Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Giấc mộng Nam Kha

của Truyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 18.372 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Thuần Vu Phần, người đất Đông Bình, là một…
  2. 2:22Chàng đáp:
  3. 4:54Nào ngờ hôm nay lại thành người một nhà…
  4. 5:28Anh Chu bây giờ là người quyền quý, làm…
  5. 7:50Chàng không muốn ra làm quan ư?
  6. 9:36Chàng cùng vợ lạy chào rồi lên đường đi…
  7. 12:46Chàng nói:
  8. 14:22Hai người bạn cho là hồ ly hay yêu…

Thuần Vu Phần, người đất Đông Bình, là một tay du hiệp vùng Ngô Sở. Chàng mê rượu, nóng tính, chẳng câu nệ tiểu tiết, có nhiều của cải, nuôi rất đông khách hào hiệp. Chàng từng nhờ võ nghệ mà được làm phó tướng trong quân Hoài Nam, nhưng vì say rượu làm mếch lòng chủ tướng, bị đuổi đi. Từ đó chàng sống phóng túng, chỉ lấy rượu làm vui.

Nhà chàng ở cách quận Quảng Lăng mười dặm về phía đông. Phía nam ngôi nhà có một cây hoè cổ thụ rất to, cành lá dài và rậm, bóng mát che kín mấy mẫu đất. Ngày ngày chàng cùng đám bạn hào hiệp uống rượu say sưa dưới gốc cây ấy.

Tháng chín năm Trinh Nguyên thứ bảy đời Đường, chàng uống say quá hoá mệt. Bấy giờ có hai người bạn ngồi cùng, đỡ chàng về nhà, cho nằm dưới mái hiên phía đông gian nhà chính. Hai người bạn bảo chàng:

— Anh ngủ đi. Bọn tôi cho ngựa ăn, rửa chân, đợi anh khá hơn rồi mới về.

Chàng cởi khăn, đặt đầu xuống gối, người mê man như đang mơ. Chàng thấy hai sứ giả mặc áo tía quỳ xuống lạy mà nói:

— Vua nước Hoè An sai kẻ hèn này đến truyền lệnh, kính mời ngài.

Chàng bất giác bước xuống giường, sửa lại áo xống, theo hai sứ giả ra tới cổng. Ở đó có cỗ xe nhỏ mui sơn xanh, thắng bốn con ngựa đực, bảy tám người hầu hai bên. Họ đỡ chàng lên xe, ra khỏi cổng lớn, nhắm cái hốc dưới gốc hoè cổ mà đi. Sứ giả cứ thế đánh xe vào trong hốc. Chàng thấy lạ lắm, nhưng không dám hỏi.

Bỗng chàng thấy núi sông, khí trời, cây cỏ, đường sá ở đây khác hẳn cõi người. Đi được vài mươi dặm thì thấy thành quách, lũy tường, xe cộ, người qua lại nườm nượp không dứt. Bọn hầu xe hai bên chàng quát dẹp đường rất nghiêm, người đi đường tranh nhau tránh sang hai bên. Lại vào một thành lớn, cổng son, lầu nhiều tầng, trên lầu có tấm biển chữ vàng đề: Nước Đại Hoè An. Người canh cổng chạy ra vái lạy rối rít. Liền có một người cưỡi ngựa hô lớn:

— Nhà vua vì phò mã từ xa tới, truyền mời tạm nghỉ ở quán Đông Hoa.

Rồi người ấy đi trước dẫn đường.

Chốc lát thấy một cánh cổng mở toang, chàng xuống xe bước vào. Lan can vẽ màu, cột chạm trổ, cây hoa quả quý trồng thành hàng dưới sân. Trên nhà thì bàn ghế, nệm gấm, rèm trướng, mâm cỗ bày biện đầy đủ. Trong lòng chàng khoan khoái lắm. Lại có tiếng hô:

— Quan hữu tướng sắp tới!

Chàng xuống thềm đứng đón. Một người mặc áo tía, cầm hốt ngà bước nhanh tới, hai bên chào hỏi theo đúng lễ chủ khách. Hữu tướng nói:

— Vua tôi không vì nước nhỏ hẻo lánh mà ngại, xin rước quân tử về để kết làm thông gia.

Chàng đáp:

— Kẻ hèn mọn như tôi đâu dám mong điều ấy.

Hữu tướng bèn mời chàng cùng đến chỗ nhà vua. Đi chừng trăm bước, vào một cổng son, giáo mác búa rìu dàn hai bên, mấy trăm quân lính tránh dạt ra vệ đường. Trong đám ấy có Chu Biện, bạn nhậu ngày trước của chàng, cũng đang rảo bước. Chàng mừng thầm, nhưng không dám bước tới hỏi han.

Hữu tướng dẫn chàng lên một toà điện rộng, quân hầu canh gác nghiêm ngặt, như chốn ngự của bậc chí tôn. Chàng thấy một người cao lớn, đoan trang, ngồi ở chính giữa, mặc áo lụa trắng, đội mũ hoa đỏ. Chàng run sợ, không dám ngẩng lên nhìn. Kẻ hầu hai bên bảo chàng lạy. Nhà vua phán:

— Trước đây ta được lệnh tôn có lời, không chê nước nhỏ, bằng lòng cho con gái thứ của ta là Dao Phương được hầu hạ quân tử.

Chàng chỉ biết cúi rạp xuống, không dám thưa câu nào. Nhà vua lại phán:

— Hãy tạm về nhà khách, rồi sẽ sửa soạn lễ nghi.

Có chỉ truyền, hữu tướng cùng chàng trở về quán. Chàng nghĩ ngợi mãi. Cha chàng ngày trước làm tướng ngoài biên, bị giặc bắt, chẳng biết sống chết ra sao. Chàng ngờ rằng cha đã giao hảo với nước phía bắc nên mới có chuyện này, trong lòng rối như tơ vò, không hiểu vì đâu.

Tối hôm ấy, lễ vật nào chim nhạn, con dê, lụa là, nghi trượng oai nghiêm, đàn hát, cỗ bàn, đèn nến, xe ngựa, không thứ gì thiếu. Lại có một đám tiên nữ, người xưng là cô Hoa Dương, người xưng là cô Thanh Khê, người xưng là Thượng Tiên Tử, người xưng là Hạ Tiên Tử, có tới mấy người như thế, mỗi người theo hầu cả nghìn kẻ. Ai nấy đội mũ phượng biếc, khoác áo ráng vàng, trâm hoa vàng ngọc lóng lánh, nhìn không chớp được mắt. Họ dạo chơi đùa giỡn, đi lại trước cửa, tranh nhau trêu chọc chàng Thuần Vu. Dáng điệu yêu kiều, lời lẽ khéo léo, chàng không sao đối đáp nổi.

Lại có một nàng nói với chàng:

— Hôm tết Thượng Tị năm ngoái, em theo phu nhân Linh Chi đi qua chùa Thiền Trí, vào viện Thiên Trúc xem điệu múa Bà La Môn. Em với các chị em ngồi trên sập đá cạnh cửa sổ phía bắc. Lúc ấy chàng còn trẻ, cũng xuống ngựa vào xem. Chỉ có chàng là cố xán lại làm quen, nói năng bông đùa. Em với em Quỳnh Anh buộc chiếc khăn đỏ treo lên cành trúc. Chàng không nhớ ư? Lại ngày mười sáu tháng bảy, em đến chùa Hiếu Cảm gặp Thượng Chân Tử, nghe pháp sư Khế Huyền giảng kinh Quan Âm. Em cúng hai chiếc thoa phượng vàng, Thượng Chân Tử cúng một chiếc hộp sừng tê. Khi ấy chàng cũng ở trong buổi giảng, đến chỗ pháp sư xin xem thoa với hộp, khen ngợi mãi, trầm trồ hồi lâu. Rồi chàng quay sang chúng em mà nói: người với vật này đều không phải của cõi trần. Chàng lại hỏi em họ gì, nhà ở làng nào, em chẳng trả lời. Chàng cứ quyến luyến nhìn theo không rời. Chàng không nhớ đến chuyện ấy sao?

Chàng đáp:

— Giấu kín trong lòng, có ngày nào quên được.

Các nàng nói:

— Nào ngờ hôm nay lại thành người một nhà với chàng.

Lại có ba người, mũ áo rất oai vệ, bước tới vái chàng mà nói:

— Chúng tôi vâng mệnh làm phù rể cho phò mã.

Một trong ba người là chỗ quen biết cũ. Chàng chỉ vào người ấy, hỏi:

— Anh chẳng phải Điền Tử Hoa ở Phùng Dực đó sao?

Điền đáp:

— Chính phải.

Chàng bước tới nắm tay, hàn huyên hồi lâu, rồi hỏi:

— Sao anh lại ở đây?

Tử Hoa đáp:

— Tôi đi ngao du, được quan hữu tướng Vũ Thành hầu họ Đoàn biết đến, nên nương náu ở đây.

Chàng lại hỏi:

— Chu Biện cũng ở đây, anh có biết không?

Tử Hoa đáp:

— Anh Chu bây giờ là người quyền quý, làm chức tư lệ, thế lực lớn lắm. Tôi được anh ấy che chở nhiều lần.

Hai người nói cười vui vẻ. Chợt có tiếng truyền:

— Mời phò mã vào!

Ba người lấy gươm, ngọc bội, mũ áo thay cho chàng. Tử Hoa nói:

— Không ngờ hôm nay được thấy lễ lớn thế này. Thật không bao giờ quên được.

Mấy chục tiên nữ tấu những khúc nhạc lạ, lúc uyển chuyển, lúc trong vắt, điệu nhạc lại não nùng, không phải thứ nhạc cõi người được nghe. Mấy chục người cầm nến đi trước dẫn đường. Hai bên đường là màn che thếp vàng, đính lông chim trả, sắc biếc lung linh, kéo dài mấy dặm không dứt. Chàng ngồi ngay ngắn trong xe mà lòng dạ bâng khuâng, chẳng yên chút nào. Điền Tử Hoa phải mấy lần nói đùa cho chàng khuây. Đám tiên nữ ban nãy, mỗi người ngồi một chiếc kiệu cánh phượng, cũng đi lại giữa đoàn.

Tới một cổng gọi là cung Tu Nghi, các nàng tiên lại xúm xít bên cạnh. Họ bảo chàng xuống xe vái lạy. Lễ nghi chào mời lên xuống, nhất nhất y như ở cõi người. Bức màn được dỡ ra, chiếc quạt che mặt được cất đi, chàng thấy một người con gái, xưng là công chúa Kim Chi, đẹp như thần tiên. Lễ thành hôn cử hành long trọng. Từ đó tình nghĩa vợ chồng mỗi ngày một thắm, sự vẻ vang của chàng mỗi ngày một thịnh. Xe ngựa áo xống lúc ra vào, yến tiệc khách khứa người hầu, chỉ kém có nhà vua.

Nhà vua sai chàng cùng các quan chuẩn bị quân hộ vệ, mở cuộc săn lớn ở núi Linh Quy phía tây kinh đô. Núi đồi cao đẹp, sông đầm rộng xa, rừng cây xanh tốt, chim bay thú chạy thứ gì cũng có. Đoàn người săn được rất nhiều, tới tối mịt mới về.

Một hôm, chàng tâu với vua:

— Hôm kết duyên, đại vương có nói là vâng lời cha thần. Cha thần trước kia giúp việc cho một viên tướng ngoài biên, đánh trận thua, bị giặc bắt, từ đó bặt tin đã mười bảy mười tám năm. Đại vương đã biết cha thần ở đâu, xin cho thần đi một chuyến thăm cha.

Nhà vua vội nói:

— Ông thông gia đang trấn giữ đất bắc, thư từ vẫn qua lại không dứt. Khanh cứ viết thư hỏi thăm, chưa cần phải đi.

Vua bèn sai công chúa sửa soạn lễ vật biếu cha chồng, gửi đi cùng lá thư. Mấy hôm sau có thư trả lời. Chàng xem kỹ, thấy toàn những chuyện cũ của cha, những lời nhớ thương, dạy bảo trong thư, ý tình đằm thắm, đều y như năm nào. Cha lại hỏi thăm họ hàng ai còn ai mất, xóm làng hưng phế thế nào. Rồi cha nói đường sá xa xôi, gió khói cách trở, lời lẽ buồn thương, lại dặn chàng đừng đến thăm. Cha bảo đến năm Đinh Sửu, sẽ được gặp con. Chàng ôm thư nghẹn ngào, không cầm được nước mắt.

Một hôm khác, vợ bảo chàng:

— Chàng không muốn ra làm quan ư?

Chàng đáp:

— Ta vốn phóng đãng, không quen việc chính sự.

Công chúa nói:

— Chàng cứ nhận đi, đã có em giúp sức.

Rồi công chúa vào tâu với vua. Mấy ngày sau, vua bảo chàng:

— Quận Nam Kha của ta chính sự không ra gì, viên thái thú đã bị cách chức. Ta muốn mượn tài của khanh, khanh chịu khó nhận cho, rồi cùng con gái ta lên đường.

Chàng kính cẩn vâng mệnh. Vua bèn sai các quan sửa soạn hành trang cho thái thú, đem vàng ngọc, gấm vóc, hòm xiểng, tôi tớ, xe ngựa bày đầy ngoài phố lớn để tiễn công chúa. Chàng thuở trẻ chỉ là kẻ du hiệp, chưa từng dám mong như thế, nay mừng lắm. Chàng bèn dâng biểu:

— Thần là con nhà tướng, vốn chẳng có tài nghệ gì. Nay liều nhận việc lớn, ắt làm hỏng phép nước. Thần tự thương mình không kham nổi, e gây ra đổ vỡ. Nay thần muốn cầu rộng người hiền để giúp chỗ thần còn kém. Thần thấy quan tư lệ Chu Biện người Dĩnh Xuyên trung thực cương trực, giữ phép không vị nể, có tài phò tá. Xử sĩ Điền Tử Hoa người Phùng Dực cẩn trọng mà biết biến thông, hiểu thấu gốc rễ việc trị dân. Hai người ấy đã quen biết thần mười năm, thần rõ tài năng, có thể giao việc. Xin cho Chu làm tư hiến quận Nam Kha, Điền làm tư nông, để chính sự của thần có tiếng tốt, phép tắc không rối loạn.

Nhà vua đều y theo lời biểu mà cử đi.

Tối hôm ấy, vua và hoàng hậu đặt tiệc tiễn ở phía nam kinh đô. Vua bảo chàng:

— Nam Kha là quận lớn của nước ta, đất đai màu mỡ, người đông của nhiều, không có chính sự nhân hậu thì không trị nổi. Huống chi có hai người họ Chu họ Điền giúp sức, khanh hãy gắng lên, cho phỉ lòng mong mỏi của cả nước.

Hoàng hậu dặn công chúa:

— Chàng Thuần Vu tính nóng, lại thích rượu, thêm còn trẻ tuổi. Đạo làm vợ, quý ở chỗ dịu dàng thuận thảo. Con khéo chiều chồng thì mẹ chẳng lo gì. Nam Kha tuy không xa, nhưng sớm hôm chẳng được gần nhau, hôm nay chia tay, sao mẹ khỏi rơi nước mắt.

Chàng cùng vợ lạy chào rồi lên đường đi về phía nam. Lên xe, ngựa vây quanh, nói cười vui vẻ, đi mấy đêm thì tới quận.

Quan lại, sư sãi, đạo sĩ, các bô lão trong quận, cùng nhạc công, xe cộ, quân hộ vệ, nhạc ngựa leng keng, tranh nhau ra đón. Người chen chúc, chuông trống ầm vang, kéo dài hơn mười dặm. Chàng thấy tường thành, đài quán, khí lành ngùn ngụt. Vào cổng thành lớn, trên cổng cũng có tấm biển lớn chữ vàng đề: Thành quận Nam Kha. Bên trong cửa son, nhà gác, sâu hun hút.

Chàng xuống xe, xem xét phong tục, chữa chạy bệnh tật cho dân, còn chính sự thì giao cho Chu và Điền. Trong quận yên ổn. Chàng giữ quận hai mươi năm, đức hoá lan khắp nơi. Trăm họ làm bài hát ca tụng, dựng bia công đức, lập đền thờ sống chàng. Nhà vua rất trọng chàng, ban cho thực ấp, phong tước vị, cho ngồi hàng tể phụ. Chu và Điền đều nổi tiếng về tài cai trị, lần lượt được thăng chức cao. Chàng có năm con trai, hai con gái. Con trai nhờ dòng dõi mà được làm quan, con gái đều gả vào hoàng tộc. Sự vẻ vang hiển hách một thời, đương thời không ai sánh kịp.

Năm ấy, nước Đàn La kéo quân sang đánh quận Nam Kha. Vua sai chàng luyện tướng, rèn quân để đánh trả. Chàng dâng biểu xin cho Chu Biện cầm ba vạn quân, chặn giặc ở thành Dao Đài. Chu Biện mạnh bạo mà khinh suất, tiến quân liều lĩnh, bị đánh tan. Chu Biện một mình một ngựa, áo giáp cũng mất, lén trốn về thành lúc đêm. Quân giặc cũng thu nhặt khí giới, đồ quân nhu rồi rút về. Chàng bắt giam Chu Biện, rồi tự xin chịu tội. Nhà vua tha cho cả hai.

Ngay tháng ấy, quan tư hiến Chu Biện mọc nhọt ở lưng mà chết. Công chúa vợ chàng cũng lâm bệnh, mười ngày sau thì mất.

Chàng xin thôi chức thái thú, đưa linh cữu vợ về kinh. Vua bằng lòng, cho tư nông Điền Tử Hoa tạm giữ chức thái thú Nam Kha. Chàng đau đớn đưa tang. Dọc đường nghi trượng trang nghiêm, đàn ông đàn bà gào khóc, dân và quan lại bày cỗ cúng tế, níu càng xe chắn đường nhiều không kể xiết.

Về tới kinh đô, vua và hoàng hậu mặc áo trắng ra tận ngoài thành khóc, đợi linh xa đến. Vua đặt thuỵ hiệu cho con gái là công chúa Thuận Nghi, đủ cả nghi trượng, lọng lông chim, trống kèn, chôn ở gò Bàn Long cách kinh đô mười dặm về phía đông. Cũng trong tháng ấy, con trai của quan tư hiến quá cố là Vinh Tín cũng đưa linh cữu cha về kinh.

Chàng trấn giữ phiên ngoài đã lâu, lại kết thân với người trong kinh, các nhà quyền quý, dòng họ lớn đều qua lại thân thiết. Từ khi thôi giữ quận trở về, chàng ra vào không chừng mực, khách khứa bạn bè đông đúc, uy thế mỗi ngày một lớn. Nhà vua đâm ra nghi ngại.

Bấy giờ có người trong nước dâng biểu nói:

— Trên trời hiện điềm xấu. Nước sắp có tai hoạ lớn, kinh đô phải dời đi, tông miếu sụp đổ. Mầm hoạ do người khác họ gây ra, mà chuyện lại ở ngay trong nhà.

Người đương thời bàn rằng đó là ứng vào sự xa hoa vượt phận của chàng. Vua bèn tước quân hầu của chàng, cấm chàng giao du, bắt ở yên trong nhà riêng. Chàng cậy mình giữ quận bao năm, chưa từng có điều gì sai, nay bị lời đồn ác ý, buồn bực không vui. Nhà vua cũng biết thế, bèn bảo chàng:

— Ta với khanh làm thông gia hơn hai mươi năm. Chẳng may con gái nhỏ của ta chết yểu, không được bạc đầu cùng quân tử, ta đau xót vô cùng. Hoàng hậu muốn giữ các cháu lại tự tay nuôi nấng.

Rồi vua lại bảo:

— Khanh xa nhà đã lâu, nên tạm về quê một chuyến thăm họ hàng. Các cháu ở lại đây, khanh chớ bận lòng. Ba năm nữa ta sẽ cho người đón khanh.

Chàng nói:

— Đây là nhà của thần rồi, còn về đâu nữa?

Nhà vua cười:

— Khanh vốn là người cõi trần, nhà đâu phải ở đây.

Chàng bỗng như người ngái ngủ, mơ màng hồi lâu, rồi mới chợt nhớ ra chuyện cũ. Chàng bèn rơi nước mắt xin về. Nhà vua quay sang bảo người hai bên đưa tiễn. Chàng lạy hai lạy rồi đi.

Lại thấy hai sứ giả áo tía ngày trước đi theo. Ra tới ngoài cổng lớn, chàng thấy cỗ xe mình ngồi tồi tàn quá, những người thân tín, người đánh xe, đầy tớ ngày trước, không còn ai cả. Chàng lấy làm lạ, thở dài mãi. Lên xe đi được vài dặm, lại ra khỏi một thành lớn. Đúng là con đường năm xưa chàng đi về phía đông, núi sông đồng nội vẫn y như cũ. Hai sứ giả đưa chàng trông chẳng có chút oai phong nào, chàng càng buồn bã. Chàng hỏi sứ giả:

— Bao giờ thì tới quận Quảng Lăng?

Hai sứ giả cứ hát nghêu ngao như không. Hồi lâu mới đáp:

— Lát nữa là tới.

Chốc lát xe ra khỏi một cái hốc. Chàng thấy ngõ xóm làng mình chẳng khác ngày trước chút nào. Chàng chạnh lòng, nước mắt bất giác trào ra.

Hai sứ giả dẫn chàng xuống xe, vào cổng, bước lên thềm. Chàng thấy chính mình đang nằm dưới mái hiên phía đông gian nhà chính. Chàng kinh hãi, không dám lại gần. Hai sứ giả gọi to họ tên chàng mấy tiếng. Chàng liền tỉnh dậy như cũ.

Chàng thấy đứa đầy tớ đang cầm chổi quét sân, hai người bạn đang rửa chân bên giường. Bóng nắng chiều còn chưa khuất sau bức tường phía tây, chén rượu thừa vẫn còn sóng sánh bên cửa sổ phía đông. Trong giấc mộng thoáng chốc, mà như đã trải qua cả một đời người.

Chàng bồi hồi than thở, gọi hai người bạn lại kể cho nghe. Hai người kinh ngạc, cùng chàng ra ngoài, tìm cái hốc dưới gốc hoè. Chàng chỉ vào mà nói:

— Đây chính là chỗ trong mộng ta kinh ngạc đi vào.

Hai người bạn cho là hồ ly hay yêu cây quấy phá, bèn sai đầy tớ vác rìu, chặt bỏ những u bướu, phạt đi những mầm rễ, tìm theo cái hốc cho tới tận cùng.

Cạnh đó, rộng chừng một trượng, có một cái hốc lớn, giữa đám rễ trống trải sáng sủa, rộng đủ kê một cái giường. Trên mặt có đất đắp lên thành hình thành quách, lâu đài, cung điện. Mấy đấu kiến tụ tập ẩn trong ấy. Ở giữa có một cái đài nhỏ, màu đỏ như son, hai con kiến lớn ở trên, cánh trắng đầu đỏ, dài chừng ba tấc. Vài mươi con kiến lớn đứng hầu hai bên, các con kiến khác không dám lại gần. Đó chính là vua và hoàng hậu, và đó chính là kinh đô nước Hoè An.

Lại lần theo một hốc khác, đi thẳng lên cành phía nam chừng bốn trượng, quanh co vuông vức, cũng có thành đất, lầu nhỏ, một đàn kiến cũng ở trong ấy. Đó chính là quận Nam Kha chàng từng cai trị.

Lại một hốc nữa, cách hai trượng về phía tây, rộng mênh mông mà mục rỗng, lõm lồi hình thù kỳ lạ. Trong ấy có một cái mai rùa đã mục, to bằng cái đấu, nước mưa đọng ngấm lâu ngày, cỏ nhỏ mọc thành bụi, xanh rậm che phủ lên cái mai. Đó chính là núi Linh Quy nơi chàng đi săn.

Lại tìm tới một hốc nữa, cách hơn một trượng về phía đông, rễ cổ thụ uốn khúc như hình rồng rắn. Trong có một ụ đất nhỏ, cao hơn một thước. Đó chính là mộ người vợ chàng chôn ở gò Bàn Long.

Nghĩ lại những chuyện đã qua, chàng xúc động than thở. Lật tìm đến tận cùng dấu vết, cái gì cũng khớp với giấc mộng. Chàng không muốn hai người bạn phá nữa, vội sai lấp lại như cũ.

Đêm ấy mưa gió nổi lên dữ dội. Sáng ra xem cái hốc thì đàn kiến đã biến mất, không biết đi đâu. Lời nói trước kia rằng nước sắp có tai hoạ lớn, kinh đô phải dời đi, nay đã ứng nghiệm.

Chàng lại nghĩ đến chuyện nước Đàn La đem quân đánh, bèn nhờ hai người bạn ra ngoài tìm dấu vết. Cách nhà một dặm về phía đông có một khe cạn đã lâu, bên cạnh có một cây đàn lớn, dây leo quấn chằng chịt, che kín cả mặt trời. Bên gốc có một cái hốc nhỏ, cũng có một đàn kiến tụ tập. Nước Đàn La, há chẳng phải là đây sao? Ôi, sự linh dị của loài kiến còn chưa thể biết hết, huống hồ là những loài lớn ẩn trong núi, nấp trong cây biến hoá ra.

Bấy giờ Chu Biện và Điền Tử Hoa, hai người bạn nhậu của chàng, đều ở huyện Lục Hợp, đã mười ngày không qua lại với chàng. Chàng vội sai đầy tớ chạy đi hỏi thăm. Thì ra Chu Biện mắc bệnh đột ngột, đã chết. Điền Tử Hoa cũng đang ốm nằm liệt giường.

Chàng cảm cái hư ảo của Nam Kha, ngộ ra đời người ngắn ngủi chỉ trong chớp mắt, bèn để lòng vào cửa đạo, dứt bỏ rượu chè, sắc dục. Ba năm sau, đúng năm Đinh Sửu, chàng mất ở nhà, năm ấy bốn mươi bảy tuổi, đúng với lời hẹn trong thư người cha năm nào.

Mùa thu tháng tám năm Trinh Nguyên thứ mười tám, Công Tá tôi đi từ đất Ngô sang Lạc Dương, tạm đậu thuyền ở bến sông Hoài, tình cờ gặp chàng Thuần Vu Phần, hỏi han dấu tích. Hỏi đi hỏi lại nhiều lần, thấy chuyện đều có thật, bèn chép thành truyện, để những người thích chuyện lạ cùng đọc. Tuy chuyện thần, chuyện quái, không hợp sách thánh hiền, nhưng mong răn những kẻ ngồi nhầm địa vị, mưu cầu danh lợi. Người quân tử đời sau, xin hãy coi chuyện Nam Kha như một chuyện tình cờ mà tự răn mình, chớ lấy danh vị mà kiêu ngạo giữa trời đất.

Viên tham quân Hoa Châu cũ là Lý Triệu có lời bàn rằng:

Sang đến tột bậc tước quan,
Quyền nghiêng cả nước, lẫy lừng bốn phương.
Người thông nhìn lẽ tỏ tường,
Khác gì kiến tụ một phường đâu xa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảTruyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)
Xuất bản lần đầu802
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Nam Kha thái thú truyện của Lý Công Tá, truyền kỳ đời Đường (Wikisource chữ Hán)
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →