Chương 1: Đồng xu của bà ăn mày
Năm lên mười, cô bé trông ốm yếu đến nỗi nhìn em làm lụng vất vả như một đứa ở trong trại mà thương. Em có đôi mắt to ngơ ngác, nụ cười buồn của những người chịu khổ mà không than. Những bác chủ trại giàu có, buổi tối gặp em ở bìa rừng đi ra, áo quần rách rưới, oằn lưng dưới một bó củi nặng, thỉnh thoảng, những năm thóc bán được giá, lại ngỏ ý mua cho em một chiếc váy bằng vải bông dày cho ấm. Những lúc ấy em đáp:
— Cháu biết dưới cổng nhà thờ có một ông cụ nghèo chỉ có mỗi cái áo khoác mỏng giữa trời tháng Chạp rét buốt thế này. Bác mua cho ông cụ một cái áo dạ đi, mai nhìn ông được mặc ấm là cháu cũng thấy ấm rồi.
Vì thế người ta đặt cho em cái tên Em Gái Người Nghèo. Có người gọi thế để chế giễu mấy chiếc váy rách của em, có người gọi thế để khen tấm lòng tốt của em.
Ngày trước, Em Gái Người Nghèo từng có một chiếc nôi ren xinh xắn và đồ chơi nhiều đến chật cả căn phòng. Rồi một buổi sáng, mẹ em không đến hôn em lúc em thức dậy. Thấy em khóc vì không gặp mẹ, người ta bảo em rằng một vị thánh của Chúa đã đưa mẹ lên thiên đàng, thế là em nín. Một tháng trước đó, cha em cũng đã ra đi như thế. Cô bé nghĩ cha vừa gọi mẹ lên trời, và hai người ở cùng nhau trên ấy, không sống thiếu con gái được, chẳng bao lâu nữa sẽ sai một thiên thần xuống đón em lên.
Em không còn nhớ mình đã mất đồ chơi và chiếc nôi như thế nào. Từ một tiểu thư giàu có, em thành một con bé nghèo khó, mà chẳng ai tỏ ra ngạc nhiên cả. Hẳn là có những kẻ xấu đã đến, lột sạch của em theo kiểu những người lương thiện. Em chỉ nhớ một buổi sáng nọ, bên giường em có chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét. Em sợ lắm, vì hai người không hôn em. Thím Ghi-dô-mét vội vã mặc cho em một bộ áo vải thô. Chú Ghi-dôm nắm tay em, dắt em về túp lều tồi tàn nơi em sống từ đó đến nay. Rồi thế là hết. Tối nào em cũng thấy mệt rã rời, mà vị Thiên thần giải thoát vẫn mãi chưa tới.
Chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét ngày trước cũng từng giàu có lắm. Nhưng chú Ghi-dôm thích bạn bè chè chén vui vẻ, thích những đêm thâu uống rượu, chẳng nghĩ gì tới những thùng rượu đang cạn dần. Thím Ghi-dô-mét thì thích ruy băng, thích áo lụa, thích hàng giờ liền ngồi cố làm cho mình trẻ đẹp mà chẳng được. Thế rồi một ngày kia, hầm hết rượu, và tấm gương soi phải đem bán đi mua bánh mì. Trước đó, họ cũng có cái lòng tốt của một số người giàu, mà nhiều khi chẳng qua chỉ là kết quả của sự sung túc và tự mãn. Họ thấy hạnh phúc sâu sắc hơn khi chia sẻ nó với người khác, nên trong lòng thương người của họ lẫn rất nhiều ích kỷ. Vì thế, khi phải chịu khổ, họ không biết giữ được lòng tốt. Tiếc của cải đã mất, chỉ còn biết khóc cho cảnh nghèo của mình, họ trở nên tàn nhẫn với người nghèo.
Quên mất rằng chính họ đã làm mình nghèo, họ đổ cho ai cũng là kẻ làm họ khánh kiệt. Trong lòng họ thấy cần được trả thù lắm, họ cay cú vì miếng bánh mì đen, tìm cách tự an ủi bằng cách nhìn thấy những nỗi khổ lớn hơn nỗi khổ của mình.
Vì vậy họ thích thú nhìn những manh áo rách của Em Gái Người Nghèo, nhìn đôi má gầy gò, trắng nhợt vì nước mắt của em. Họ không tự thú với mình cái niềm vui độc ác khi thấy đứa bé yếu ớt, lúc từ giếng về, hai tay ôm cái vò nước nặng, bước đi lảo đảo. Họ đánh em vì làm đổ một giọt nước, bảo rằng phải sửa những tính nết xấu. Và họ đánh vội vàng, hằn học tới mức ai cũng dễ thấy đó chẳng phải là một sự răn dạy công bằng.
Em Gái Người Nghèo phải gánh chịu tất cả cảnh khốn cùng của họ. Họ bắt em làm những việc nặng nhọc nhất, sai em đi mót lúa dưới nắng trưa, đi nhặt củi khô giữa những ngày tuyết rơi. Rồi vừa về tới nhà, em lại phải quét, phải giặt, phải dọn dẹp mọi thứ trong lều cho ngăn nắp. Cô bé không còn than vãn gì nữa. Những ngày hạnh phúc đã xa em quá rồi, em không biết rằng người ta có thể sống mà không khóc. Em chẳng bao giờ nghĩ trên đời có những cô tiểu thư cười đùa và được vuốt ve. Chẳng biết đến đồ chơi và những nụ hôn, em chấp nhận những trận đòn và mẩu bánh mì khô mỗi tối như những điều cũng là một phần của cuộc sống. Và những người khôn ngoan rất lấy làm lạ khi thấy một đứa bé mười tuổi biết thương xót mọi nỗi khổ của người khác, mà dường như chẳng nghĩ gì đến nỗi bất hạnh của chính mình.
Thế rồi một buổi chiều, nhân ngày lễ một vị thánh nào đó, chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét cho em một đồng xu mới tinh, và cho em đi chơi suốt nửa ngày còn lại. Em Gái Người Nghèo chầm chậm đi xuống phố, lúng túng với đồng xu, chẳng biết phải chơi gì. Cứ thế em tới phố chính. Ở đấy, bên trái, gần nhà thờ, có một cửa hàng đầy kẹo và búp bê, ban đêm dưới ánh đèn đẹp đến nỗi lũ trẻ cả vùng mơ về nó như mơ về thiên đàng. Chiều hôm ấy, một đám nhóc đứng trên vỉa hè, miệng há hốc, lặng đi vì thán phục, tay tì lên cửa kính, đứng càng sát càng tốt những món đồ kỳ diệu bày trong tủ. Em Gái Người Nghèo thèm được mạnh dạn như chúng. Em dừng lại giữa phố, hai cánh tay nhỏ buông thõng, kéo lại những mảnh áo rách bị gió thổi tung. Hơi hãnh diện vì mình đang giàu, em nắm thật chặt đồng xu mới tinh, đưa mắt chọn món đồ chơi định mua. Cuối cùng em chọn một con búp bê có mái tóc như người lớn. Con búp bê cao bằng em, mặc một chiếc áo lụa trắng, giống hệt áo của Đức Mẹ.
Cô bé bước tới vài bước. Ngượng ngùng, trước khi vào, em nhìn quanh, thì thấy trên một chiếc ghế đá trước cửa hàng đẹp đẽ ấy có một người đàn bà ăn mặc rách rưới đang ru một đứa bé khóc trong tay. Em lại dừng lại, quay lưng về phía con búp bê. Nghe tiếng đứa bé khóc, hai bàn tay em chắp lại vì thương. Và lần này chẳng chút ngượng ngùng, em vội vàng lại gần để đem đồng xu mới tinh cho người đàn bà tội nghiệp.
Người đàn bà đã nhìn Em Gái Người Nghèo từ nãy. Bà đã thấy em dừng lại, rồi tiến về phía đồ chơi. Cho nên khi đứa trẻ tới bên, bà hiểu ngay tấm lòng tốt của em. Bà cầm lấy đồng xu, mắt rưng rưng. Rồi bà giữ bàn tay nhỏ vừa đưa tiền trong tay mình.
Bà nói:
— Con ơi, ta nhận đồng xu bố thí của con, vì ta biết nếu ta từ chối con sẽ buồn. Nhưng chính con, con không mong ước điều gì sao? Dù ta ăn mặc rách rưới thế này, ta vẫn có thể làm cho con được toại một điều ước.
Trong khi bà nói, đôi mắt của người đàn bà ăn mày sáng lấp lánh như sao, quanh đầu bà có một ngọn lửa chạy vòng, như một vương miện làm bằng tia nắng. Đứa trẻ giờ đã ngủ trên đầu gối bà, mỉm cười như một vị thần trong giấc ngủ.
Em Gái Người Nghèo lắc mái đầu vàng:
— Không đâu, thưa bà, con chẳng mong gì cả. Con định mua con búp bê bà thấy đằng kia, nhưng thím Ghi-dô-mét của con sẽ đập vỡ nó mất. Bà đã không muốn nhận không đồng xu của con, thì con thích bà hôn con một cái để đổi lại hơn.
Người đàn bà ăn mày cúi xuống hôn lên trán em. Được vuốt ve như thế, Em Gái Người Nghèo thấy mình như được nhấc bổng khỏi mặt đất. Em thấy hình như nỗi mệt mỏi triền miên của mình đã tan biến, đồng thời trong lòng em dâng lên một nỗi thương người còn lớn hơn trước.
Người đàn bà lạ nói thêm:
— Con ạ, ta không muốn lòng bố thí của con không được đền đáp. Ta cũng như con, có một đồng xu mà trước khi gặp con ta chẳng biết dùng vào việc gì. Các ông hoàng, các bà lớn đã ném cho ta những túi vàng, nhưng ta thấy họ không xứng đáng giữ đồng xu này. Con cầm lấy. Dù có chuyện gì xảy ra, con cứ làm theo lòng mình.
Rồi bà đưa đồng xu cho em. Đó là một đồng xu cũ bằng đồng vàng, mép sứt mẻ, giữa có một cái lỗ to bằng hạt đậu lớn. Nó mòn tới mức không biết nó từ xứ nào tới, chỉ còn thấy trên một mặt một vòng hào quang đã mờ quá nửa. Có lẽ đó là một thứ tiền trên trời.
Thấy nó mỏng manh như thế, Em Gái Người Nghèo chìa tay ra nhận, hiểu rằng món quà ấy chẳng làm thiệt gì cho bà ăn mày, và coi nó như một kỷ vật tình bạn bà để lại cho mình.
Em nghĩ bụng: "Khổ thân, bà cụ chẳng biết mình nói gì. Các ông hoàng, các bà lớn cần gì tới đồng xu của bà. Nó xấu thế này, mua một mẩu bánh mì cũng chẳng đủ. Mình còn chẳng đem cho người nghèo được nữa là."
Người đàn bà, mắt càng lúc càng sáng, mỉm cười như thể đứa trẻ vừa nói thành tiếng. Bà dịu dàng bảo:
— Con cứ cầm lấy, rồi con sẽ thấy.
Thế là Em Gái Người Nghèo nhận lấy, cho bà khỏi phật lòng. Em cúi đầu bỏ đồng xu vào túi váy. Khi em ngẩng lên, chiếc ghế đá đã trống trơn. Em ngạc nhiên vô cùng, và ra về, lòng cứ mải nghĩ về cuộc gặp gỡ vừa rồi.
Em Gái Người Nghèo ngủ trên gác xép, trong một cái góc dưới mái, nơi những mảnh đồ đạc cũ nằm ngổn ngang. Những đêm có trăng, nhờ một cái cửa sổ mái hẹp, em có đủ ánh sáng để lên giường. Những đêm khác, em phải mò mẫm tới chỗ nằm, một chỗ nằm tồi tàn làm bằng bốn tấm ván ghép không khít và một cái đệm rơm mỏng tới mức hai lớp vải chạm vào nhau.
Đêm ấy trăng rằm. Một vệt sáng dài trải trên những xà nhà, làm cả gác xép sáng trưng.
Khi chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét đã đi ngủ, Em Gái Người Nghèo leo lên gác. Những đêm tối trời, em hay sợ lắm vì những tiếng rên bất chợt, những tiếng bước chân mà em tưởng mình nghe thấy, thật ra chỉ là tiếng kèo cột răng rắc và tiếng chuột chạy vội. Vì thế em yêu tha thiết vầng trăng đẹp, có những tia sáng thân thiết xua đi nỗi sợ của em. Những đêm trăng sáng, em mở cửa sổ mái, cảm ơn trăng trong lời cầu nguyện vì đã trở lại thăm em.
Thấy trong chỗ ở của mình có ánh sáng, em mừng lắm. Em mệt rồi, em sắp được ngủ thật yên, biết rằng người bạn tốt của em là vầng trăng đang canh giữ. Nhiều lần trong giấc ngủ, em cảm thấy trăng đi dạo quanh phòng như thế, im lặng và dịu dàng, xua đuổi những giấc mơ xấu của những đêm đông.
Em vội quỳ lên một cái rương cũ, ngay giữa vùng ánh sáng vàng nhạt. Ở đó em cầu nguyện Chúa. Rồi em lại gần giường, cởi móc váy.
Chiếc váy tuột xuống đất, nhưng kìa, từ cái túi hé miệng tuôn ra cả một trận mưa xu đồng. Em Gái Người Nghèo đứng im, sợ hãi, nhìn những đồng xu lăn lóc.
Em cúi xuống nhặt từng đồng một, lấy đầu ngón tay mà nhón. Em xếp chúng thành chồng trên cái rương cũ, chẳng cố đếm xem bao nhiêu, vì em chỉ biết đếm tới năm mươi, mà em thấy rõ ở đây có tới mấy trăm đồng. Khi trên sàn không còn đồng nào nữa, em nhấc chiếc váy lên, thấy nặng trĩu, biết là túi vẫn còn đầy. Suốt mười lăm phút dài, em bốc ra từng nắm xu, tưởng chẳng bao giờ chạm tới đáy. Cuối cùng em chỉ còn sờ thấy một đồng. Cầm nó lên, em nhận ra ngay: đó là đồng xu bà ăn mày cho em chiều nay.
Thế là em nghĩ Chúa vừa làm một phép lạ, và đồng xu xấu xí em từng coi thường kia là một đồng xu mà người giàu không có được. Em cảm thấy nó run run giữa những ngón tay, sẵn sàng sinh sôi thêm nữa. Em run sợ nhỡ nó nổi hứng làm đầy cả gác xép bằng của cải. Em đã chẳng biết làm gì với những chồng tiền mới tinh lấp lánh dưới ánh trăng kia rồi. Bối rối, em nhìn quanh.
Là một cô bé chăm chỉ, em luôn có sẵn kim chỉ trong túi tạp dề. Em tìm một mảnh vải cũ để khâu một cái túi. Em khâu nó nhỏ tới mức bàn tay bé xíu của em thò vào còn chật, vì thiếu vải, mà Em Gái Người Nghèo thì lại đang vội. Rồi em bỏ đồng xu của bà ăn mày xuống tận đáy, và bắt đầu cho từng chồng, từng chồng xu trên rương vào túi. Mỗi chồng rơi vào là túi đầy, rồi lập tức túi lại rỗng không. Mấy trăm đồng xu nằm trong đó rộng rãi thoải mái. Dễ thấy là nó còn chứa được gấp bốn lần như thế.
Xong xuôi, Em Gái Người Nghèo mệt lả, giấu cái túi dưới đệm rơm rồi ngủ thiếp đi. Trong mơ em mỉm cười, nghĩ tới những món quà lớn em sẽ đem cho người nghèo ngày mai.
Sáng ra thức dậy, Em Gái Người Nghèo tưởng mình đã nằm mơ. Em phải sờ vào kho báu của mình mới tin nó có thật. Cái túi nặng hơn hôm qua một chút, khiến cô bé hiểu rằng đồng xu kỳ diệu đã làm việc thêm trong đêm.
Em vội mặc quần áo, tay cầm đôi guốc gỗ để khỏi gây tiếng động, rón rén xuống nhà. Em giấu cái túi dưới khăn quàng, ôm chặt vào ngực. Chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét ngủ say, không nghe thấy gì. Em phải đi ngang qua giường họ, sợ suýt ngã khi biết họ ở gần mình đến thế. Rồi em chạy, mở toang cửa và trốn đi, quên cả khép lại.
Đang giữa mùa đông, vào những buổi sáng lạnh nhất tháng Chạp. Trời vừa hửng sáng. Dưới ánh bình minh nhợt nhạt, bầu trời dường như cùng một màu với mặt đất phủ đầy tuyết. Cái màu trắng mênh mông lấp kín chân trời ấy có một vẻ tĩnh lặng lớn lao. Em Gái Người Nghèo bước nhanh theo con đường mòn dẫn xuống phố. Em chỉ nghe tiếng guốc mình lạo xạo trên tuyết. Dù đang bận tâm lắm, em vẫn chọn những vết bánh xe sâu nhất mà bước cho vui.
Tới gần phố, em sực nhớ trong lúc vội vã đã quên cầu nguyện. Em quỳ xuống bên đường. Ở đó, một mình, lọt thỏm giữa sự thanh thản bao la và u buồn của thiên nhiên đang ngủ, em đọc kinh bằng giọng trẻ thơ dịu dàng đến nỗi Chúa không phân biệt được với giọng các thiên thần. Chẳng mấy chốc em đứng dậy. Cái lạnh làm em run, em rảo bước.
Cả vùng đang đói khổ lắm, nhất là năm ấy, mùa đông khắc nghiệt mà bánh mì lại đắt tới mức chỉ người giàu mới mua nổi. Những người nghèo, những người sống nhờ nắng trời và lòng thương, sáng nào cũng ra ngoài xem mùa xuân đã về chưa, vì mùa xuân sẽ mang theo những món bố thí rộng rãi hơn. Họ đi trên đường, hoặc ngồi trên những cột mốc ở cổng thành, xin người qua lại. Vì trên gác xép của họ lạnh quá, ở ngoài đường cũng chẳng khác gì. Và họ đông tới mức đủ lập thành một cái làng lớn.
Em Gái Người Nghèo mở cái túi nhỏ. Vào tới phố, em thấy một ông cụ mù đi tới, được một bé gái dắt. Con bé nhìn em buồn bã, tưởng em cũng là chị em với mình, vì thấy em ăn mặc rách rưới.
Em nói với ông cụ tội nghiệp:
— Ông ơi, ông chìa tay ra đi. Chúa Giê-su sai con đến với ông đây.
Em nói với ông cụ, vì những ngón tay của bé gái xinh xắn quá, chỉ đựng được chừng mười đồng xu. Còn hai bàn tay ông cụ chìa ra vừa dài vừa rộng, em phải bốc trong túi bảy lần mới đầy. Rồi em bảo bé gái cầm lấy một nắm xu cuối cùng, và đi tiếp.
Em vội tới trước nhà thờ, gần những chiếc ghế đá nơi người nghèo tụ tập buổi sáng. Nhà của Chúa che cho họ khỏi gió bấc, và mặt trời mọc lên thì chiếu thẳng vào dưới cổng. Em lại phải dừng lần nữa. Ở góc một ngõ nhỏ, em gặp một thiếu phụ hẳn đã qua đêm ở đó, vì chị ta lạnh cóng và run lẩy bẩy. Mắt nhắm nghiền, hai tay ôm chặt ngực, chị như đang ngủ, chẳng còn trông mong gì ngoài cái chết. Em Gái Người Nghèo đứng trước mặt chị, tay đầy xu, chẳng biết đưa cho chị thế nào. Em khóc, nghĩ rằng mình tới quá muộn.
Em khẽ chạm vào vai chị, bảo:
— Chị ơi, cầm lấy chỗ tiền này đi. Chị phải vào quán ăn sáng, rồi ngủ bên một lò lửa thật to.
Nghe giọng nói dịu dàng ấy, người đàn bà mở mắt, chìa tay ra. Có lẽ chị tưởng mình vẫn đang ngủ và mơ thấy một thiên thần xuống với mình.
Em Gái Người Nghèo vội ra quảng trường lớn. Dưới cổng nhà thờ đông nghịt người chờ tia nắng đầu tiên. Những người ăn mày ngồi dưới chân tượng các thánh, run lên vì lạnh, ngồi sát bên nhau, chẳng nói năng gì. Họ khẽ lắc lư cái đầu như những người hấp hối. Họ chen vào các góc để không bỏ sót chút nắng nào khi mặt trời ló ra.
Em Gái Người Nghèo bắt đầu từ bên phải, ném từng nắm xu vào những chiếc mũ phớt, những vạt tạp dề, ném với tất cả tấm lòng, đến nỗi bao nhiêu đồng lăn lóc trên nền đá. Cô bé chẳng đếm. Cái túi nhỏ làm nên điều kỳ diệu. Nó chẳng bao giờ vơi, mỗi lần cô bé bốc một nắm lại phồng to lên, tràn ra như một cái bình đầy quá miệng. Những người nghèo sững sờ trước cơn mưa vui vẻ ấy. Họ nhặt những đồng xu rơi, quên cả mặt trời đang mọc, vội vã lắp bắp: "Cầu Chúa đền đáp cho cô". Quà bố thí hào phóng đến nỗi có những cụ già tốt bụng tin rằng chính các vị thánh bằng đá đã ném xuống cho họ món của trời ấy, và đến giờ họ vẫn tin như thế.
Cô bé cười vì thấy họ vui. Em đi ba vòng để ai cũng được bằng nhau. Rồi em dừng lại, không phải vì túi đã hết, mà vì em còn nhiều việc phải làm trước khi trời tối. Khi định đi, em thấy trong một góc có một ông cụ tàn tật không lết lại gần được, đang chìa tay về phía em. Buồn vì đã không nhìn thấy ông, em bước tới, nghiêng túi để cho ông nhiều hơn. Những đồng xu bắt đầu tuôn ra từ cái túi xoàng ấy như nước chảy từ vòi, không ngừng, nhiều tới mức Em Gái Người Nghèo phải vội lấy nắm tay bịt miệng túi lại, kẻo đống xu chỉ một lát đã cao bằng nhà thờ. Ông cụ tội nghiệp đâu cần nhiều tiền đến thế, mà biết đâu người giàu lại chẳng đến cướp của ông.
Thế rồi, khi người ở quảng trường lớn ai cũng đã đầy túi, em đi về phía đồng quê. Những người ăn mày quên cả việc lo cho nỗi khổ của mình, bắt đầu đi theo em. Họ nhìn em ngạc nhiên và kính cẩn, bị cuốn theo một tấm lòng anh em. Em đi trước một mình, vừa đi vừa nhìn quanh. Đám đông theo sau.
Cô bé mặc chiếc áo vải hoa rách bươm, đúng là em gái của những người nghèo đang theo em, em gái vì manh áo rách, em gái vì lòng thương xót dịu dàng. Em như đang ở giữa gia đình mình, cho đi với anh em mình, quên cả bản thân. Em bước đi trang nghiêm, bằng tất cả sức của đôi bàn chân nhỏ, sung sướng được làm người lớn. Và cô bé tóc vàng mười tuổi ấy rạng ngời một vẻ uy nghi ngây thơ, theo sau là cả một đoàn tuỳ tùng toàn những ông cụ bà cụ.
Tay cầm cái túi nhỏ hẹp, em đi từ làng này sang làng khác, bố thí khắp cả vùng. Em cứ đi thẳng, chẳng chọn đường, đi cả đường đồng bằng lẫn lối mòn trên đồi. Rồi em rẽ ngang, băng qua ruộng, xem có kẻ lang thang nào nấp dưới chân hàng rào hay trong lòng mương không. Em nhón chân nhìn ra chân trời, tiếc không thể gọi được tất cả những cảnh khốn cùng trong vùng. Em thở dài khi nghĩ có thể mình đã bỏ sót lại phía sau một nỗi khổ nào đó. Nỗi lo ấy khiến đôi khi em quay lại để xem một bụi cây. Và dù em chậm bước ở những khúc quanh, hay chạy tới gặp một người túng đói, đoàn người vẫn theo em qua mọi ngả rẽ.
Thế rồi, khi em băng qua một bãi cỏ, một đàn chim sẻ sà xuống trước mặt. Những con chim nhỏ tội nghiệp, lạc giữa tuyết, kêu ríu rít thảm thiết, đòi miếng ăn mà chúng đã tìm mãi không ra. Em Gái Người Nghèo dừng lại, sững sờ khi gặp những kẻ khốn khổ mà những đồng xu của em chẳng giúp gì được. Em giận dữ nhìn cái túi, nguyền rủa thứ tiền không chịu làm việc thiện. Trong khi đó lũ chim sẻ vây quanh em. Chúng bảo chúng cũng là người trong nhà, chúng đòi phần của chúng trong những món quà của em. Sắp oà khóc, chẳng biết làm sao, em bốc trong túi một nắm xu, vì không nỡ đuổi chúng đi mà không cho gì. Hẳn cô bé đã rối trí, tưởng đâu đồng xu cũng là tiền của chim sẻ, và những đứa con của Chúa ấy cũng có thợ xay để xay bột và thợ làm bánh để nhồi bánh mì hằng ngày. Tôi không biết em định làm gì, nhưng điều ai cũng biết là nắm xu bố thí ném ra, khi rơi xuống đất đã thành một nắm lúa mì.
Em Gái Người Nghèo chẳng tỏ ra ngạc nhiên. Em dọn cho lũ chim sẻ một bữa tiệc thật sự, mời chúng đủ thứ hạt, nhiều tới mức mùa xuân đến, bãi cỏ mọc dày và cao như một khu rừng. Từ đó, khoảnh đất ấy thuộc về chim trời. Quanh năm chúng tìm thấy ở đó thức ăn dồi dào, dù chúng kéo tới hàng nghìn con, từ khắp hơn hai mươi dặm quanh vùng.
Em Gái Người Nghèo lại lên đường, sung sướng với phép màu mới của mình. Em không chỉ phát xu đồng nữa. Tuỳ người gặp, em cho những chiếc áo khoác thật ấm, những chiếc váy len dày, hay những đôi giày vừa nhẹ vừa bền, nặng chưa tới một lạng mà mòn được cả sỏi đá. Tất cả những thứ ấy đều từ một xưởng may không ai biết mà ra. Vải vóc bền và mềm lạ lùng. Đường khâu mịn tới mức trong cái lỗ mà một cây kim của chúng ta đâm thủng, những cây kim thần đã dễ dàng khâu được ba mũi. Và điều kỳ diệu không nhỏ là mỗi chiếc áo đều tự vừa khít với người nghèo mặc nó. Hẳn là một xưởng toàn những bà tiên tốt bụng vừa dọn đến ở tận đáy túi, mang theo những chiếc kéo vàng mảnh mai cắt được mười chiếc áo cho thiên thần từ một cánh hoa hồng. Chắc chắn là việc của trời, vì đồ làm ra quá hoàn hảo mà khâu lại nhanh đến thế.
Cái túi nhỏ chẳng vì thế mà kiêu ngạo hơn. Mép túi hơi sờn, và bàn tay Em Gái Người Nghèo có lẽ đã làm nó rộng ra đôi chút. Giờ nó to chừng hai cái tổ chim chích. Để Ni-nông khỏi bảo tôi nói dối, tôi phải kể Ni-nông nghe những chiếc áo lớn như váy, như áo choàng, rộng tới bốn năm mét, chui ra khỏi túi như thế nào. Sự thật là chúng được gấp lại trong đó, như những cánh hoa anh túc khi còn chưa thoát khỏi đài hoa, gấp khéo tới mức chẳng to hơn cái nụ hoa ấy là mấy. Bấy giờ Em Gái Người Nghèo lấy hai ngón tay cầm cái gói, khẽ rũ rũ mấy cái. Tấm vải mở ra, dài ra, thành chiếc áo, không còn vừa cho thiên thần nữa mà vừa với những đôi vai rộng. Còn những đôi giày thì tới nay tôi vẫn chưa biết chúng chui ra khỏi túi dưới hình dạng gì. Tôi có nghe nói, nhưng không dám chắc, rằng mỗi đôi nằm trong một hạt đậu, chạm đất là nứt ra. Tất cả những thứ đó, dĩ nhiên, vẫn chẳng làm vơi đi những nắm xu đồng rơi xuống dày như mưa đá tháng Ba.
Em Gái Người Nghèo vẫn đi mãi. Em chẳng thấy mệt, dù từ sáng đã đi gần hai mươi dặm mà chẳng ăn uống gì. Nhìn em đi bên đường, gần như chẳng để lại dấu chân, người ta tưởng em được những đôi cánh vô hình nâng đi. Hôm ấy người ta thấy em ở cả bốn phương của vùng. Em không tìm được trong cả xứ một khoảnh đất nào, đồng bằng hay núi non, mà trên tuyết không in dấu đôi bàn chân nhỏ nhắn của em. Quả thật, nếu chú Ghi-dôm và thím Ghi-dô-mét đuổi theo em, có lẽ họ phải chạy ròng rã một tuần mới đuổi kịp. Không phải vì khó biết em đi đường nào, vì em để lại sau lưng cả một đám đông, như các vị vua khi đi qua. Mà là vì em đi nhanh nhẹn quá, tới mức chính em, vào lúc khác, cũng phải mất sáu tuần dài mới đi hết một chặng đường như thế.
Và cứ qua mỗi làng, đoàn người theo em lại đông thêm. Tất cả những ai em giúp đều đi theo em, đến nỗi gần tối, đám đông kéo dài sau lưng em hàng mấy trăm mét. Đó chính là những việc thiện của em đang theo em như vậy. Chưa có vị thánh nào ra trước mặt Chúa với một đoàn tuỳ tùng huy hoàng đến thế.
Trong lúc ấy, đêm xuống dần. Em Gái Người Nghèo vẫn đi, cái túi nhỏ vẫn làm việc. Cuối cùng người ta thấy cô bé dừng lại trên đỉnh một ngọn đồi. Em đứng im, nhìn những cánh đồng em vừa làm cho giàu có, và manh áo rách của em in đen trên nền trắng của hoàng hôn. Những người ăn mày đứng thành vòng tròn quanh em. Họ chuyển động thành từng khối lớn sẫm màu, rì rầm như mọi đám đông. Rồi tất cả im lặng. Em Gái Người Nghèo đứng cao giữa nền trời, mỉm cười, cả một dân tộc dưới chân. Bấy giờ, sau một ngày đã lớn lên nhiều, đứng trên đồi, em giơ tay lên trời mà bảo những người dân của mình:
— Hãy cảm tạ Chúa Giê-su, hãy cảm tạ Đức Mẹ.
Và tất cả những người dân của em đều nghe thấy giọng nói dịu dàng ấy.
— Hết chương 1 —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích