Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Gim Đô-ti sáng mắt

của O. Henry

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.325 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Gim Đô-ti Bự là dân chơi. Anh thuộc giống…
  2. 2:09Đêm nào anh Đô-ti cũng về ngôi nhà ấy,…
  3. 3:17Gim, — chị nói, giọng chắc nịch, — em…
  4. 4:07Gim Đô-ti Bự bối rối. Bên cạnh anh là…
  5. 5:50Nhà hàng Hu-gli rộn ràng. Đèn điện sáng choang,…
  6. 6:55Nhưng khi ngài Pát-rích Co-ri-gân, thủ lĩnh khu vực…
  7. 7:44Thế rồi Gim Đô-ti Bự, vốn chẳng phải người…
  8. 8:56Gim Bự đi bộ về nhà cùng vợ. Chị…

Gim Đô-ti Bự là dân chơi. Anh thuộc giống người ấy. Ở Man-hát-tan, đó là một giống người riêng biệt. Họ là những bộ lạc thiện chiến của phương Bắc, khoẻ mạnh, láu lỉnh, tự lo lấy thân, gắn bó với phe cánh, giữ chữ tín theo luật lệ của giống mình, và khinh khỉnh mà bao dung với các bộ lạc láng giềng chịu cúi đầu trước cái thước dây đo lường của Xã hội. Dĩ nhiên, tôi đang nói về hàng quý tộc có tước hiệu trong giới ăn chơi. Có một hạng người khác bị gọi bằng cái tên lấy từ một cây kèn sắt tây rẻ tiền: dân chơi kèn thiếc, tức là dân chơi hạng bét. Nhưng mọi mỏ thiếc trên đời cũng không đủ chất liệu để đúc ra cái tên ấy cho Gim Đô-ti Bự.

Chỗ ở của dân chơi là sảnh hoặc góc phố bên ngoài một số khách sạn, nhà hàng kiêm quán cà phê. Phần đông họ là đàn ông đủ mọi cỡ, từ nhỏ đến to, nhưng ai cũng giống ai ở cái má và cái cằm vừa cạo, xanh đen, và chiếc áo khoác sẫm màu, cổ nhung đen, khi trời vào mùa.

Đời sống gia đình của dân chơi thì ít ai biết. Người ta đồn rằng thần Tình yêu và thần Hôn nhân đôi khi cũng nhảy vào canh bạc, đặt cửa cho con đầm cơ thua. Những nhà lý thuyết bạo gan còn quả quyết, chứ không chỉ nói suông, rằng dân chơi thường cũng có vợ, thậm chí có cả con cháu. Đôi khi anh ta dự vào canh bạc chính trường, và thế là ở những buổi dã ngoại ăn súp nghêu, người ta mới được thấy bà Dân Chơi cùng đám Dân Chơi con đội mũ bóng loáng, xách xô thiếc nhỏ.

Nhưng phần nhiều thì dân chơi có nếp nghĩ phương Đông. Anh ta tin rằng đàn bà nhà mình không nên ló mặt nhiều. Họ chờ anh ta ở đâu đó, sau những song cửa hay những chiếc thang thoát hiểm trang trí hoa. Hẳn ở đó họ đi trên thảm Ba Tư, nghe chim hoạ mi hót, gảy đàn tam thập lục và ăn mứt ngọt. Còn ra khỏi nhà, dân chơi là một con số đứng riêng. Anh ta không như đàn ông các giống khác ở Man-hát-tan, những người lúc rảnh rỗi thì làm cận vệ cho tà áo ren phấp phới và đôi gót cao gõ nhịp thánh thót từng giây phút sung sướng của buổi dạo tối. Anh ta tụ bầy với đồng loại ở góc phố, bình phẩm bằng thứ tiếng lóng của bộ lạc về cuộc diễu hành đi qua trước mặt.

Gim Đô-ti Bự có vợ, nhưng anh không cài ảnh chị lên ve áo. Anh có một ngôi nhà trên một trong những con phố phía tây, nhà đá nâu, lan can sắt, trông như một đường lăn bóng gỗ của thành Pôm-pây vừa được khai quật.

Đêm nào anh Đô-ti cũng về ngôi nhà ấy, khi đã khuya đến mức chốn ăn chơi chẳng còn hứa hẹn trò gì nữa. Lúc ấy, người duy nhất trong hậu cung một vợ ấy đã chìm vào cõi mộng, chim hoạ mi đã im tiếng, và giờ ấy chỉ hợp với giấc ngủ.

Gim Bự bao giờ cũng dậy đúng mười hai giờ trưa để ăn sáng, rồi ít lâu sau lại quay về chỗ hẹn của "bọn anh em".

Anh luôn lờ mờ biết rằng có một bà Đô-ti. Nếu ai bảo người đàn bà nhỏ nhắn, ít nói, gọn gàng, dễ chịu ngồi bên kia bàn ăn ở nhà là vợ anh, anh sẽ chẳng chối. Thật ra anh còn nhớ khá rõ là họ đã cưới nhau gần bốn năm. Chị hay kể cho anh nghe những trò ngộ nghĩnh của con hoàng yến Đốm, và về bà tóc vàng hoe sống ở khung cửa sổ căn hộ bên kia đường.

Gim Đô-ti Bự thậm chí đôi khi cũng nghe chị kể. Anh biết tối nào, đúng bảy giờ, khi anh về, chị cũng dọn sẵn một bữa tối ngon lành. Thỉnh thoảng chị đi xem kịch buổi chiều, và chị có một cái máy hát với sáu tá đĩa. Có lần ông chú A-mốt của chị theo gió từ miệt trên xuống chơi, chị đi với ông tới bảo tàng tượng sáp Ê-đen. Chắc chắn bấy nhiêu trò giải khuây là đủ cho bất cứ người đàn bà nào.

Một buổi chiều, anh Đô-ti ăn sáng xong, đội mũ và đã gần ra tới cửa. Tay vừa đặt lên nắm đấm thì anh nghe tiếng vợ.

— Gim, — chị nói, giọng chắc nịch, — em muốn tối nay anh đưa em đi ăn tối. Đã ba năm rồi anh chưa ra khỏi cửa với em lần nào.

Gim Bự sững sờ. Trước giờ chị chưa đòi hỏi gì như thế. Nghe như một ván bài hoàn toàn mới. Nhưng anh là dân chơi biết chơi tới cùng.

— Được thôi, — anh nói. — Bảy giờ anh về thì em sẵn sàng đấy nhé. Đừng có cái kiểu "đợi hai phút để em sửa soạn một hai tiếng" đấy, Đê-li.

— Em sẽ sẵn sàng, — vợ anh bình thản đáp.

Bảy giờ, chị bước xuống những bậc đá của đường lăn bóng Pôm-pây, đi bên cạnh Gim Đô-ti Bự. Chị mặc một chiếc áo dạ tiệc may bằng thứ vải hẳn do nhện dệt, mang màu hẳn được bầu trời lúc chạng vạng góp vào. Một chiếc áo khoác mỏng với bao lớp diềm thừa thãi đến đáng phục và bao dải ruy-băng vô dụng đến đáng yêu buông nhẹ từ đôi vai. Người đẹp vì lụa, quả không sai. Câu ấy chỉ đáng trách ở chỗ có những ông chồng không chịu bỏ tiền lương ra cho nghề buôn lông đà điểu.

Gim Đô-ti Bự bối rối. Bên cạnh anh là một sinh vật anh không quen biết. Anh nghĩ tới bộ lông màu nhã nhặn mà con chim thiên đường này vẫn mặc trong lồng, và cái hình hài có cánh bỗng hiện ra này làm anh lúng túng. Không hiểu sao chị lại làm anh nhớ tới cô Đê-li-a Cu-lơn mà anh cưới bốn năm trước. Anh sải bước bên tay phải chị, rụt rè và khá vụng về.

— Ăn xong anh đưa em về nhà, Đê-li, — anh Đô-ti nói, — rồi anh ghé lại quán Xen-xơ với bọn anh em. Tối nay em muốn ăn ngon cỡ nào cũng được. Hôm qua anh vừa thắng một vụ cổ phiếu mỏ đồng, em cứ gọi thoải mái.

Anh Đô-ti định để buổi đi chơi với cô vợ lạ lẫm này diễn ra kín đáo. Chiều vợ là một nhược điểm mà giới luật của bộ lạc không dung thứ. Anh em của anh ở trường đua, bên bàn bi-a hay quanh sàn quyền anh, ai có vợ thì cũng chưa từng than thở chuyện đó ở chốn công cộng. Ở mấy con phố ngang gần đại lộ rực rỡ có khá nhiều quán cơm bình dân, và anh định đưa chị tới một quán như thế, để cái đèn gia đình của anh vẫn được úp kín dưới cái thúng.

Nhưng đi được nửa đường, anh Đô-ti đổi ý. Anh cứ liếc trộm người bạn đồng hành duyên dáng, và chợt đinh ninh rằng đây không phải hạng ngựa đua xoàng. Anh quyết định dắt vợ diễu qua trước quán Xen-xơ, nơi giờ này một đám người cùng bộ lạc đang tụ lại xem đoàn diễu hành buổi tối. Phải, rồi anh sẽ đưa chị tới ăn ở nhà hàng Hu-gli, chỗ ăn uống thong thả sang trọng nhất dọc đại lộ, anh tự nhủ.

Đám quý ông mặt nhẵn thín của bộ lạc đang canh gác ở quán Xen-xơ. Khi anh Đô-ti và cô Đê-li-a đã được tân trang đi ngang qua, họ trố mắt nhìn, đứng hình một lúc, rồi giở mũ chào. Cử chỉ ấy lạ lùng với họ chẳng kém gì cái cải cách đáng kinh ngạc mà Gim Bự vừa trưng ra trước mắt họ. Trên khuôn mặt lì lợm của Gim thoáng một tia đắc thắng, một tia mờ thôi, chẳng hơn cái nét hiện ra trên mặt anh khi rút được lá bài cuối cùng cho một dây đồng chất.

Nhà hàng Hu-gli rộn ràng. Đèn điện sáng choang, đúng như người ta trông đợi ở chúng. Khăn bàn, ly tách và hoa cũng làm tròn bổn phận phô trương của mình. Khách đông, ăn mặc đẹp, ai cũng vui vẻ.

Một anh bồi, không đến nỗi khúm núm, dẫn Gim Đô-ti Bự và vợ tới một bàn.

— Em cứ gọi suốt từ đầu tới cuối thực đơn, thích gì gọi nấy, Đê-li, — Gim Bự nói. — Tối nay em được ăn lúa mạch mạ vàng như ngựa đua hạng nhất. Anh thấy hình như hai đứa mình gặm cỏ khô ở nhà hơi lâu rồi.

Vợ Gim Bự gọi món. Anh nhìn chị với vẻ nể trọng. Chị gọi nấm cục, mà anh không ngờ chị biết nấm cục là thứ gì. Trong danh sách rượu, chị chọn đúng một nhãn hợp món và đáng thèm. Anh nhìn chị, có phần thán phục.

Chị rạng rỡ trong niềm hào hứng hồn nhiên mà đàn bà có được khi được sống giữa mọi người. Chị nói với anh cả trăm chuyện, sôi nổi và vui sướng. Bữa ăn càng kéo dài, đôi má nhợt nhạt vì quanh năm ở trong nhà của chị càng ửng hồng nhè nhẹ. Gim Bự nhìn quanh phòng và thấy chẳng người đàn bà nào ở đây duyên dáng bằng chị. Rồi anh nghĩ tới ba năm chị chịu cảnh giam cầm mà không một lời than, và mặt anh nóng lên vì xấu hổ, vì chơi đẹp là một điều trong tín điều của anh.

Nhưng khi ngài Pát-rích Co-ri-gân, thủ lĩnh khu vực của Đô-ti và là bạn anh, trông thấy họ và đi tới bàn, thì cuộc đua mới bước vào đoạn nước rút. Ngài Pát-rích là người hào hoa cả trong việc làm lẫn lời nói. Còn với hòn đá Blác-ni, hòn đá ai hôn vào sẽ được tài nói ngọt, thì trước kia chắc ngài đã quá đỗi say đắm. Giả như hòn đá ấy muốn kiện ngài Pát-rích tội bội hứa hôn, hẳn nó đã đòi được một khoản bồi thường lớn.

— Gim-mi, ông bạn già! — ông gọi to. Ông vỗ lưng Đô-ti, rồi rạng rỡ như mặt trời giữa trưa nhìn Đê-li-a.

— Ngài Co-ri-gân, đây là vợ tôi, — Gim Bự nói.

Ngài Pát-rích thành một suối nguồn chuyện vui và lời khen. Anh bồi phải mang thêm ghế thứ ba cho ông. Ông ngồi luôn vào bàn, và ly rượu lại được rót đầy.

— Đồ ích kỷ, lão gian giảo! — ông kêu lên, giơ ngón tay tinh quái ngoắc ngoắc trước mặt Gim Bự. — Giấu bà Đô-ti không cho bọn này biết!

Thế rồi Gim Đô-ti Bự, vốn chẳng phải người khéo ăn nói, ngồi câm lặng, nhìn người vợ ba năm nay tối nào cũng ăn cơm ở nhà, giờ đây nở bung như một đoá hoa tiên. Nhanh nhảu, dí dỏm, duyên dáng, lời lẽ sáng sủa và lưu loát, chị đón đỡ những đòn tấn công dày dạn của ngài Pát-rích trên trận địa đối đáp, khiến ông ngạc nhiên, chịu thua, rồi say mê. Chị xoè những cánh hoa đã khép bấy lâu, và quanh chị căn phòng hoá thành vườn hoa. Họ cố kéo Gim Bự vào câu chuyện, nhưng anh chẳng có từ nào trong vốn liếng.

Rồi một nhóm chính khách và những tay chơi hảo hán sống vì cuộc vui lạc vào phòng. Họ thấy Gim Bự và ngài thủ lĩnh, bèn kéo tới, được giới thiệu với bà Đô-ti. Chỉ vài phút sau, chị đã như bà chủ một phòng khách thượng lưu. Sáu người đàn ông vây quanh chị, ai cũng như cận thần, và cả sáu đều thấy chị biết cách làm say lòng người. Gim Bự ngồi lì, mặt đanh lại, cứ tự nhủ: "Ba năm, ba năm!"

Bữa ăn kết thúc. Ngài Pát-rích với tay lấy áo khoác của bà Đô-ti, nhưng đây là chuyện hành động chứ không phải lời nói, nên bàn tay to bè của Đô-ti chộp được trước hai giây.

Trong lúc chào tạm biệt ở cửa, ngài Pát-rích vỗ mạnh một cái vào giữa hai vai Đô-ti.

— Gim-mi, chú em, — ông nói bằng giọng thì thầm to như sấm, — bà nhà là viên ngọc hảo hạng đấy. Chú đúng là chó ngáp phải ruồi.

Gim Bự đi bộ về nhà cùng vợ. Chị có vẻ thích đèn đóm và các ô kính bày hàng trên phố chẳng kém gì những lời ngưỡng mộ của các quý ông ở nhà hàng Hu-gli. Khi đi ngang quán Xen-xơ, họ nghe tiếng ồn ào trong quán. Giờ này bọn anh em hẳn đang bắt đầu chuốc rượu và bàn chuyện các trận đua đã qua.

Tới cửa nhà, Đê-li-a dừng lại. Niềm vui của buổi đi chơi toả ra dịu dàng trên gương mặt chị. Chị không dám mong có Gim ở bên những buổi tối, nhưng ánh hào quang của buổi tối hôm nay sẽ còn soi sáng những giờ cô đơn của chị rất lâu.

— Cảm ơn anh đã đưa em đi chơi, Gim, — chị nói, đầy biết ơn. — Giờ anh lại lên quán Xen-xơ, phải không anh.

— Mặc xác quán Xen-xơ! — Gim Bự nói dứt khoát. — Mà cả thằng cha Pát Co-ri-gân nữa! Nó tưởng tôi không có mắt chắc?

Và cánh cửa khép lại sau lưng cả hai người.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Dougherty's Eye-Opener, O. Henry, in trong tuyển tập The Voice of the City
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →