Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Giấc mơ của ông thẩm phán thành Côn-ma

của Alphonse Daudet

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 7.935 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trước khi tuyên thệ với hoàng đế Ghi-dôm, chẳng…
  2. 0:41Chính cái đệm tròn bằng da ấy đã làm…
  3. 2:40Đi đầu là những cỗ xe dài bốn con…
  4. 5:37Đi với chúng tôi đi, ông Đô-lanh-giơ. Đừng ở…
  5. 6:27Mơ thấy mình chết và tự khóc cho mình,…
  6. 7:09Còn ông thẩm phán thành Côn-ma buồn bã nghĩ:
  7. 7:23Ông thẩm phán khiếp đảm tự hỏi: "Họ làm…

Trước khi tuyên thệ với hoàng đế Ghi-dôm, chẳng có ai sung sướng hơn ông thẩm phán nhỏ thó Đô-lanh-giơ ở toà án Côn-ma, mỗi khi ông tới phiên toà, chiếc mũ thẩm phán lệch trên tai, cái bụng phệ, đôi môi đỏ như hoa, và ba lớp cằm đặt ngay ngắn trên một dải vải mỏng.

Lúc ngồi xuống, ông như tự nhủ: "Chà! Mình sắp được làm một giấc ngon lành đây!" Và nhìn ông duỗi đôi chân mũm mĩm, lún sâu vào chiếc ghế bành lớn, trên cái đệm tròn bằng da mát rượi và êm ái ấy, thật thích mắt. Chính nhờ cái đệm ấy mà sau ba mươi năm ngồi ghế xử án, ông vẫn tính khí điềm đạm và nước da hồng hào.

Đô-lanh-giơ khốn khổ!

Chính cái đệm tròn bằng da ấy đã làm hại ông. Ông thấy ngồi trên đó dễ chịu quá, chỗ của ông trên cái đệm da ấy đã lún vừa khuôn tới mức ông thà làm dân Phổ còn hơn nhúc nhích khỏi đó. Hoàng đế Ghi-dôm bảo ông: "Cứ ngồi yên đấy, ông Đô-lanh-giơ!" Và Đô-lanh-giơ ngồi yên. Hôm nay ông đã là uỷ viên toà phúc thẩm Côn-ma, mạnh dạn xét xử nhân danh Đức vua ở Béc-lin.

Quanh ông, chẳng có gì thay đổi: vẫn cái toà án bạc màu và đơn điệu ấy, vẫn căn phòng như phòng học giáo lý với những hàng ghế bóng loáng, những bức tường trơ trụi, tiếng rì rầm của các luật sư, vẫn ánh sáng lờ mờ rơi xuống từ những cửa sổ cao treo rèm vải thô, vẫn tượng Chúa lớn phủ bụi nghiêng đầu, dang tay. Sang tay nước Phổ, toà án Côn-ma chẳng hề mất thể diện: cuối phòng xử vẫn có một bức tượng bán thân hoàng đế... Nhưng dù sao đi nữa! Đô-lanh-giơ vẫn thấy lạc lõng. Ông có lăn lộn trong ghế bành, giận dữ lún sâu vào đó bao nhiêu cũng chẳng tìm lại được những giấc ngủ ngon lành ngày trước. Và khi tình cờ ông còn ngủ gật được trong phiên toà, thì lại để mơ những giấc mơ khủng khiếp.

Đô-lanh-giơ mơ thấy mình ở trên một ngọn núi cao, đại loại như núi Hô-néc hay núi Tròn xứ An-dát... Ông làm gì ở đó, một mình, mặc áo thẩm phán, ngồi trên một chiếc ghế bành lớn ở độ cao mênh mông ấy, nơi chỉ còn thấy những cây còi cọc và những đám ruồi nhỏ quay cuồng? Đô-lanh-giơ không biết. Ông chờ đợi, run lên vì mồ hôi lạnh và nỗi lo âu của cơn ác mộng. Một vầng mặt trời lớn màu đỏ mọc lên ở bên kia sông Ranh, sau những rặng thông của Rừng Đen. Và mặt trời càng lên cao, thì dưới kia, trong những thung lũng Tan, Mun-xtơ, từ đầu này tới đầu kia xứ An-dát, càng vang lên một tiếng ầm ì lẫn lộn, tiếng chân bước, tiếng xe lăn bánh. Và tiếng ấy lớn dần, tới gần dần, khiến tim Đô-lanh-giơ thắt lại! Chẳng mấy chốc, trên con đường dài ngoằn ngoèo leo lên sườn núi, ông thẩm phán thành Côn-ma thấy tiến về phía mình một đoàn người tang tóc dài bất tận, cả dân xứ An-dát đã hẹn nhau ở con đèo này của dãy Vô-giơ để trang nghiêm ra đi xa xứ.

Đi đầu là những cỗ xe dài bốn con bò kéo, những cỗ xe dài có thành song thưa mà mùa gặt người ta thấy chất đầy lúa, và giờ đây ra đi chở đầy đồ đạc, áo quần, dụng cụ làm ăn. Đó là những chiếc giường lớn, những chiếc tủ cao, những bộ rèm vải hoa, những thùng bột, những cái guồng quay sợi, những chiếc ghế nhỏ của trẻ con, những chiếc ghế bành của ông bà tổ tiên, những di vật cũ kỹ chất đống, lôi ra khỏi góc nhà, rắc lên gió đường cái lớp bụi thiêng liêng của những mái ấm. Cả những ngôi nhà ra đi trên những cỗ xe ấy. Vì thế chúng vừa đi vừa rên rỉ, và đàn bò kéo chúng nặng nhọc, như thể mặt đất bám vào bánh xe, như thể những hạt đất khô còn dính trên bừa, trên cày, trên cuốc, trên cào làm chuyến hàng nặng thêm, biến cuộc ra đi này thành một cuộc bật rễ. Phía sau là một đám đông lặng lẽ chen chúc, đủ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, từ những ông già cao lớn đội mũ ba góc run run chống gậy, tới những chú bé tóc vàng xoăn tít mặc quần vải thô đeo một bên dây. Từ bà cụ bại liệt được những chàng trai kiêu hãnh cõng trên vai, tới những đứa trẻ còn bú được các bà mẹ ôm chặt vào ngực. Tất cả, người khoẻ cũng như người tật nguyền, những người sẽ đi lính năm tới và những người đã qua chiến dịch khủng khiếp vừa rồi, những lính kỵ binh giáp cụt chân lê bước trên nạng, những lính pháo binh hốc hác, kiệt sức, trên bộ quân phục rách tả tơi còn mùi mốc của những hầm giam ở Xpan-đau. Tất cả những người ấy kiêu hãnh đi qua trên con đường mà bên vệ ông thẩm phán thành Côn-ma đang ngồi. Và khi đi ngang trước mặt ông, mỗi khuôn mặt đều quay đi với một vẻ giận dữ và ghê tởm khủng khiếp...

Ôi, Đô-lanh-giơ khốn khổ! Ông muốn trốn đi, chạy đi, nhưng không thể được. Chiếc ghế bành của ông gắn chặt vào núi, cái đệm tròn bằng da gắn chặt vào ghế, và ông gắn chặt vào cái đệm. Bấy giờ ông hiểu rằng mình đang ngồi đó như bị bêu trên cột nhục hình, và người ta đã dựng cột nhục hình cao thế để nỗi nhục của ông được thấy từ xa hơn... Và đoàn người vẫn đi qua, từng làng một. Những làng giáp biên giới Thuỵ Sĩ lùa những đàn gia súc khổng lồ, những làng vùng Xa-rơ đẩy những dụng cụ sắt cứng trong những toa chở quặng. Rồi tới các thành phố, cả đám dân các xưởng kéo sợi, thợ thuộc da, thợ dệt, thợ mắc sợi, thị dân, linh mục, giáo sĩ Do Thái, quan toà, áo đen, áo đỏ... Kia là toà án Côn-ma, ông chánh án già đi đầu. Và Đô-lanh-giơ, chết vì xấu hổ, cố che mặt, nhưng tay ông tê liệt. Ông cố nhắm mắt, nhưng mi mắt ông cứ đứng im mở thao láo. Ông phải nhìn và phải bị nhìn, phải không bỏ sót một ánh mắt khinh bỉ nào của các đồng nghiệp ném về phía mình khi đi qua...

Một ông thẩm phán bị bêu trên cột nhục hình, thật là điều khủng khiếp! Nhưng còn khủng khiếp hơn nữa là cả nhà ông đều ở trong đám đông ấy, mà chẳng ai có vẻ nhận ra ông. Vợ ông, các con ông cúi đầu đi qua trước mặt ông. Như thể chính họ cũng xấu hổ! Tới cả bé Mi-sen mà ông thương biết bao, cũng ra đi mãi mãi, chẳng thèm nhìn ông lấy một cái. Chỉ có ông chánh án già dừng lại một phút, khẽ bảo ông:

— Đi với chúng tôi đi, ông Đô-lanh-giơ. Đừng ở lại đây, ông bạn...

Nhưng Đô-lanh-giơ không đứng dậy được. Ông cựa quậy, ông gọi, và đoàn người vẫn đi qua hàng giờ liền. Và khi nó xa dần vào lúc ngày tàn, tất cả những thung lũng đẹp đẽ đầy tháp chuông và nhà máy kia trở nên im lặng. Cả xứ An-dát đã ra đi. Chỉ còn lại ông thẩm phán thành Côn-ma ở trên cao kia, bị đóng đinh vào cột nhục hình của mình, ngồi yên và không ai bãi chức được...

Bỗng cảnh đổi khác. Những cây thuỷ tùng, những cây thánh giá đen, những hàng mộ, một đám đông để tang. Đó là nghĩa trang Côn-ma, vào một ngày có đám tang lớn. Mọi quả chuông trong thành phố đều đổ hồi. Ông uỷ viên Đô-lanh-giơ vừa mất. Điều mà danh dự không làm nổi, cái chết đã làm thay. Nó đã gỡ ông quan toà không ai bãi chức được ra khỏi cái đệm tròn bằng da, và đặt nằm dài con người cứ khăng khăng ngồi lì ấy...

Mơ thấy mình chết và tự khóc cho mình, chẳng có cảm giác nào khủng khiếp hơn. Lòng tan nát, Đô-lanh-giơ dự đám tang của chính mình. Và điều làm ông tuyệt vọng còn hơn cả cái chết của mình là trong đám đông mênh mông chen chúc quanh ông, ông chẳng có lấy một người bạn, một người thân. Chẳng có ai ở Côn-ma, chỉ toàn người Phổ! Lính Phổ làm đội hộ tống, quan toà Phổ dẫn đầu đám tang, những bài diễn văn đọc trên mộ ông là diễn văn Phổ, và đất người ta rắc lên ông, mà ông thấy lạnh lẽo biết bao, than ôi, là đất Phổ!

Bỗng đám đông kính cẩn dạt ra. Một người kỵ binh giáp trắng lộng lẫy tiến lại, giấu dưới áo choàng một vật trông như một vòng hoa bất tử lớn. Mọi người xung quanh nói:

— Bi-xmác đấy!... Bi-xmác đấy!...

Còn ông thẩm phán thành Côn-ma buồn bã nghĩ:

"Ngài bá tước cho tôi vinh dự lớn quá, nhưng giá có bé Mi-sen của tôi ở đây..."

Một tràng cười khổng lồ khiến ông không nghĩ tiếp được, một tràng cười điên cuồng, vô liêm sỉ, hoang dã, không dứt.

Ông thẩm phán khiếp đảm tự hỏi: "Họ làm sao thế nhỉ!" Ông nhổm dậy, ông nhìn... Đó là cái đệm tròn của ông, cái đệm tròn bằng da của ông mà ngài Bi-xmác vừa thành kính đặt lên mộ ông, quanh mặt da có thêu dòng chữ:

"Kính tặng thẩm phán Đô-lanh-giơ, niềm vinh dự của giới quan toà ngồi ghế, với lòng tưởng nhớ và thương tiếc."

Từ đầu này tới đầu kia nghĩa trang, ai cũng cười, ai cũng cười lăn cười bò, và cái vui thô kệch kiểu Phổ ấy vang tới tận đáy huyệt, nơi người chết đang khóc vì nhục, bị đè bẹp dưới một nỗi lố bịch đời đời...

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1873
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Vision du juge de Colmar, trong tập Les Contes du lundi, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →