hiệu quả cho mục đích của anh. Vào thời câu chuyện này, loài vật ấy rất hiếm khi được thấy ở bất cứ nơi nào trong thế giới văn minh. Vì những bộ đồ người lùn làm ra trông khá giống thú, lại gớm guốc quá mức cần thiết, nên người ta cho rằng chắc chắn chúng giống y như thật.
Trước hết, nhà vua và các thượng thư được mặc áo và quần dệt kim bó sát người. Rồi người ta tẩm nhựa đường vào đó cho thật đẫm. Đến bước này, có người trong bọn gợi ý dùng lông chim. Nhưng người lùn bác ngay, và chẳng mấy chốc đã cho cả tám người thấy tận mắt rằng lông của một con thú như đười ươi giả bằng xơ lanh thì giống hơn nhiều. Thế là một lớp xơ lanh dày được trát lên trên lớp nhựa đường. Rồi người ta mang tới một sợi xích dài. Trước hết, sợi xích được quàng quanh thắt lưng nhà vua và buộc chặt. Rồi quàng quanh một người khác, cũng buộc chặt. Rồi lần lượt quanh tất cả mọi người như thế. Khi đã xích xong, cả bọn đứng giãn ra hết mức, thành một vòng tròn. Và để mọi thứ trông cho tự nhiên, Ếch Nhảy lấy phần xích còn lại căng thành hai đường chéo vuông góc với nhau ngang qua vòng tròn, theo đúng cách mà ngày nay những người bắt tinh tinh hay các loài khỉ lớn ở Bọt-nê-ô vẫn làm.
Gian đại sảnh nơi diễn ra buổi hội hoá trang là một căn phòng hình tròn, trần rất cao, chỉ đón ánh nắng qua một ô cửa sổ duy nhất trên đỉnh mái. Ban đêm, cũng là lúc căn phòng này chủ yếu được dùng tới, nó được thắp sáng chủ yếu bằng một chiếc đèn chùm lớn treo bằng xích từ giữa ô cửa trời, kéo lên hạ xuống nhờ một quả đối trọng như thường lệ. Nhưng để khỏi trông vướng mắt, quả đối trọng được đặt bên ngoài mái vòm, phía trên nóc nhà.
Việc bày biện căn phòng đã được giao cho Tri-pét-ta trông nom. Nhưng hình như ở vài chi tiết, cô đã nghe theo sự phán đoán điềm tĩnh hơn của người bạn lùn. Chính theo lời anh gợi ý mà lần này chiếc đèn chùm được tháo đi. Sáp nến nhỏ giọt, điều không sao tránh được trong tiết trời nóng bức như thế, sẽ làm hỏng nặng những bộ áo đắt tiền của khách khứa. Mà phòng thì chật ních, nên không thể mong mọi người đều tránh được chỗ giữa phòng, tức là ngay bên dưới đèn chùm. Thay vào đó, người ta đặt thêm những giá đèn ở nhiều chỗ khuất trong phòng, và một ngọn đuốc toả hương thơm được đặt vào tay phải của mỗi bức tượng thiếu nữ đứng tựa tường, tất cả chừng năm sáu chục bức.
Theo lời khuyên của Ếch Nhảy, tám con đười ươi kiên nhẫn đợi tới nửa đêm, khi căn phòng đã chật ních người hoá trang, mới xuất hiện. Nhưng đồng hồ vừa điểm dứt, chúng đã cùng lúc xông vào, hay đúng hơn là lăn vào, vì sợi xích vướng víu khiến hầu hết bọn họ ngã nhào, và ai cũng loạng choạng khi bước vào.
Đám khách hoá trang náo động dữ dội, khiến lòng nhà vua tràn ngập niềm vui. Đúng như dự tính, không ít khách tưởng những sinh vật trông hung dữ kia đúng là thú vật thật, dù chưa chắc là đười ươi. Nhiều phụ nữ ngất xỉu vì khiếp sợ. Và nếu nhà vua không phòng xa mà cấm mang vũ khí vào gian sảnh, có lẽ bọn họ đã sớm phải trả giá cho trò đùa bằng máu của mình. Đằng này, mọi người ùa cả ra cửa. Nhưng nhà vua đã ra lệnh khoá cửa ngay khi ngài vào, và theo lời gợi ý của người lùn, chìa khoá được giao cho anh giữ.
Trong lúc hỗn loạn lên tới đỉnh điểm, và mỗi người hoá trang chỉ lo cho thân mình, vì quả thật đám đông xô đẩy nhau rất nguy hiểm, người ta có thể thấy sợi xích vẫn thường treo đèn chùm, đã được kéo lên khi tháo đèn, giờ đang từ từ hạ xuống, cho tới khi đầu móc của nó chỉ còn cách mặt sàn chừng một mét.
Ngay sau đó, nhà vua và bảy người bạn, sau khi lảo đảo khắp gian sảnh, cuối cùng đã tới giữa phòng, và dĩ nhiên là ở sát ngay sợi xích. Trong khi họ đứng đó, người lùn, nãy giờ vẫn lặng lẽ theo sát gót họ, xúi họ làm náo loạn thêm, nắm lấy sợi xích của chính họ ở chỗ giao nhau của hai đoạn căng chéo vuông góc qua vòng tròn. Nhanh như cắt, anh móc vào đó chiếc móc vốn dùng để treo đèn chùm. Và chỉ trong nháy mắt, nhờ một bàn tay vô hình nào đó, sợi xích đèn chùm được kéo lên cao đủ để chiếc móc ra khỏi tầm với, và tất nhiên kéo cả tám con đười ươi lại sát vào nhau, mặt đối mặt.
Lúc này, những người hoá trang đã phần nào hoàn hồn. Bắt đầu coi cả chuyện này là một trò đùa được dàn dựng khéo léo, họ phá lên cười ầm ĩ trước tình cảnh khốn đốn của bầy khỉ.
– Để chúng cho tôi! – Ếch Nhảy rít lên, giọng the thé vượt qua mọi tiếng ồn ào. – Để chúng cho tôi. Hình như tôi biết chúng. Chỉ cần nhìn kỹ một cái, tôi sẽ nói ngay chúng là ai.
Nói rồi anh trèo qua đầu đám đông, tìm được tới sát tường, giật lấy một ngọn đuốc trong tay một bức tượng, rồi cũng theo lối ấy quay lại giữa phòng. Nhanh nhẹn như khỉ, anh nhảy lên đầu nhà vua, từ đó leo lên sợi xích một quãng, chúc ngọn đuốc xuống để xem xét đám đười ươi, miệng vẫn hét:
– Tôi sẽ tìm ra ngay chúng là ai!
Và giờ đây, trong lúc cả đám đông, kể cả bầy khỉ, đang cười ngặt nghẽo, anh hề bỗng huýt một tiếng sáo lanh lảnh. Sợi xích bật mạnh lên cao chừng mười mét, kéo theo tám con đười ươi đang hoảng hốt vùng vẫy, treo lơ lửng chúng giữa khoảng không, giữa ô cửa trời và mặt sàn. Ếch Nhảy bám vào sợi xích khi nó vụt lên, vẫn giữ nguyên vị trí của mình so với tám người hoá trang, và vẫn như không có chuyện gì, tiếp tục chúc ngọn đuốc về phía họ, như đang cố tìm xem họ là ai.
Cả đám đông sững sờ trước cảnh sợi xích vụt lên, đến nỗi im phăng phắc chừng một phút. Sự im lặng bị phá vỡ bởi đúng cái tiếng ken két trầm thấp, rít lên ấy, cái tiếng đã làm nhà vua và các thượng thư chú ý khi ngài hắt rượu vào mặt Tri-pét-ta. Nhưng lần này thì không còn nghi ngờ gì về chỗ phát ra âm thanh. Nó phát ra từ hàm răng như nanh thú của người lùn. Anh nghiến răng ken két, sùi bọt mép, trừng trừng nhìn với vẻ giận dữ điên cuồng vào những khuôn mặt đang ngửa lên của nhà vua và bảy kẻ đồng hành.
– À ha! – Cuối cùng anh hề điên tiết nói. – À ha! Giờ thì tôi bắt đầu thấy những người này là ai rồi!
Nói đoạn, làm như muốn nhìn nhà vua cho rõ hơn, anh dí ngọn đuốc vào lớp áo xơ lanh bọc quanh ngài. Lớp áo lập tức bùng lên thành một tấm lửa rực rỡ. Chưa đầy nửa phút, cả tám con đười ươi đã cháy phừng phừng, giữa tiếng gào thét của đám đông đang kinh hoàng nhìn lên từ bên dưới, không sao giúp được họ chút nào.
Cuối cùng, ngọn lửa bỗng bùng lên dữ dội hơn, buộc anh hề phải leo cao hơn trên sợi xích để tránh. Khi anh leo lên, đám đông lại chìm vào im lặng trong một thoáng. Người lùn chộp lấy cơ hội, lên tiếng lần nữa:
– Giờ tôi thấy rõ rồi, những người hoá trang này là hạng người nào. Đó là một vị vua vĩ đại và bảy vị cố vấn cơ mật của ngài. Một ông vua không ngần ngại đánh một cô gái không có gì tự vệ, và bảy vị cố vấn hùa theo ngài trong hành động tàn ác ấy. Còn tôi, tôi chỉ là Ếch Nhảy, anh hề, và đây là trò đùa cuối cùng của tôi.
Vì cả xơ lanh lẫn nhựa đường dính vào nó đều rất dễ cháy, người lùn vừa nói xong mấy lời ngắn ngủi ấy thì cuộc báo thù cũng đã hoàn tất. Tám xác người đung đưa trong xích, thành một khối đen thui, hôi hám, gớm ghiếc, không còn nhận ra hình thù. Anh chàng què ném ngọn đuốc vào họ, thong thả leo lên tới trần, rồi biến mất qua ô cửa trời.
Người ta cho rằng Tri-pét-ta, đứng chờ sẵn trên mái gian sảnh, đã giúp bạn mình trong cuộc báo thù bằng lửa ấy, và rằng hai người đã cùng nhau trốn về quê hương. Vì từ đó không ai còn thấy bóng dáng họ nữa.
— Hết —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ