Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Giây phút chiến thắng

của O. Henry

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 23.218 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ben Gren-giơ là một cựu chiến binh hai mươi…
  2. 3:32Uy-li trắng trẻo, kiểu cách cũng trắng trẻo. Tóc…
  3. 6:23Thế là ai ở miền Nam cũng biết một…
  4. 9:41Anh Xam, tôi thấy cuộc chiến này chơi không…
  5. 13:17Ồ, — anh ta nói, — ai cũng biết…
  6. 16:16Thế là anh ta lao theo vòng hoa danh…
  7. 19:28Được thôi, — tôi nói, — nếu không xa…
  8. 21:02Anh ấy à? — tôi nói. — Anh sao…

Ben Gren-giơ là một cựu chiến binh hai mươi chín tuổi, nghe thế là các vị đoán ra cuộc chiến nào rồi. Anh còn là nhà buôn lớn nhất kiêm trưởng bưu cục của Ca-đít, một thị trấn nhỏ quanh năm lộng gió từ vịnh Mê-hi-cô thổi vào.

Ben đã góp phần đánh bật người Tây Ban Nha khỏi thành luỹ của họ ở quần đảo Ăng-ti, rồi vượt nửa vòng trái đất, làm hạ sĩ hành quân lên xuống những lối đi nhiệt đới nóng bỏng ở quần đảo phương Nam. Giờ đây, lưỡi lê đã được rèn thành con dao thái pho-mát, anh tụ tập đám bạn bè dưới bóng mát mái hiên gỗ đã bị dao khắc khứa nham nhở, thay vì giữa rừng rậm nhiệt đới. Xưa nay anh vẫn quan tâm và ưa chuộng việc làm hơn lời nói. Nhưng ngẫm nghĩ, mổ xẻ động cơ của con người cũng không phải chuyện quá sức anh, như câu chuyện này, câu chuyện của anh, sẽ chứng tỏ.

— Theo anh, — một tối trăng sáng, khi chúng tôi ngồi giữa những thùng hàng và thùng tô-nô của anh, anh hỏi tôi, — thường thì cái gì khiến con người ta lao vào hiểm nguy, vào lửa đạn, gian truân, đói khát, chém giết, và những thứ đại loại thế? Người ta làm thế để làm gì? Sao người ta cố vượt hơn đồng loại, cố can đảm hơn, khoẻ hơn, liều lĩnh hơn, nổi bật hơn cả những người bạn thân nhất của mình? Người ta nhắm tới cái gì? Người ta mong được gì? Chắc chắn đâu phải chỉ để hít thở khí trời với tập thể dục. Anh Bin này, theo anh, nói chung một người bình thường mong được gì khi bỏ công ra theo đuổi tham vọng, xông xáo khác thường ở chợ búa, diễn đàn, trường bắn, giảng đường, chiến trường, sân gôn, đường đua và đấu trường của những chốn văn minh, và cả những chốn ngược lại trên thế giới này?

— Chà, Ben ạ, — tôi nói, nghiêm trang như một ông quan toà, — tôi nghĩ ta có thể yên tâm gói động cơ của người đi tìm danh vọng vào ba thứ. Tham vọng, tức là lòng khao khát được thiên hạ vỗ tay. Lòng tham, tức là nhắm vào mặt vật chất của thành công. Và tình yêu với một người đàn bà mà anh ta đã có hoặc muốn có.

Ben ngẫm nghĩ lời tôi trong khi một con chim nhại trên ngọn cây mét-xơ-kít cạnh hiên hót líu lo cả chục khúc.

— Tôi nghĩ, — anh nói, — chẩn đoán của anh cũng tạm bao quát được vụ việc theo đúng những quy tắc ghi trong sách tập viết với sách đọc lịch sử. Nhưng cái tôi đang nghĩ trong đầu là trường hợp của Uy-li Róp-bin, một người tôi từng quen. Trước khi đóng cửa hàng, tôi sẽ kể anh nghe về anh ta, nếu anh không ngại nghe.

Uy-li là người cùng giới ăn chơi với chúng tôi trên Xan Ô-gu-xtin. Hồi ấy tôi làm thư ký cho hãng Brây-đi và Mớc-chi-xơn, bán buôn vải vóc và đồ dùng cho các trại. Uy-li với tôi cùng ở một câu lạc bộ khiêu vũ, một hội thể thao, một đại đội dân quân. Anh ta chơi kẻng tam giác trong cái nhóm hát dạo tứ ca của chúng tôi, mỗi tuần ba đêm làm vang rền trời đất ở đâu đó trong thị trấn.

Uy-li hợp với cái tên của anh ta lắm, cái tên nghe mềm oặt như cọng liễu. Mặc bộ đồ mùa hè vào thì anh ta nặng chừng năm chục cân thịt bê. Mặt anh ta lúc nào cũng mang cái vẻ ngơ ngác như con cừu non lạc mẹ, rõ tới mức anh gần như thấy lông cừu đang mọc trên người anh ta.

Thế mà lấy dây thép gai rào cũng không ngăn được anh ta xa các cô gái. Anh biết cái kiểu thanh niên ấy rồi đấy, nửa dại nửa thánh, vừa lao vào vừa sợ không dám bước, nhưng có dịp là chẳng bao giờ bỏ qua mà không bước. Hễ có "sự kiện vui vẻ" như báo buổi sáng vẫn viết là anh ta có mặt, trông sung sướng như người cầm bộ bài toàn già với vua, mà đồng thời lại khổ sở như con hàu sống bị dọn ăn kèm dưa chua ngọt. Anh ta nhảy như bị buộc chân sau. Vốn từ của anh ta chừng ba trăm năm mươi chữ, anh ta kéo căng nó ra cho đủ bốn buổi khiêu vũ một tuần, rồi xài lại để qua được hai bữa tiệc kem và một buổi tối Chủ nhật đi thăm bạn gái. Tôi thấy anh ta như một thứ pha trộn giữa con mèo con, cây xấu hổ, và một diễn viên của gánh hát rong bị bỏ rơi giữa đường.

Để tôi phác qua cho anh hình dáng của anh ta, rồi tôi sẽ thúc ngựa cho câu chuyện phi nhanh.

Uy-li trắng trẻo, kiểu cách cũng trắng trẻo. Tóc anh ta màu trắng sữa óng ánh, câu chuyện của anh ta thì rời rạc. Mắt anh ta xanh đúng màu mắt con chó sứ ở góc bên phải bệ lò sưởi nhà bà dì của anh. Chuyện gì tới thì anh ta cứ nhận, tôi chẳng bao giờ thấy ghét anh ta. Tôi để cho anh ta sống, những người khác cũng thế.

Nhưng cái anh chàng Uy-li ấy lại đi dỗ trái tim mình ra khỏi đôi ủng, để nó lạc mất vào tay Mai-ra A-li-xơn, cô gái sôi nổi nhất, sáng sủa nhất, sắc sảo nhất, thông minh nhất và xinh đẹp nhất ở Xan Ô-gu-xtin. Tôi nói anh nghe, cô ấy có đôi mắt đen nhất, những lọn tóc óng nhất, và cái... Ồ không, anh đoán sai rồi, tôi chẳng phải nạn nhân. Có lẽ tôi đã có thể thành nạn nhân, nhưng tôi khôn hơn thế. Tôi đứng ngoài. Ngay từ đầu Giô Gren-be-ri đã là người được chọn. Anh ta bỏ xa mọi người khác cả mấy dặm đường. Dù sao thì Mai-ra cũng như một bộ lông cừu thượng hạng mùa thu đã được đóng bao, chất lên xe bốn ngựa chở đi bán rồi.

Một tối, có buổi tiệc kem ở nhà bà đại tá Xpra-ghin ở Xan Ô-gu-xtin. Bọn con trai chúng tôi được mở cho một căn phòng lớn trên gác để cất mũ với đồ đạc, chải đầu, thay cổ áo sạch mang theo nhét trong vành mũ. Tóm lại là một phòng để chỉnh trang, như ở những cuộc vui sang trọng đâu đâu cũng có. Xa hơn một chút dọc hành lang là phòng của các cô gái, nơi họ đánh phấn, vân vân. Dưới nhà, chúng tôi, tức là Câu lạc bộ Khiêu vũ và Vui chơi Xan Ô-gu-xtin, cho trải một tấm thảm trong phòng khách, nơi buổi khiêu vũ đang diễn ra.

Tình cờ Uy-li Róp-bin với tôi đang ở trên phòng gửi áo, hình như chúng tôi gọi nó thế, thì Mai-ra A-li-xơn nhảy chân sáo qua hành lang, từ phòng các cô gái đi xuống. Uy-li đang đứng trước gương, mải miết vuốt cho mượt cái thảm cỏ vàng hoe trên đầu, có vẻ nó làm anh ta khổ sở lắm. Mai-ra lúc nào cũng tràn đầy sức sống và tinh nghịch. Cô dừng lại, thò đầu vào cửa phòng chúng tôi. Cô xinh thật. Nhưng tôi biết Giô Gren-be-ri đứng ở đâu trong lòng cô. Uy-li cũng biết, nhưng anh ta cứ be be chạy theo cô. Anh ta có một lối kiên trì chẳng hợp chút nào với mái tóc nhạt màu và đôi mắt nhạt màu.

— Chào anh Uy-li! — Mai-ra nói. — Anh đang làm gì trước gương thế?

— Anh đang cố làm ra vẻ bảnh, — Uy-li nói.

— Ồ, anh thì chẳng bao giờ bảnh nổi đâu, — Mai-ra nói, kèm theo tiếng cười đặc biệt của cô. Đó là thứ âm thanh trêu ngươi nhất tôi từng nghe, chỉ trừ tiếng bi-đông rỗng va lạch cạch vào núm yên ngựa.

Mai-ra đi rồi, tôi quay nhìn Uy-li. Mặt anh ta trắng bệch như hoa huệ, như thể câu nói của cô, có thể nói thế, đã làm tan nát tâm hồn anh ta. Tôi chẳng thấy câu cô nói có gì đặc biệt phá hoại lòng tự trọng của một người đàn ông. Nhưng anh ta bị đánh gục tới mức anh khó mà tưởng tượng nổi.

Khi chúng tôi đeo cổ áo sạch đi xuống nhà, suốt tối hôm ấy Uy-li không lại gần Mai-ra nữa. Xét cho cùng, anh ta có vẻ là loại người nhạt thếch như sữa đã gạn kem, nên tôi chẳng lấy làm lạ khi Giô Gren-be-ri hất cẳng anh ta.

Hôm sau, chiến hạm Men bị nổ tung, rồi chẳng bao lâu sau có ai đó, tôi đoán là mấy ông nghị, hay có khi là chính phủ, tuyên chiến với Tây Ban Nha.

Thế là ai ở miền Nam cũng biết một mình miền Bắc thì không đánh nổi cả một nước to như Tây Ban Nha. Nên dân miền Bắc bắt đầu kêu cứu, và dân miền Nam đáp lời. Những đường ranh giới cũ giữa hai miền từ thời nội chiến phai mờ đi hết. Chúng tôi trở thành một đất nước không chia cắt, chẳng có miền Bắc, rất ít miền Đông, một mảng miền Tây kha khá, và một miền Nam to sừng sững.

Dĩ nhiên bầy chó săn chiến tranh sẽ không đủ bộ nếu thiếu tiếng sủa của Đội Súng trường Xan Ô-gu-xtin, đại đội Đê, trung đoàn Mười Bốn bang Tếch-dát. Đại đội chúng tôi thuộc số những đơn vị đầu tiên đổ bộ lên Cu-ba, gieo kinh hoàng vào lòng quân thù. Tôi sẽ không kể anh nghe lịch sử cuộc chiến. Tôi chỉ lôi nó vào để kể cho trọn câu chuyện về Uy-li Róp-bin thôi.

Nếu có ai từng mắc chứng cuồng anh hùng thì đó chính là Uy-li Róp-bin. Từ lúc đặt chân lên đất của bọn bạo chúa, anh ta nuốt hiểm nguy như mèo liếm kem. Anh ta làm tất cả mọi người trong đại đội sửng sốt, từ đại uý trở lên. Anh cứ tưởng anh ta sẽ tự nhiên được đẩy sang làm lính hầu cho ông đại tá, hay đánh máy ở kho quân nhu. Không đâu. Anh ta tự tạo ra vai cậu bé anh hùng tóc vàng hoe, sống sót trở về với chiến công trong tay, chứ không phải chết dưới chân ông đại tá với một bức điện quan trọng trong tay.

Đại đội chúng tôi lọt vào một vùng của Cu-ba nơi diễn ra một trong những phần lộn xộn nhất, ít được ca ngợi nhất của chiến dịch. Ngày nào chúng tôi cũng ra ngoài, nhảy nhót trong bụi rậm, đánh những trận lẻ tẻ với lính Tây Ban Nha, trông chẳng khác gì mấy mối thù truyền kiếp đã mỏi mệt. Với chúng tôi cuộc chiến là trò đùa, với họ thì chẳng có gì đáng quan tâm. Chúng tôi chẳng thấy nó là gì khác hơn một vở hài kịch om sòm, trong đó Đội Súng trường Xan Ô-gu-xtin đánh nhau thật để bảo vệ lá cờ sao sọc. Còn mấy ông lính Tây Ban Nha bé nhỏ thì lương chẳng đủ để họ bận tâm mình là ái quốc hay phản quốc. Thỉnh thoảng có người bị giết. Tôi thấy đó là phí mạng người. Có lần tới New York, tôi ra khu vui chơi Cô-ni Ai-lơn, một cái máy trượt dốc mà người ta gọi là tàu lượn văng khỏi đường ray, giết chết một người mặc bộ com-lê nâu. Mỗi lần người Tây Ban Nha bắn chết một người của chúng tôi, tôi thấy nó cũng vô ích và đáng tiếc y như thế.

Nhưng tôi đang để Uy-li Róp-bin rơi khỏi câu chuyện.

Anh ta đi tìm máu đổ, vòng nguyệt quế, tham vọng, huân chương, bằng khen, và mọi hình thức vinh quang quân sự khác. Mà anh ta có vẻ chẳng sợ bất cứ mối nguy quân sự nào đã được công nhận, như lính Tây Ban Nha, đạn đại bác, thịt hộp, thuốc súng hay chuyện cánh hẩu. Anh ta xông ra với mái tóc nhợt nhạt và đôi mắt xanh màu sứ, ăn tươi nuốt sống lính Tây Ban Nha như anh ăn cá mòi đóng hộp. Chiến tranh với tin đồn chiến tranh chẳng bao giờ làm anh ta bối rối. Anh ta chịu đựng phiên gác, muỗi, bánh quy khô, mời rượu và lửa đạn, tất cả đều với một vẻ bình thản hoàn hảo như nhau.

Tôi nhớ có lần, một toán lính Tây Ban Nha nhỏ thong thả bước ra từ sau một ruộng mía, bắn chết Bốp Tớc-nơ, thượng sĩ của đại đội chúng tôi, trong lúc chúng tôi đang ăn trưa. Đúng theo điều lệnh quân đội, chúng tôi làm đủ các động tác thông thường: xếp hàng, chào quân thù, nạp đạn, quỳ xuống bắn.

Đó đâu phải lối đánh nhau của dân Tếch-dát. Nhưng là một bộ phận phụ thêm rất quan trọng của quân đội chính quy, Đội Súng trường Xan Ô-gu-xtin phải tuân theo cái lối báo thù rườm rà giấy tờ ấy.

Tới lúc chúng tôi lôi được cuốn sách điều lệnh ra, giở tới trang năm mươi bảy, đếm "một, hai, ba, một, hai, ba" vài lượt, nhét được đạn mã tử vào súng, thì toán lính Tây Ban Nha đã mỉm cười mấy lượt, cuốn thuốc châm hút từng tốp, rồi khinh khỉnh bỏ đi.

Tôi đi thẳng tới chỗ đại uý Phlôi, bảo ông:

— Anh Xam, tôi thấy cuộc chiến này chơi không sòng phẳng. Anh biết cũng như tôi, Bốp Tớc-nơ là một trong những người tử tế nhất từng ngồi trên lưng ngựa, thế mà giờ mấy ông giật dây ở Oa-sinh-tơn đã cho cậu ấy đi đứt. Cậu ấy chết rồi. Thế là không công bằng. Sao họ cứ kéo dài cái trò này mãi? Nếu họ muốn Tây Ban Nha thua, sao không thả Đội Súng trường Xan Ô-gu-xtin, đội kỵ binh của Giô Xi-li với một toa đầy phó cảnh sát miền Tây Tếch-dát vào đám lính Tây Ban Nha này, để chúng tôi xoá sổ họ khỏi mặt đất? Tôi xưa nay, — tôi nói, — chẳng ưa gì kiểu đánh nhau theo luật quý tộc. Nếu còn ai tôi quen biết bị thương trong cuộc chiến này, tôi sẽ nộp đơn xin thôi về nhà. Nếu anh kiếm được người thay tôi, anh Xam, — tôi nói, — đầu tuần sau tôi nghỉ. Tôi không muốn làm việc trong một quân đội không cho người làm của mình một cơ hội. Tiền lương thì khỏi, — tôi nói, — cứ để ông Bộ trưởng Ngân khố giữ.

— Này Ben, — ông đại uý bảo tôi, — những lời buộc tội và đánh giá của cậu về chiến thuật, chính quyền, lòng yêu nước, phiên gác và nền dân chủ đều đúng cả. Nhưng có lẽ tôi đã xem xét hệ thống trọng tài quốc tế và đạo lý của việc chém giết chính đáng kỹ hơn cậu một chút. Nếu muốn, đầu tuần sau cậu cứ nộp đơn. Nhưng nếu cậu nộp, — Xam nói, — tôi sẽ ra lệnh cho một tổ lính dẫn cậu ra chỗ vách đá vôi bên suối kia, bắn vào người cậu đủ chì để làm đồ dằn cho cả một con tàu. Tôi là đại uý của đại đội này, tôi đã thề trung thành với Hợp chủng quốc bất kể khác biệt Nam Bắc, ly khai hay nghị viện. Cậu có thuốc lá hút không? — Xam kết thúc. — Thuốc của tôi ướt hết lúc sáng nay bơi qua suối rồi.

Sở dĩ tôi lôi tất cả những chuyện này vào là vì lúc ấy Uy-li Róp-bin đang đứng đó nghe. Hồi ấy tôi là trung sĩ, còn anh ta là binh nhì, nhưng giữa đám dân Tếch-dát với dân miền Tây chúng tôi chẳng bao giờ có nhiều phép tắc với tôn ti trật tự như trong quân đội chính quy. Chúng tôi chẳng bao giờ gọi đại uý của mình là gì khác ngoài "anh Xam", trừ khi có nhiều ông thiếu tướng với đô đốc ở quanh, để giữ kỷ luật.

Rồi Uy-li Róp-bin bảo tôi, bằng một giọng sắc lẻm chẳng hợp chút nào với mái tóc nhạt màu và quá khứ của anh ta:

— Anh đáng bị bắn, Ben ạ, vì đã nói ra những ý nghĩ như thế. Kẻ nào không chịu chiến đấu vì tổ quốc thì còn tệ hơn đứa ăn trộm ngựa. Nếu tôi là đại uý, tôi sẽ nhốt anh vào phòng giam ba mươi ngày. Chiến tranh, — Uy-li nói, — là vĩ đại và vinh quang. Tôi không ngờ anh là kẻ hèn nhát.

— Tôi không hèn, — tôi nói. — Nếu hèn thì tôi đã đấm cho vầng trán trắng như cẩm thạch của anh bớt nhợt nhạt đi rồi. Tôi nương tay với anh, — tôi nói, — cũng như nương tay với đám lính Tây Ban Nha, vì anh lúc nào cũng làm tôi nhớ tới một món ăn kèm nấm. Này, cô tiểu thư liễu yếu đào tơ, — tôi nói, — anh trưởng ban khiêu vũ chưa chín tới, anh mẫu thời trang bằng kính với dáng người đúc khuôn, anh chú lính bằng gỗ thông trắng làm ở xứ nào đó để bán dịp Tết, anh có biết anh đang nói với ai không? Chúng ta từng ở cùng một giới, — tôi nói, — và tôi chịu đựng anh vì anh có vẻ hiền lành và chẳng tự mãn gì. Tôi không hiểu sao tự dưng anh lại quan tâm tới tinh thần hiệp sĩ với chuyện giết chóc thế. Bản chất anh đã thay đổi hoàn toàn. Chuyện là thế nào?

— Chà, anh không hiểu đâu, Ben ạ, — Uy-li nói, nở một nụ cười thanh nhã, rồi quay đi.

— Quay lại đây! — tôi nói, túm lấy vạt áo ka-ki của anh ta. — Anh làm tôi hơi điên đấy, mặc dù xưa nay tôi vẫn giữ khoảng cách với anh. Anh đang tìm cách thành công trong cái trò anh hùng này, và tôi tin tôi biết vì sao. Anh làm thế hoặc vì anh điên, hoặc vì anh mong nhờ đó mà chinh phục được cô nào đấy. Nếu là vì một cô gái, thì tôi có cái này cho anh xem.

Lẽ ra tôi chẳng làm thế, nhưng tôi điên tiết quá. Tôi rút trong túi quần sau ra một tờ báo Xan Ô-gu-xtin, chỉ cho anh ta một mẩu tin. Đó là nửa cột báo đưa tin đám cưới của Mai-ra A-li-xơn và Giô Gren-be-ri.

Uy-li cười, và tôi thấy tôi chẳng chạm được tới anh ta.

— Ồ, — anh ta nói, — ai cũng biết chuyện ấy sẽ xảy ra mà. Tôi nghe tin ấy từ một tuần trước rồi.

Rồi anh ta lại cười vào mặt tôi.

— Được thôi, — tôi nói. — Thế thì sao anh lại liều mạng đuổi theo cầu vồng rực rỡ của danh vọng? Anh mong được bầu làm Tổng thống, hay anh là hội viên câu lạc bộ tự tử?

Tới đó thì đại uý Xam can thiệp.

— Hai quý ông thôi cãi nhau đi, về chỗ của mình, — ông nói, — không thì tôi cho người áp giải vào phòng giam. Nào, biến, cả hai! Trước khi đi, đứa nào có thuốc lá nhai?

— Bọn tôi đi đây, anh Xam, — tôi nói. — Dù sao cũng tới giờ ăn tối rồi. Nhưng anh nghĩ sao về chuyện bọn tôi vừa nói? Tôi để ý thấy anh cũng quăng khá nhiều móc câu vào cái quả khí cầu gọi là danh vọng này. Tham vọng rốt cuộc là cái gì? Người ta liều mạng ngày này qua ngày khác để làm gì? Anh có biết cuối cùng người ta được cái gì để bù cho chừng ấy khổ sở không? Tôi muốn về nhà, — tôi nói. — Tôi chẳng cần biết Cu-ba chìm hay nổi, cũng chẳng cần biết ai cai trị mấy hòn đảo thần tiên này. Tôi chẳng muốn tên mình có trong danh sách nào ngoài danh sách những người sống sót. Nhưng tôi để ý thấy anh, anh Xam, — tôi nói, — đã nhiều lần đi tìm cái bong bóng danh tiếng ngay trong cổ họng đại bác. Anh làm thế để làm gì? Vì tham vọng, vì làm ăn, hay vì một cô nàng tàn nhang nào ở nhà mà anh đóng vai anh hùng?

— Này Ben, — Xam nói, nhấc thanh gươm từ giữa hai đầu gối lên, — với tư cách là sĩ quan cấp trên, tôi có thể đưa cậu ra toà án binh vì tội định hèn nhát và đào ngũ. Nhưng tôi sẽ không làm thế. Và tôi sẽ nói cho cậu biết vì sao tôi cố giành thăng cấp với những vinh dự thường thấy của chiến tranh và chinh phục. Thiếu tá được lương cao hơn đại uý, mà tôi thì cần tiền.

— Anh nói đúng! — tôi nói. — Cái đó thì tôi hiểu. Lối tìm danh vọng của anh bén rễ vào tầng đất sâu nhất của lòng yêu nước. Nhưng tôi không hiểu nổi, — tôi nói, — tại sao Uy-li Róp-bin, nhà ở quê khá giả, xưa nay vẫn hiền lành, chẳng thích ai để ý như con mèo vừa ăn vụng kem còn dính trên ria, lại bỗng dưng hoá thành một chiến binh dũng mãnh với những thiên hướng hung hăng nhất. Mà trong trường hợp của anh ta thì cô gái coi như đã bị loại, vì đã lấy người khác. Tôi đoán, — tôi nói, — đây rõ là trường hợp tham vọng thông thường. Có lẽ anh ta muốn tên mình vang dội mãi theo dòng thời gian. Chắc là thế.

Thôi, khỏi kể từng chiến công, Uy-li đúng là đã thành anh hùng thật. Anh ta dành gần hết thời gian quỳ gối van xin đại uý cử mình đi làm những nhiệm vụ cảm tử, những chuyến trinh sát nguy hiểm. Trận nào anh ta cũng là người đầu tiên lao vào đánh giáp lá cà với quân Tây Ban Nha. Anh ta bị ba bốn viên đạn cắm vào những chỗ khác nhau trên người. Có lần anh ta dẫn theo tám người đi, bắt sống cả một đại đội Tây Ban Nha. Anh ta làm đại uý Phlôi bận rộn viết thư đề nghị khen thưởng lòng dũng cảm của anh ta gửi lên bộ chỉ huy. Anh ta bắt đầu gom huân chương đủ loại: anh dũng, bắn giỏi, can trường, chiến thuật, kỷ luật, và mọi thứ tài vặt mà mấy ông thứ trưởng thứ ba của Bộ Chiến tranh coi là đẹp mắt.

Cuối cùng đại uý Phlôi được thăng làm thiếu tướng, hay đại loại cái gì đấy. Ông cưỡi một con ngựa trắng đi lộp cộp khắp nơi, trên người lấp lánh kim tuyến với lông gà, và theo điều lệnh thì không được nói chuyện với chúng tôi nữa. Còn Uy-li Róp-bin được phong làm đại uý của đại đội chúng tôi.

Thế là anh ta lao theo vòng hoa danh vọng ghê gớm hơn nữa! Theo như tôi thấy thì chính anh ta đã kết thúc cuộc chiến. Anh ta làm mười tám người trong bọn tôi, toàn bạn bè anh ta cả, bỏ mạng trong những trận đánh do chính anh ta gây ra, mà tôi thấy chẳng cần thiết chút nào. Một đêm anh ta dẫn mười hai người chúng tôi lội qua một con suối nhỏ rộng chừng trăm tám chục mét, trèo qua hai ngọn núi, len lỏi qua một dặm bụi rậm hoang và hai cái mỏ đá, vào một ngôi làng mái rạ, bắt sống một viên tướng Tây Ban Nha. Tôi thấy ông tướng ấy chẳng đáng công đến thế, một người chân đất, áo chẳng có cổ tay, chỉ mong được đầu hàng để vào ăn ở kho lương của quân thù.

Nhưng vụ ấy đẩy Uy-li lên đúng tầm cao anh ta muốn. Báo Tin tức Xan Ô-gu-xtin cùng báo chí ở Gan-vơ-xtơn, Xanh Lu-i, New York, Can-dát Xi-ti đều in ảnh anh ta với hàng cột bài về anh ta. Cả thị trấn Xan Ô-gu-xtin phát cuồng vì "người con anh dũng" của mình. Báo Tin tức có một bài xã luận, nước mắt lưng tròng van nài chính phủ rút quân đội chính quy với vệ binh quốc gia về, để một mình Uy-li đánh nốt phần còn lại của cuộc chiến. Bài báo bảo nếu từ chối thì sẽ bị coi là bằng chứng cho thấy miền Bắc vẫn ghen tị với miền Nam dữ dội như xưa.

Nếu chiến tranh không sớm kết thúc thì tôi chẳng biết Uy-li sẽ leo tới tầm cao nào của kim tuyến và lời ca tụng. Nhưng nó kết thúc. Chiến sự ngừng lại chỉ ba ngày sau khi anh ta được phong đại tá, nhận thêm ba tấm huân chương qua đường thư bảo đảm, và bắn hai lính Tây Ban Nha đang uống nước chanh trong ổ phục kích.

Hết chiến tranh, đại đội chúng tôi trở về Xan Ô-gu-xtin. Chẳng còn chỗ nào khác mà về. Mà anh có biết không? Cả thị trấn báo cho chúng tôi bằng báo in, bằng điện tín, bằng thư hoả tốc, và bằng một người cưỡi con la xám phi tới Xan An-tô-ni-ô, rằng họ sẽ mở cho chúng tôi một bữa tiệc lớn nhất, đãi đằng, ăn uống, linh đình nhất, từng làm kinh động lũ chim choi choi trên những bãi cát ngoài thị trấn.

Tôi nói "chúng tôi", nhưng tất cả là dành cho cựu binh nhì, đại uý trên thực tế, đại tá sắp nhậm chức Uy-li Róp-bin. Cả thị trấn phát cuồng vì anh ta. Họ báo rằng cuộc đón tiếp họ sắp tổ chức sẽ khiến lễ hội hoá trang ở Niu Óc-li-ân trông chẳng khác gì một buổi trà chiều ở một làng quê buồn tẻ.

Thế là Đội Súng trường Xan Ô-gu-xtin về tới nhà đúng giờ. Ai cũng có mặt ở ga, gào lên những tiếng hò reo kiểu miền Nam. Có hai ban kèn đồng, có ông thị trưởng, có nữ sinh áo trắng ném hoa hồng dại xuống đường làm mấy con ngựa kéo tàu điện hoảng sợ, và... chà, có lẽ anh đã thấy một thị trấn trong đất liền, xa biển, ăn mừng thế nào rồi.

Họ muốn ngài đại tá Uy-li lên một cỗ xe để những công dân danh giá và mấy ông nghị viên thành phố kéo tới kho vũ khí. Nhưng anh ta bám lấy đại đội của mình, đi đầu hàng quân dọc đại lộ Xam Hiu-xtơn. Nhà cửa hai bên phủ kín cờ và người xem, ai cũng gào "Róp-bin!" hay "Chào Uy-li!" khi chúng tôi đi qua thành hàng bốn. Cả đời tôi chưa thấy con người nào trông lẫy lừng hơn Uy-li lúc ấy. Trên ngực áo ka-ki của anh ta có ít nhất bảy tám tấm huân chương, bằng khen và huy hiệu. Da anh ta cháy nắng màu yên ngựa, và anh ta thật sự đã làm cho mình rạng rỡ.

Ở ga người ta bảo chúng tôi bảy giờ rưỡi toà án sẽ thắp đèn sáng trưng, rồi sẽ có diễn văn và tiệc ở khách sạn Hoàng Cung. Cô Đen-phin Tôm-xơn sẽ đọc một bài thơ, và ông cảnh sát Húc-cơ đã hứa sẽ bắn chín phát súng chào mừng.

Giải tán ở kho vũ khí xong, Uy-li bảo tôi:

— Đi dạo một đoạn với tôi không?

— Được thôi, — tôi nói, — nếu không xa tới mức chẳng nghe thấy tiếng ồn ào reo hò lắng xuống. Tôi đói rồi, — tôi nói, — và đang thèm ăn cơm nhà, nhưng tôi sẽ đi với anh.

Uy-li dẫn tôi qua mấy con phố nhỏ cho tới một ngôi nhà nhỏ sơn trắng trên một mảnh đất mới, có bãi cỏ chừng sáu mét nhân chín mét bày đầy gạch vỡ với ván thùng cũ.

— Đứng lại, đọc mật khẩu, — tôi nói với Uy-li. — Anh không biết cái hầm này à? Đây là cái tổ chim Giô Gren-be-ri dựng trước khi cưới Mai-ra A-li-xơn đấy. Anh tới đây làm gì?

Nhưng Uy-li đã mở cổng. Anh ta đi theo lối gạch tới bậc thềm, tôi đi theo. Mai-ra đang ngồi khâu vá trên chiếc ghế xích đu ngoài hiên. Tóc cô vuốt ra sau vội vàng, búi thành một búi. Tới lúc ấy tôi mới để ý thấy cô có tàn nhang. Giô thì ở một bên hiên, mặc sơ mi, không cổ cồn, râu ria chẳng cạo, đang cố bới một cái hố giữa đống gạch vỡ với vỏ hộp để trồng một cây ăn quả nhỏ. Anh ta ngước lên nhưng chẳng nói một lời, Mai-ra cũng thế.

Uy-li trông bảnh bao thật trong bộ quân phục, huân chương treo đầy ngực, thanh gươm mới chuôi mạ vàng. Chẳng ai còn nhận ra anh ta là cái cậu tóc trắng nhỏ thó mà các cô gái ngày trước vẫn sai bảo và trêu chọc. Anh ta chỉ đứng đó một phút, nhìn Mai-ra với một nụ cười nhỏ kỳ lạ trên môi. Rồi anh ta nói với cô, chậm rãi, như dùng răng giữ chặt từng chữ:

— Ồ, chưa biết được đâu! Có khi cố thì tôi cũng bảnh nổi đấy!

Chỉ có thế thôi. Uy-li nhấc mũ chào, rồi chúng tôi bỏ đi.

Và chẳng hiểu sao, khi anh ta nói câu ấy, tôi bỗng nhớ lại cái đêm khiêu vũ hôm nào, Uy-li đứng chải tóc trước gương, Mai-ra thò đầu vào cửa trêu anh ta.

Khi chúng tôi về tới đại lộ Xam Hiu-xtơn, Uy-li nói:

— Thôi, chào anh, Ben. Tôi về nhà cởi giày nghỉ ngơi đây.

— Anh ấy à? — tôi nói. — Anh sao thế? Chẳng phải cả thị trấn đang chen chúc ở toà án chờ vinh danh người anh hùng sao? Còn hai ban kèn đồng, ngâm thơ, cờ quạt, rượu chè, tiệc tùng đang chờ anh đấy?

Uy-li thở dài.

— Ừ nhỉ, Ben, — anh ta nói. — Khỉ thật, tôi quên béng mất chuyện ấy.

— Vì thế tôi mới bảo, — Ben Gren-giơ kết luận, — rằng anh không thể biết tham vọng bắt đầu từ đâu, cũng như không thể biết nó sẽ kết thúc ở đâu.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Moment of Victory, O. Henry, in trong tuyển tập Options
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →