Phần 3
Ngày 10 Juillet, ở Bắc lại vào Nam, gặp truyến tầu ở tây sang mà lại trở về tây, khách hạng tư cũng được có nhân-cách, không như đi cái tầu chỉ chạy Haiphong với Saigon. Lại các người làm tầu nhất thiết là người tây, cũng thấy nghĩa nhân-loại bình-đẳng. Sau khi đã vào tới Nam thời thứ nhất là việc Tạp-chí, không có kết-quả gì; thứ hai là việc thư-xã, cục-thế chưa định; không bao lâu mà ông chủ-nhân nhà in nhận làm tờ báo, thời các việc tính trước, chung qui thực-hiện duy có câu thứ ba. Về làm sao, ở làm sao, hành trỉ khứ lưu, đã bán cái tự-do từ trước. Thần trí hôn mê thời sinh nhiều ngộ-điểm, lại còn cho người đem gia-quyến tự Bắc vào Nam. Mới hay con người ta, các cảnh-huống hay dở, nhất thiết tự mình làm; oán giời trách người, chỉ là không tự biết vậy. Ngày 1 Octobre 1927, nhận việc phụ-bút ở Đông-pháp thời-báo, phần nhiều viết về mục văn-chương, lương mỗi tháng một trăm bạc. Chủ-nhân lại cấp thêm cho mỗi tháng một trăm, là rồi sẽ tính về công-việc thư-xã. Mỗi tháng hai trăm bạc ăn tiêu, bất-như-ý mười phần đến tám chín; cờ vàng dấu đỏ, bắc nam thân thế ngậm-ngùi ai. Người ta trong lúc buồn, lại hay nghĩ sinh nhiều cái buồn, như mình ở Nam khi bấy giờ, nhớn thời nhớ An-nam tạp-chí, bé thời nhớ những thức ăn ở Bắc, cây rau húng Láng, quả chanh thơm. — Từ Huế giở vào không có chanh, không phải thật là không có chanh mà chanh không có vị, nhân nhớ đến chữ quất du Hoài nhi bắc vi trỉ. — Sang mồng một tết năm mậu-thìn, nghĩ mình tuổi đã bốn mươi mà luân-lạc tha-hương, vờ-vờ đóm-đóm, nhân có mấy câu thơ xuân-cảm rằng;
Cuộc thế xoay quanh đất một hòn,
Sông chưa cạn đó, núi chưa mòn.
Dân hai nhăm triệu ai người lớn,
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.
Bài thơ này đến khi ở Nam ra, qua Nha-trang, ngồi trên xe hơi trông xuống bể, có nối rằng:
: khói mây mờ mặt biển,
Lo đời sương tuyết bạc đầu non.
Lại sau khi đã ra Bắc, chơi Hải-phòng, một người anh em bạn hộ cho hai chữ ở đầu câu thứ năm rằng:
Cám cảnh...
Thế là bài thơ vẫn chỉ được có sáu câu, còn hai câu thất bát đến nay vẫn chưa có.
Dồn bao nhiêu cái cảm-tưởng khoảng đầu xuân năm ấy, mà tấm lòng nhớ Bắc không một khắc nào nguôi. Lại nghĩ như bấy nhiêu lâu Đông-pháp văn-chương, tạm báo đáp tri-âm vạn nhất. Ngày 14 Février 1928, tức là 23 tháng riêng năm mậu-thìn, lên tòa báo Đông-pháp có lời với chủ-nhân xin thôi. Ngày 18 Février, bỏ vợ con ở lại Nam-trung, bẩy đồng bạc vào Nam khi xưa, lại cũng bẩy đồng bạc ra Bắc.
Tối đến Nha-trang, có thơ rằng:
Xóm Gà tan giấc, rạng vừng ô,
Tối đến Nha-trang rượu một hồ.
Trợ-bút đã xin từ bác Diệp,
Phụ-trương để lại cậy thầy Ngô.
Dám quên Đông-pháp người tri-kỷ,
Riêng nhớ An-nam bức địa-đồ.
Hai truyến chơi xuân thìn với mão,
Khi ra còn nhận những đường vô.
Qua Nha-trang, Qui-nhơn, ra Bình-định, lưu-liên ở lại hàng cơm, lại đề-huề một bọn con ca Huế có đến bốn năm người. Giời sinh ra cái tính phong-lưu, dẫu trong lúc phong-trần không thể rướch đi được. Ở Bình-định, thăm thành cũ Qui-nhơn, xem đền thờ ông Vũ-công-Tính. Hỏi người giữ đền ấy thời trong thành hiện nay có ba thôn: Nam-an, Bắc-thuận, Bả-canh, việc chính-trị thuộc phủ An-nhân. Dân cư canh tác, tịch mịch yên hàn, tưởng như hồi Nguyễn-Nhạc năm xưa, chỉ đó tà-dương còn điếu cổ. Ngày mồng 8 tháng hai ta, chơi Phú-phong, chỗ đó sở ươm dệt rất lớn, địa-phận thuộc huyện Bình-khê. Gần đó có đền thờ làng Kiên-mỹ, nghe nói là rất thiêng; lại lạ vì trong đền nói có ba ngôi khám, khám không có bài vị; mỗi ngày tế lễ, tế không có văn, chỉ người chủ tế đứng đọc miệng. Không biết lễ-tục ở Trung-kỳ hoặc có khác với ngoài Bắc hay sao, khắp xứ Bắc không nghe nói có nơi nào như thế. Do sự ngờ lạ, muốn vào lễ để xem thực hư; cũng để thêm tài liệu du-quan, đăng vào tạp-chí An-nam sau này lại xuất-bản. Nhân biện vàng nhang làm lễ, một người bạn hành cùng đi. Tới đền, chừng đã năm giờ chiều. Đền lợp bằng gianh, không có ngói. Trước sau sân vườn cỏ mọc, rất là hoang vu. Nghe xã-trưởng và người thủ-từ nói, trừ phi dân có đại-tiệc, không dám mở cửa đền. Vàng sáp đã mua, bất-đắc-dĩ đặt nhang-án ở ngoài thềm làm lễ, thảo thảo khấn rằng:
Lễ song, giời đã gần tối, giăng non lên, qua con đò con về Phú-phong, gặp người xã-trưởng xã ấy lại ở huyện mới về, có lời mời lên chơi quan Huyện. Quan huyện Bình-khê, nghe nói ngài là họ tôn-thất, đỗ cử-nhân. Khi mình tới huyện, khoảng hơn bẩy giờ tối, đưa danh-thiếp vào trước. Ngài cho thắp hai đèn long-mã để tiếp khách, chén trè, cốc rượu, rất phong-nhã với người du-quan. Trong khi ngồi nói truyện, lược luận về báo chí ở ba kỳ, rồi lại túng đàm đến những văn-chương của cổ-nhân, Hán, Đường, Tống. Trông lên đồng-hồ đã chín điểm, mình đứng dạy xin lui về chỗ chọ ăn cơm. Bữa ấy uống rượu say, lại cùng người bạn hành đi chơi chỗ hát tuồng gần đó. Mình ngồi ghế nhất chính dữa, trên sân hát thấy có hai người kép hát đã có tuổi, mũ áo ra lạy. Xem qua một lát, riêng thướng ba đồng bạc rồi ra về. Sáng hôm sau là tháng hai ta, ngày mồng 9.
Buổi sáng ngày mồng 9 tháng hai, đi chơi Chinh-tường, là xem mả phát-tích của nhà Tây-sơn. Nguyên ở Phú-phong, nghe nói mả phát-tích của nhà Tây-sơn cách đấy ít nhiều ki-lo-mét, hiện nay quan quách đã đều bị quật bỏ, mà con bò ngó tới cũng phải chết, các tổng lý làng gần đi qua không xuống ngựa, tính mạnh thiệt-thòi. Lạ thay! sự địa-lý biết có hay không; quỉ thần dẫu thiêng, đâu có đến như thế. Vậy thời chính là cái sự-lý thuộc về nhà triết-học phải xét, mà cũng là cái công việc của các nhà báo-bút nên coi vậy. Hôm ấy đi chơi, cùng một người bạn hành và một người thổ-trước thuê hai xe cùng đi, chiều giời râm mát. Tới đó, gọi là núi Long-cương , nghĩa là cái núi hình con rồng. Hai bên hai dãy núi chạy ra, đều có tên riêng cả. Bên trước, dữa chỗ núi Long-cương ấy, xa trông có một chòm cây rậm, còn chung quanh là cánh đồng cao. Người thổ-trước nói truyện bảo mình rằng: Nguyên xưa đây là rừng rậm cả, đến sau dân cư phá dần làm ruộng, nay duy còn chỗ chòm cây ấy chính là chỗ mả nhà Tây-sơn. Ai có qua xem, thường chỉ đứng như đây xa trông, không mấy người dám tới. Nghe nói xong, mình tự xuất chúng cùng tới, cả một người phu xe nữa là bốn, cắt giây dẹp gai, vào tới tận chỗ mả. Thấy hai cái huyệt không còn đó, cái trước cái sau, đá xây thật cổ, cỏ rác lắp đầy, ngoài ra cũng không thấy có gì lạ. Xem song, cùng nhau trở ra, cũng phá được một sự nghi hoặc cho chúng. Lại đứng ở trước chỗ chòm cây, trông ra mặt bể, thời đồng rộng bao la, cận-sơn viễn-sơn, trùng trùng mặn nhạt. Nghĩ cho sư địa-lý không đáng tin là có, mà cũng chưa hẳn nên vội bảo là không vậy.
Về Phú-phong. lại xem qua chỗ ươm dệt, rồi trở ra Bình-định. Từ ở Phú-phong ra Bình-định, lại ngồi chung một xe với ông bạn bạn-hành. Dọc đường, có một người mặc áo the, đội nón long, cưỡi ngựa, khi đi trước, khi đi sau. Lại một người nữa đi xe đạp, mặc áo ngắn vải vàng, cũng đi trước đi sau như vậy. Gần hết hạt Bình-khê, sang địa-phận An-nhân, lại gặp hai cái xe, cả đàn-bà đàn-ông, tức là bọn ca Huế ở hàng cơm còn thiếu tiền chưa giả, nhân cùng quay về cả Bình-định, tiền xa hậu mã. diễn thành tấn kịch phong-lưu. Mình hôm ấy về đến tỉnh Bình, đi xe thẳng vào nghỉ dinh quan Bố.
Quan Bố-chính Bình-định, là một người hán-học có danh tiếng. Mình được biết từ khi ở Hà-nội, ngài mới về cung chức trong khoảng vài ba hôm. Tha hương ngộ cố-tri, người đời xưa cũng lấy làm một sự khả-hỷ. Tối hôm ấy nghỉ nhờ ở trong dinh quan Bố. Sáng hôm sau, theo quan Bố sang dinh quan Tổng-đốc. Buổi trưa, quan Bố cho một người lính đem áo nỉ cùng đi với mình về Qui-nhơn. Trưa hôm ấy, nghỉ ở ô-ten Lê-Vạn-An. Ba giờ chiều vào tòa, thời các quan ta có đủ cả ở trước mặt quan Sứ. Quan Công-sứ hỏi mình rằng:
— Ông đi chơi, có giấy căn-cước không?
Mình bẩm có. rồi nhân tiện đưa cả giấy nghị-định tạp-chí ra trình. Ngài xem song, bảo rằng:
— Nếu ông đi chơi có đủ những giấy má như thế này, thời qua đâu, dù những chỗ hèn mọn như thôn quê mà họ có hỏi, ông cũng nên đưa cho họ coi.
Mình bẩm rằng:
— Xã-trưởng làng Kiên-mỹ thời chúng tôi có định đưa, nhưng họ không giám coi, còn quan huyện Bình-khê thời không thấy ngài hỏi.
Quan Công-sứ lại hỏi:
— Ông đi chơi đó, chỉ là xem cho biết, hay có ý gì không?
— Bẩm, chúng tôi là người làm báo, nhân đi qua đâu muốn xem biết, cũng để hoặc có đăng vào Tạp-chí về sau.
— Vậy thời ông chỉ đi đấy, hay còn định đi chơi những đâu?
— Bẩm còn mấy chỗ nữa ở trong hạt Qui-nhơn, Bình-định- mà chúng tôi muốn đi.
Quan Công-sứ hỏi những đâu. Mình kể ra những chỗ danh thắng ở trong tỉnh-hạt ấy.
Khi ấy, các quan ta ngồi im cả, bỗng thấy quan Tổng-đốc hỏi rằng:
— Anh có định đi nữa thật, hay là chỉ nói bướng?
— Bẩm không phải nói bướng, chúng tôi định đi thật.
— Anh có tiền không mà đi?
— Bẩm, tôi không có tiền.
Quan Công-sứ cười mà hỏi rằng:
— Ông không có tiền, thời lấy gì mà đi?
— Bẩm, tôi còn đợi các anh em ngoài Bắc có gửi mandat vào cho, thời mới có tiền đi.
Khi ấy, các quan cùng buồn cười; duy có quan Tổng-đốc không có vẻ cười, ngài nhìn vào mình mà bảo rằng:
— Chỉ nói bướng!
Quan Công-sứ lại hỏi:
— Nếu ông còn ở lâu lại ở Qui-nhơn, Bình-định, thời ở tại đâu?
Mình trỏ vào quan Bố mà thưa rằng:
— Có lẽ chúng tôi ở trong dinh quan Bố.
Quan Sứ gật đầu nói rằng:
— Như thế thời tiện lắm. Nếu ông có đi chơi đâu, nên nói truyện qua quan Bố biết.
Mình xin vâng, rồi chào quan Công-sứ và các quan ta, rồi lui ra; về ô-ten, đợi ở nhà hội-thương, đáp ô-tô quan Lãnh về Bình-định.
Đến Bình-định, giời đã tối, lại về ở trong dinh quan Bố. Ăn cơm song, sáng giăng xuông, mặc một cái áo trắng đi ra chơi phố để mua soài; bỗng ngoảnh lại đằng sau, thấy có một người lính thời tức là tên lính trong dinh. Mình hỏi thời người lính ấy đáp rằng: «Quan cho đi theo để hầu ngài.» Nhân tiện nhờ anh lính đưa đến chỗ hàng có soài, mua mấy quả rồi về. Từ sáng hôm sau giở đi, ở luôn trong dinh, ngày hai bữa ngồi hầu cơm quan Bố, song rồi nằm xem sách, hoặc chơi thơ-thẩn ở vườn hoa, chân không bước ra khỏi dinh nữa. Hai ba hôm như thế, thần-tình rất là buồn-bã. Gặp lúc có các quan Phái-bộ ở Huế sang viếng con vua Lào, qua Bình-định, quan Bố-chính phải tiếp. Ngài nhân bận về việc công, ít thì giờ tương tiếp, cho nên khuyên mình trở về Bắc, mà cũng đừng đi chơi đâu nữa cho tốn tiền. Khi ấy, cái hứng du-quan cũng đã tàn, nghe lời Quan-Bố bảo là phải. Sáng hôm sau, ngài cho một tên lính lại đem áo nỷ đỏ đi tiễn mình ra đến Quảng-ngãi. tiền vé xe hơi từ Bình-định ra Quảng-ngãi quan Bố giao tên lính lấy cho cả. Mờ sáng, ngồi trên xe, xe đã gần chạy, thấy ông bạn bạn-hành chơi Phú-phong cùng người chủ hàng cơm phố Bình-định và các người đào kép bọn ca Huế đều ra tiễn. Khi ấy thảo thảo tương biệt, mà đến sau có nhiều khi nghĩ lại, nghĩ đến ông bạn bạn-hành đó, nhớ ai ai có nhớ mình? Sau đó rồi ở Quảng-ngãi đáp xe hơi ra Tourane, truyển hỏa-xa về Bắc.
Hơn mười năm bút sắt bút lông, hao giấy mực chẳng ích gì cho xã-hội;
Trải ba xứ đường xe đường bể, chụi râu mày còn thẹn mãi với giang sơn.
Về Bắc-kỳ, bắt đầu ra tới ga Phủ-lý, giây thép đã đánh trước, các anh em bà con ở Phủ-lý ra đón, rất là đông vui. Phục Phủ-lý ít lâu, rồi lên thăm Hanoi; bán dẻ mấy thứ sách, nhờ miếng đất làm nhà ở Vĩnh-Yên. Ba gian nhà cỏ, nửa mẫu đồi cây, hoa nội chim rừng, đèn giăng quạt gió, có thể cho là một đoạn đại-kết-thúc ba mươi sáu năm Tản-đà Nguyễn-khắc-Hiếu vậy.
Nguyên miếng đất đó, là một cái mỏm đồi, góc gò, thuộc thôn Yên-Lập, xã Định-trung, huyện Tam-dương, tỉnh Vĩnh-yên. Đường ô-tô ở Hà-nội lên Tam-đảo, đến đó rồi quanh lên về tay hữu; dẽ về tay tả thời là đường qua con đường sắt ra tỉnh, rồi đi lên Việt-trì, Tuyên-quang. Ngoài đường ô-tô, bên dưới có cái đầm, gọi là đầm Láp, tức là lấy tên theo tên chữ của thôn Yên-lập; tục gọi chỗ đó tổng danh là dốc Láp, cũng nghĩa thế, Trông về phía tây, chính là núi Tản-viên Sơn-tây. Đối với Tản-viên, bên này là Tam-đảo. Cùng phía Tam-đảo mà ở gần ngay trái đồi cao gần đó, cách có một con đường ô-tô, là văn-miếu thờ đức thánh Khổng. Về phía Tản-viên, chỗ đồi cao cây lớn, thế chấn cả toàn tỉnh, thời là dinh quan công-sứ Vĩnh-yên. Dưới chỗ dinh quan Công-sứ Vĩnh-yên, một khu bình-địa về bên đây, là phố là chợ. Bên kia chợ, bên này đầm Láp, một con đường sắt cao cao đó, ấy là đường xe hỏa tự Hanoi qua đó đi Việt-trì, Yên-bái, Lào-cai; ga Vĩnh-yên ở về phía nam đó. Trông về phía nam, tức là mặt Hanoi thời một con đồi cao chụi, ba khúc nằm ngang. Ngoài con đồi chụi ấy, xa trông tuy cũng có mỏm núi cao, chòm cây xanh, song tưởng như mặt biển chân giời, Thái-bình dương, Ấn-độ-dương, con đường vô hạn. Bên trong miếng đất ấy, có nhiều nóc nhà gianh nhỏ cũ, tức là thôn Yên-lập dân cư. Phía trước về bên trong, một khu rừng rậm cây cao, cũng là liên-khu mà chủ-nhân lưu lại để hằng năm lấy củi. Nguyên mình từ lúc lên tìm kiếm chỗ đất đó, chỉ là trải phong-trần đã lắm, muốn chui hình náu bóng chốn rừng xanh cây rậm, để tiện cùng vợ con ăn rưa muối ngô khoai. Lại khổ vì cái sinh-nhai quốc-văn còn tất phải liên-lạc với mấy chỗ nhà in ở Hanoi, thời không thể ở xa được lắm, như các nơi Phú-thọ, Lào-cai. Hiện nay Vĩnh-yên Dốc-láp với Hanoi khứ hồi, mỗi ngày bốn chuyến xe lửa, hai chuyến xe hơi, thật là tiện sự vãng lai vậy. Những cảnh vật ở quanh miếng đất đó, các thứ hoa thiên-sản để vui lòng đẹp mắt, thời có như hoa dẻ hoa mua, mà giầu sang hơn hết là thứ mẫu-đơn núi; các thứ cây thiên-sản để ngồi râm nghỉ mát thời có như cây sòi, cây bứa, như chân-chim, thừng-mực, mà bốn mùa xanh tốt, lại sẵn nhất là châm-trai. Mỗi buổi sáng, mặt giời đông nổi lên trên trái núi, chim rừng kêu bên tai. Mỗi buổi chiều, châu bò các thôn lạc cận tại đàn lũ ăn trên đồi. Mỗi buổi trưa giời nắng, những đàn bà con gái bên phố bên chợ ra tắm dặt phơi phóng ở đầm Láp, như một đàn thủy-điểu cùng nhau ve-vẩy mà nghỉ ngơi. Mỗi buổi sáng, buổi trưa, cùng buổi tối về tháng hè giời nực, mùa chơi Tam-đảo, lại tưởng như lúc ở Saigon năm trước, mà đây thời ếch kêu quành dốc tiếng xe hơi. Mỗi tháng ta ngày chẵn, các xe lao-động đi Hương-canh, Tam-lộng, lộc-cộc lạch-cạch từ ba bốn giờ sáng ở ngoài con đường đá. Mỗi tháng ta ngày lẻ, phiên chợ Vĩnh-yên đó, khoảng tám chín giờ sáng, các dân lao-động gánh củi, gánh lá, gánh nứa, gánh thóc, từ con đường Tam-đảo đi xuống; các xe vận-tải vận tải hàng hóa do con đường Hanoi đi lên chỗ dốc đó, hai bên tấp-nập những người. Thật san lâm mà thành thị! thật hùng hồn, cao nhã, thanh u, sầm tịch mà đông vui. Miếng đất đó, nếu về tay lão-phố như ai, rất không lợi giồng rau giồng quả; song mà thuộc về kẻ văn-nhân thi-sĩ, thời rất là có ích, có giúp cho văn-hứng thi-hoài. Ngày 13 tháng 3 ta năm mậu-thìn, mình lên Vĩnh-Yên đưa tiền gửi chủ-nhân, để nhờ sự làm nhà. Ngày 18 tháng ấy, bắt đầu cuốc đất đắp nền. Ngày 14 tháng 6, đem hai kẻ gia-đồng lên bắc bếp nấu ăn, tức là hôm thứ nhất mới về ở nhà mới, có bài đề vách, văn bằng chữ nho rằng:
Giấc mộng lớn nguyên mới định chép đến bài đề vách đó. Dưới ba chữ nhan quyển, đề là «Ba mươi sáu năm Nguyễn-Khắc-Hiếu» Sau hết quyển. có phụ bài thư rằng:
Gửi người tri-âm.
Chu-Kiều-Oanh có nói rằng: «Con người ta ở đời thường hay lấy ít tri-âm làm giận, mà không biết thực tự mình đã phụ biết bao người tri-âm». Ai tri-âm? tri-âm là ai? Ai tri-âm với ai, thời ai tự biết với ai vậy. Nghĩ như: rau sắng chùa Hương, tấm lòng thơm thảo; phong-thư núi Ngọc, hậu ý ân cần. Bắc nam nam bắc đôi lần, đường bao nhiêu rậm bấy nhiêu phần tình thâm. Ai tri-âm, tri-âm là ai, ai tri-âm với ai, thời ai tự biết với ai vậy.
Tôi nay về nằm chỗ nhà gianh ở Dốc-Láp, cũng chẳng kém «rừng xanh một giải, sớm sương non tối lại giăng ngàn». Bảo rằng thanh cũng thanh, bảo rằng nhàn cũng nhàn, song mà như những khi đêm tàn giăng lặn, sớm phá sương tan, trưa nắng ve ngâm, chiều hôm mây họp, nghĩ nhớ đến ai ai trong bốn bể, nỗi u-sầu khôn dễ tả nên thơ. Lại hằng khi tưởng đến công việc An-nam tạp-chí, lại xem thấy những lời chúc mong của ai trong bức thư in ở đầu tạp-chí số mười. mà cái lo đường xa gánh nặng, sông cái thuyền nan, lại đòi phen như gợi như khêu vậy. Nhớ ngày nào còn đương viết bài chiến tranh tiến-thủ của người An-nam khoảng đầu xuân năm Đinh-mão, thấm-thoát từ ấy đến nay, xuân Đinh-mão đã qua, xuân Mậu-thìn lại tới; xuân Mậu-thìn đã mất, xuân Kỷ-tỵ lại hồ tàn. Gan vàng nung đốt lửa than, đèn xanh tóc bạc luận bàn cùng ai. Phòng văn có lúc thảnh-thơi, viết mấy lời, gửi cùng ai, người tri-âm.
Mùa xuân năm Kỷ-tỵ
Nguyễn - Khắc - Hiếu
Từ khi lên Vĩnh-yên, công việc văn bút không làm được mấy, chỉ là chắm-chúi về sự xửa-sang, ngoài thời bận giao tiếp với dân xã. Hằng khi theo chủ-nhân ra lễ ở đình dân đình xóm, nghi vật nên như sao, nhất-thiết theo lời chủ-nhân bảo. Mặc áo thụng xanh vào lễ thánh, rồi uống rượu với các cụ bàn nhất, người giang hồ mà phong-thú thôn quê. Trong khi đó, mình rất lấy làm vui; chủ-nhân cũng tỏ lòng tương thân, thường có nói muốn kết làm anh em ruột. Về công việc xửa sang thời vôi gạch không có, nhưng mà sân vườn cổng ngõ, rào lũy đường lối, đài núi hồ ao, cũng rất là công phu, các thứ cây cần dùng, như tre, chuối, bưởi, mít. rau, đậu, chanh, ớt; các thứ cây chơi cảnh, như tùng, bách, ngô, trúc, lan, huệ, hồng, sen.. đại-lược đã tiệm đủ. Các thứ cây thiên-sản mà bồi thực cho xanh tốt, thời thứ nhất là châm-trai; bổ thêm cây rừng thời duyên lũy giồng móc. Từ cổng ngoài vào cổng trong, tới sân, đánh con đường đi ô-tô, lượn quanh hồ sen, lẩn dưới gốc cây rừng, hai bên đường viền bằng mẫu-đơn núi. Quanh sân cũng viền mẫu-đơn núi mà hồng, huệ viền theo. Dữa sân dưới, có một cái mô đất thiên-nhiên, sẵn cây rừng mà tùng bách bổ thêm, chở đá bên kia đồi đắp thành núi đá. Ở sân trên, chỗ cao nhất, đắp một cái đài tròn bằng đất, là cái thú đăng cao. Bên cạnh đài, về phía trước, giáp một khu những cây châm-trai đương nhớn, là chỗ để làm mấy gian nhà học, để lấy nơi thanh tĩnh làm văn. Bên cạnh đài, về phía sau, giáp với lũy tre, còn chỗ để đào thêm một cái hồ con, xây vôi cát để giồng sen nuôi ếch. Bao nhiêu cái công phu sang xửa như vậy, chẳng qua muốn được có một chỗ ở tạm tạm như ý, để làm văn làm sách; rồi mới tính đến những công việc in sách, ra tạp-chí; tinh-thần vật-chất, giả nợ xã-hội lấy ít nhiều. Thân thế có hơi thư, rồi mới đem thời nhật tâm tư, liệu theo về công việc triết-học. Cái tâm-sự ở Vĩnh-yên khi đó như thế, mà không ngờ sự dữ tâm vi. Tạo-hóa ghen chi kẻ bất tài, mà đột-nhiên quá nửa đêm hôm 23 tháng 3 ta, mưa bão đổ nhà, vợ con nguy ách. Sau đó rồi chỉ những bôn tẩu y thực không song; lại vẫn mê về sự xửa sang, hơi vay mượn phiền lụy ai được ít tiền ít thóc nào, bớt cái ăn cái mặc của người nhà, để chi dùng về công nhật. Hết tháng ba, qua tháng chín, bao nhiêu cái lo phiền khốn nhục, chỉ nhờ mỗi buổi sáng chơi cùng cây cỏ, giải tán thanh tiêu. Vậy mà không ngờ đâu tạo-hóa vẫn còn quá ghen chi với kẻ bất tài, lại đột-nhiên khoảng hai mươi tháng chín, sau lúc ăn cơm chiều, tiếp chủ-nhân ra chơi, thịnh-nộ đuổi phải đi nơi khác. Nhân-tình thế-cố, thật không còn biết ra làm sao! Đêm hôm ấy nghĩ buồn, họp người nhà tính cuộc đi về ở Hải-phòng, thôi cũng tiện công việc in sách. Sáng hôm sau có quan huyện Tam-dương xuống chơi, mình nhân đem câu truyện định về ở Hải-phòng cùng quan huyện nói truyện. Quan huyện rất là tán thành. Ngài lại nói kỹ về các nhẽ tiện-nghi, như Hải-phòng cũng có nhiều nhà in, cả nhà in ta, nhà in khách; sự thuê nhà cũng tiện hơn Hà-nội, vì nhà dưới với nhà gác riêng hẳn nhau; các thức ăn thời chỉ có gà vịt đắt mà thôi, còn như tôm cá rất rẻ, như cá song thời lại rẻ mà ngon. Trong khi quan Huyện nói truyện, có đủ cả chánh phó tổng, chánh phó hương-hội, lý-trưởng Định-trung và địa-chủ; quan Huyện đứng dạy thời các người cũng cùng ra. Mình tiễn khách ra khỏi cổng, quay về, một vùng cỏ hoa đã gần như không chủ, xanh, vàng, đỏ, trắng, tươi tốt cùng ai. Thu xếp trong ít hôm, sáng ngày 27 tháng chín, ở Vĩnh-yên đứng dạy đi Hải-phòng, truyến xe tối đã về nơi Hải-cảng. Lạ thay! một kẻ bần-nho không có thước đất nào. trước sau đem hơn hai nghìn đồng bạc, vừa ăn tiêu, vừa sang xửa, tô điểm khu đồi ở Định-trung, một khi bỏ đó như không, ở mạn rừng lại chôi về mạn bể. Nhân sinh phù thế, bịt mồm ai, ai dễ nhịn cười chăng? Sự tuy buồn cười mà nghĩ cũng đáng tiếc, tiếc vì cái chỗ ở như Hách-tư-Lê như nay đã không có, thời cái học-nghiệp như Hách-tư-Lê sau này biết có không? «Văn-học kiêm triết-học», có nhẽ thẹn cùng ai trong Giấc-mộng-con: nếu chỉ lấy hai chữ «văn-sĩ» gói cái đời phù-sinh, thời thật đáng thương vậy. Tuy vậy, nhưng nay cũng hãy biết:
Trăm năm cõi tục còn dài,
Con đường vô hạn trên đời còn xa...
— Hết —
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển