Đó là thời vua Va-gít A-li Sa. Thành Lắc-nao chìm đắm trong hưởng lạc. Lớn nhỏ, giàu nghèo, ai ai cũng chìm trong hưởng lạc. Người thì bày tiệc múa hát, người thì mơ màng trong cơn phê thuốc phiện. Ở mọi mặt của đời sống, vui chơi đứng hàng đầu. Trong việc cai trị, trong văn chương, trong nếp sống xã hội, trong nghề thủ công, trong buôn bán, trong ăn uống, đâu đâu cũng tràn ngập hưởng lạc. Quan lại thì đắm trong dục vọng, thi sĩ thì mải tả tình yêu và chia ly, thợ thủ công thì mải dệt chỉ kim tuyến và thêu ren, con buôn thì mải buôn phấn kẻ mắt, nước hoa, bột đánh răng và phấn thoa mặt. Men hưởng lạc phủ mờ mắt tất cả mọi người. Thế gian đang xảy ra chuyện gì, chẳng ai hay biết. Chỗ này chim cút đá nhau. Chỗ kia người ta đặt cược cho gà gô chọi. Chỗ này trải bàn xúc xắc, tiếng reo trúng đậm ầm ĩ. Chỗ kia một trận cờ ác liệt đang diễn ra. Từ vua tới kẻ ăn mày đều say mê như thế. Tới mức ăn mày xin được tiền thì chẳng mua bánh, mà mua thuốc phiện ăn hay hút. Người ta hùng hồn lý luận rằng chơi cờ, đánh bài khiến trí óc sắc bén, sức suy nghĩ mở mang, quen gỡ những vấn đề rắc rối. Mà lớp người ấy thì tới giờ thế gian cũng chưa hết. Bởi vậy nếu ông Xát-giát A-li và ông Rô-san A-li dành phần lớn thời gian để mài sắc trí óc, thì người biết suy nghĩ nào phản đối được? Cả hai đều có thái ấp cha truyền con nối, chẳng phải lo chuyện cơm áo, cứ ngồi nhà mà hưởng. Thì còn biết làm gì khác nữa! Sáng ra hai người bạn ăn điểm tâm xong là trải bàn cờ ngồi xuống, bày quân, rồi các thế công thủ bắt đầu. Rồi chẳng còn biết trưa lúc nào, xế lúc nào, tối lúc nào. Trong nhà gọi ra hết lần này tới lần khác: cơm dọn rồi. Ở ngoài này đáp: ừ, vào ngay, cứ trải khăn đi. Tới mức đầu bếp đành mang cơm vào tận phòng, và hai người bạn vừa ăn vừa đánh cờ. Nhà ông Xát-giát A-li không có bậc cao niên nào, nên các ván cờ đánh ở phòng khách nhà ông. Nhưng không phải người trong nhà ông Xát-giát ưa cái thói ấy của ông. Người nhà thì khỏi nói, đến hàng xóm, đến đầy tớ trong nhà ngày nào cũng buông lời ác cảm:
— Cái thú ấy xúi quẩy lắm. Nó phá nát cửa nhà. Cầu Trời đừng để ai nghiện nó. Người ta thành vô dụng, đạo cũng chẳng ra đạo, đời cũng chẳng ra đời, chẳng ra nhà mà cũng chẳng ra bến. Bệnh nặng đấy.
Tới mức bà vợ ông Xát-giát ghét cờ tới nỗi cứ chờ dịp là mắng chồng một trận. Nhưng bà khó mà có dịp. Bà còn đang ngủ thì ngoài kia bàn cờ đã bày, còn tối bà ngủ rồi ông Xát-giát mới vào. Thế là bà trút giận lên đầu đám đầy tớ:
— Đòi trầu à? Bảo tự vào mà lấy. Ăn cũng không có thì giờ à? Mang mâm ra úp lên đầu cho ăn, ăn hay cho chó ăn cũng được.
Nhưng ra mặt thì bà cũng chẳng làm gì được. Bà không giận chồng bằng giận ông Rô-san. Bà đặt cho ông cái tên là Rô-san Phá Nhà. Có lẽ ông Xát-giát, để chạy tội cho mình, đã đổ hết lỗi lên đầu ông Rô-san.
Một hôm, bà vợ ông Xát-giát nhức đầu. Bà bảo con hầu:
— Ra gọi ông vào đây. Bảo ông đi lấy thuốc ở nhà ông lang. Chạy đi, nhanh lên.
Con hầu ra gọi, ông Xát-giát bảo:
— Ừ, vào ngay.
Bà vợ đang nóng tiết. Mình nhức đầu thế này mà chồng còn ngồi đánh cờ thì ai mà chịu nổi. Mặt bà đỏ bừng. Bà bảo con hầu:
— Ra bảo ông vào ngay, không thì bà tự đi tới nhà ông lang đấy.
Ông Xát-giát đang đánh một ván rất hấp dẫn. Chỉ hai nước nữa là ông Rô-san bị chiếu bí. Ông bực mình:
— Sắp tắt thở rồi hay sao? Không chờ được một tí à?
Ông Rô-san bảo:
— Thì ông cứ vào nghe xem sao. Đàn bà vốn hay dỗi mà.
— Vâng, sao tôi không vào cho được! Hai nước nữa là ông bị chiếu bí.
— Ông đừng tin vào đó. Tôi đã nghĩ ra một nước, quân ông cứ để nguyên đấy mà ông bị bí. Nhưng ông vào nghe đi. Việc gì mà làm bà ấy phiền lòng?
— Thế thì tôi phải chiếu bí ông xong rồi mới vào.
— Tôi không đánh nữa. Ông vào nghe đi.
— Ôi trời, rồi lại phải chạy tới nhà ông lang. Nhức đầu cái gì, chỉ là cớ để làm khổ tôi thôi.
— Thế nào thì thế, cũng phải chiều bà ấy chứ.
— Thôi được, tôi đi thêm một nước nữa.
— Không đời nào. Chừng nào ông chưa vào nghe, tôi không đụng tay vào quân cờ.
Ông Xát-giát đành vào trong. Bà vợ cau mày, nhưng vẫn rên rỉ mà nói:
— Ông mê cái bàn cờ chết tiệt ấy thế cơ đấy! Người ta có chết cũng mặc, ông nhất định không đứng dậy! Cầu cho đừng ai phải lấy người như ông!
— Biết nói sao bây giờ, ông Rô-san không chịu thôi. Tôi khó khăn lắm mới thoát ra được đấy.
— Ông ta vô công rồi nghề thì tưởng ai cũng thế à? Ông ta không có vợ con chắc, hay đã đuổi đi hết rồi?
— Ông ấy nghiện nặng lắm. Hễ ông ấy tới là tôi cũng đành phải chơi.
— Sao ông không đuổi đi?
— Ông ấy ngang hàng với tôi, cả tuổi tác lẫn địa vị, lại còn trên tôi hai ngón tay. Phải nể chứ.
— Thế thì để tôi đuổi. Giận thì cứ giận. Ai nuôi ai đâu. Hoàng hậu có giận thì giữ lấy tấm chồng của mình. Hi-ri-a, ra ngoài cất bàn cờ vào đây. Bảo ông Rô-san là ông nhà không chơi nữa, mời ông ấy về cho.
— Này này, đừng có làm chuyện tày trời như thế! Bà muốn làm tôi mất mặt à! Đứng lại, Hi-ri-a, đi đâu đấy?
— Sao không để nó đi? Đứa nào ngăn nó thì uống máu tôi đây. Được, ông ngăn nó đi, rồi ngăn tôi xem nào!
Nói rồi bà vợ hằm hằm đi về phía phòng khách. Ông Xát-giát tội nghiệp tái mặt. Ông van vợ:
— Lạy Trời, tôi xin bà, bà mà đi ra đấy thì như nhìn thấy xác tôi.
Nhưng bà vợ chẳng nghe. Bà đi tới tận cửa phòng khách, nhưng bỗng thấy chân như bị trói lại, vì đàn bà đâu thể ra mặt đàn ông lạ. Bà nhìn vào. May sao trong phòng không có ai. Ông Rô-san đã xê dịch một hai quân cờ, rồi ra ngoài đi dạo cho tỏ ra mình vô can. Thế là bà vợ vào thẳng trong phòng, lật tung bàn cờ, ném quân cờ, quân xuống gầm sập, quân ra ngoài, rồi đóng cửa cài then từ bên trong. Ông Rô-san đang ở ngay cửa, thấy quân cờ bị ném ra, lại nghe tiếng vòng tay leng keng. Rồi cửa đóng sập, ông hiểu ngay bà nhà kia nổi giận rồi. Ông lặng lẽ chuồn về nhà!
Ông Xát-giát bảo vợ:
— Bà làm chuyện tày trời rồi!
— Giờ mà ông Rô-san còn mò tới đây thì tôi cho đuổi ngay tại chỗ. Giá ông dồn chừng ấy tâm trí vào Thượng đế thì đã chẳng đến nỗi nghèo! Ông thì cứ đánh cờ, còn tôi ở đây vắt óc lo bếp núc! Giờ ông có đi tới nhà ông lang không, hay vẫn còn chần chừ?
Ông Xát-giát ra khỏi nhà, nhưng không đi tới nhà ông lang mà tới nhà ông Rô-san, kể hết đầu đuôi. Ông Rô-san bảo:
— Tôi thấy quân cờ bị ném ra là hiểu ngay. Chạy biến luôn. Bà ấy có vẻ nóng tính lắm. Nhưng ông chiều bà ấy quá, thế là không nên. Bà ấy can gì tới việc ông làm gì ở ngoài? Lo việc nhà là việc của bà ấy, chuyện khác thì can gì tới bà ấy?
— Thôi được, nhưng ông bảo giờ ta ngồi đâu đây?
— Lo gì. Nhà tôi to thế này. Cứ ngồi đây.
— Nhưng tôi biết dỗ bà nhà tôi thế nào. Lúc tôi ngồi nhà mà bà ấy còn nổi giận như thế, giờ mà ngồi đây thì chắc bà ấy không để tôi sống.
— Ôi dào, cứ để bà ấy nói. Vài hôm là bà ấy tự nguôi thôi. À, ông chỉ cần làm một việc, là cứng rắn hơn một chút.
Bà vợ ông Rô-san, vì một lý do nào đó không ai biết, lại thấy chồng vắng nhà là hợp nhất. Vì thế bà chẳng bao giờ chê cái thói mê cờ của chồng, trái lại có hôm ông Rô-san về muộn, bà còn nhắc ông đi. Vì những lẽ ấy mà ông Rô-san lầm tưởng vợ mình nết na, đứng đắn lắm. Nhưng từ khi bàn cờ bày ra ở phòng khách nhà mình, và ông Rô-san ở lì trong nhà suốt ngày, thì bà khổ sở lắm. Tự do của bà bị cản trở. Suốt ngày bà chỉ thèm được ra cửa ngó một cái.
Còn đám đầy tớ cũng bắt đầu xì xào. Xưa nay suốt ngày chúng nằm khểnh đập ruồi. Trong nhà ai tới ai đi, chúng chẳng bận tâm. Giờ thì bị sai bảo suốt ngày đêm. Lúc thì sai mang trầu, lúc thì sai mang bánh kẹo. Còn cái điếu thì ngày nào cũng cháy mãi như trái tim người đang yêu. Chúng tới kêu với bà chủ:
— Bẩm bà, ván cờ của ông thành cái gông trên cổ chúng con rồi! Chạy suốt ngày chân phồng cả lên. Chơi bời gì mà ngồi từ sáng tới tối! Chơi một hai khắc cho khuây khoả là đủ rồi. Chúng con thì chẳng dám kêu ca gì, chúng con là đầy tớ của bà, bà sai gì chúng con làm nấy. Nhưng cái thú này xúi quẩy lắm. Ai chơi nó thì chẳng bao giờ khá được, thế nào nhà cũng gặp tai hoạ. Còn có người thấy cả mấy khu phố tan hoang chỉ vì một người chơi cờ. Cả khu phố đang bàn tán chuyện ấy. Chúng con ăn muối của nhà bà, nghe người ta nói xấu chủ mình chúng con cũng buồn, nhưng biết làm sao.
Bà chủ đáp:
— Chính ta cũng chẳng ưa. Nhưng ông ấy có nghe ai đâu, biết làm thế nào.
Trong khu phố, dăm ba ông già nếp cũ bàn với nhau đủ thứ điềm gở:
— Thế này là không yên rồi. Bậc quyền quý của mình mà như thế thì chỉ có Trời giữ nước cho. Vương triều này sẽ mất vì bàn cờ. Điềm xấu lắm.
Trong nước tiếng kêu than vang khắp nơi. Dân bị cướp giữa ban ngày. Chẳng ai nghe lời kêu oan. Của cải các làng quê bị hút cả về Lắc-nao, rồi bay đi vào gái hát, phường chèo, và mọi thú ăn chơi khác. Nợ của Công ty Anh mỗi ngày một tăng. Tấm chăn len mỗi ngày một thấm nước, mỗi ngày một nặng. Vì trong nước không có trật tự nên đến thuế hằng năm cũng không thu nổi. Viên khâm sứ người Anh hết lần này tới lần khác cảnh cáo, nhưng ở đây người ta đang say men ăn chơi, chẳng ai thèm để tai.
Thôi thì, cờ đánh ở phòng khách nhà ông Rô-san đã mấy tháng trời. Thế cờ mới được giải, thành luỹ mới được xây, ngày nào cũng có trận đồ mới. Có lúc đang chơi thì cãi nhau, tới mức mày tao chí tớ, nhưng hai người bạn lại mau chóng làm lành. Có khi ván cờ bị bỏ dở, ông Xát-giát giận dỗi về nhà, ông Rô-san vào trong nhà ngồi, nhưng một đêm ngủ dậy là mọi bực dọc lại tan hết. Sáng ra hai người bạn lại có mặt ở phòng khách.
Một hôm, hai người bạn đang ngụp lặn trong vũng lầy cờ thế, thì một viên sĩ quan quân nhà vua cưỡi ngựa tới, hỏi tên ông Rô-san. Ông Rô-san hồn vía lên mây! Tai hoạ gì đổ lên đầu thế này? Gọi mình lên làm gì? Phen này không yên rồi. Ông cho đóng cửa nhà lại, bảo đầy tớ:
— Bảo là tao không có nhà.
Người lính ngựa hỏi:
— Không có nhà thì ở đâu?
Người đầy tớ đáp:
— Cái đó tôi không biết. Có việc gì thế?
— Việc gì thì nói với mày làm gì? Có lệnh triệu. Hình như người ta đòi nộp lính cho quân đội. Có thái ấp chứ có phải chơi đâu! Phải ra mặt trận thì mới biết bột với đậu giá bao nhiêu!
— Vâng, thế thì ông đi đi, tôi sẽ nói lại.
— Không phải chuyện nói lại. Mai chính tao sẽ tới. Có lệnh phải dẫn đi cùng.
Người lính ngựa đi rồi. Ông Rô-san run cả hồn vía. Ông hỏi ông Xát-giát:
— Ông bảo giờ làm sao đây?
— Khổ to rồi. Không khéo tôi cũng bị gọi.
— Cái thằng khốn ấy bảo mai lại tới!
— Tai hoạ chứ còn gì nữa! Mà phải ra mặt trận thì chết oan mạng.
— Chỉ có một cách, là đừng ở nhà. Từ mai mình bày trận ở chỗ nào hoang vắng bên sông Gôm-ti. Ở đó ai biết? Ông ta tới rồi tự khắc quay về.
— Thề có Trời, ông nghĩ ra hay thật! Ngoài cách ấy thì chẳng còn cách nào khác.
Trong khi ấy, bà vợ ông Rô-san đang nói với người lính ngựa kia:
— Anh lừa giỏi lắm.
Hắn đáp:
— Hạng ngốc ấy tôi cho nhảy múa trên đầu ngón tay. Cờ đã gặm hết cả trí khôn lẫn gan góc của họ rồi. Giờ thì có quên cũng không dám ở nhà đâu.
Từ hôm sau, trời còn tối mò hai người bạn đã ra khỏi nhà. Nách kẹp tấm thảm nhỏ, hộp đầy trầu têm sẵn, họ tới một ngôi đền Hồi giáo cũ bỏ hoang bên kia sông Gôm-ti, có lẽ do quận vương A-xáp út Đâu-la xây. Dọc đường họ mua thuốc lào, mua điếu, mua rượu, tới đền thì trải thảm, nhồi điếu, ngồi đánh cờ. Rồi chẳng còn lo gì tới đạo hay đời nữa. Ngoài vài tiếng "chiếu", "chiếu tướng", miệng họ chẳng thốt ra câu nào khác. Đến người tu thiền nhập định có lẽ cũng không chuyên chú được như thế. Trưa, thấy đói, hai người bạn tới một hàng bánh nướng nào đó ăn cơm, hút một điếu, rồi lại vào trận. Có hôm họ quên cả ăn.
Trong khi ấy, tình hình chính sự trong nước mỗi ngày một nguy ngập. Quân của Công ty kéo dần về phía Lắc-nao. Thành phố náo loạn. Người ta dắt díu vợ con chạy về quê. Nhưng hai kỳ thủ của chúng ta chẳng mảy may bận tâm. Từ nhà ra, họ đi lối ngõ hẻm, sợ có viên chức nhà vua nào trông thấy mà bắt đi làm phu. Thái ấp mỗi năm thu hàng nghìn ru-pi, họ muốn hưởng không mà thôi.
Một hôm, hai người bạn đang ngồi đánh cờ trong ngôi đền đổ nát. Thế cờ của ông Rô-san hơi yếu. Ông Xát-giát chiếu ông hết nước này tới nước khác. Đúng lúc ấy, thấy lính của Công ty kéo tới. Đó là đạo quân người da trắng, đang tới chiếm Lắc-nao.
Ông Rô-san nói:
— Quân Anh tới kìa. Cầu Trời phù hộ.
— Kệ chúng tới, ông đỡ nước chiếu đi đã. Này, chiếu!
— Phải xem một tí chứ. Ta đứng nấp chỗ này xem.
— Xem thì lát nữa xem, vội gì. Lại chiếu!
— Có cả pháo binh nữa. Phải tới năm nghìn người. Lính tráng thế cơ đấy. Mặt đỏ như mặt khỉ. Nhìn mà thấy sợ.
— Thôi ông đừng lảng. Mấy trò ấy để lừa người khác. Chiếu đây!
— Ông đúng là người kỳ quặc. Thành phố đang gặp hoạ, mà ông chỉ nghĩ tới chiếu tướng! Ông có biết thành phố bị vây thì về nhà bằng đường nào không?
— Tới lúc phải về thì hẵng hay. Chiếu! Nước chiếu này là bí.
Đạo quân đi qua. Lúc ấy là mười giờ, ván cờ lại bắt đầu.
Ông Xát-giát hỏi:
— Hôm nay ăn uống thế nào đây?
— Ơ, hôm nay nhịn ăn mà. Ông thấy đói lắm à?
— Không. Chẳng biết trong thành đang xảy ra chuyện gì.
— Trong thành chẳng có chuyện gì đâu. Người ta ăn uống xong đang ngủ ngon cả. Đức vua cũng đang ở trong lạc cung.
Hai vị lại ngồi đánh tiếp, tới ba giờ chiều. Lần này thế cờ của ông Xát-giát yếu. Đồng hồ đang điểm bốn giờ thì nghe tiếng quân quay về. Vua Va-gít A-li đã bị bắt, và đạo quân đang đưa ngài tới một nơi không ai biết. Trong thành chẳng có náo động, chẳng có chém giết. Không một giọt máu đổ. Có lẽ xưa nay chưa từng có ông vua nào của một nước độc lập lại thua một cách êm thấm, không đổ máu như thế. Đó không phải là thứ bất bạo động làm thần thánh vui lòng. Đó là sự hèn nhát mà kẻ hèn nhát nhất cũng phải rơi nước mắt. Vua của cả xứ A-vát rộng lớn bị bắt đi làm tù binh, mà Lắc-nao vẫn say giấc ngủ ăn chơi. Đó là đáy cùng của sự sa đoạ chính trị!
Ông Xát-giát nói:
— Bọn tàn ác đã bắt đức vua rồi.
— Ừ thì thế, ông đỡ nước chiếu này đi!
— Khoan đã ông ơi. Lúc này tôi chẳng thiết đánh cờ. Tội nghiệp đức vua, giờ này chắc ngài đang khóc ra máu.
— Ngài khóc là phải. Ở đó đâu được hưởng lạc thế này. Chiếu!
— Chẳng ai mãi gặp thời. Cảnh ngộ đau xót biết bao!
— Phải, đúng là thế. Đây, lại chiếu! Nước chiếu này là bí, ông không thoát được đâu.
— Thề có Trời, ông thật là nhẫn tâm. Thấy chuyện lớn thế này mà ông chẳng đau lòng chút nào. Ôi, tội nghiệp vua Va-gít A-li Sa!
— Ông cứu lấy vua của ông trên bàn cờ trước đã, rồi hẵng khóc thương đức vua. Chiếu, bí rồi. Đưa tay đây.
Đạo quân giải nhà vua đi ngang qua trước mặt. Họ vừa đi khỏi, ông Xát-giát lại bày cờ. Thua cờ thì đau lắm. Ông Rô-san bảo:
— Nào, ta làm một bài thơ khóc đức vua đi.
Nhưng lòng trung quân của ông Xát-giát đã tan biến cùng ván thua. Ông đang nóng lòng gỡ lại.
Trời tối. Trong ngôi đền đổ nát, lũ dơi bắt đầu kêu ré lên. Chim én bay về, rúc vào tổ. Nhưng hai kỳ thủ vẫn cầm cự, như hai dũng sĩ khát máu đang giao chiến. Ông Xát-giát đã thua liền ba ván. Ván thứ tư này thế cờ cũng không hay. Ông cứ quyết chí phải thắng, chơi hết sức thận trọng, nhưng thế nào cũng có một nước vụng về khiến thế cờ hỏng. Mỗi lần thua, lòng muốn trả thù lại càng hừng hực. Còn bên kia, ông Rô-san sướng quá, hát nghêu ngao mấy câu thơ tình, buông lời trêu chọc, như vừa vớ được kho báu bí mật. Ông Xát-giát nghe mà bực, phải khen lấy lệ để che cái ngượng của kẻ thua. Nhưng thế cờ càng yếu thì sự kiên nhẫn càng tuột khỏi tay ông. Tới mức chuyện gì ông cũng gắt:
— Này ông, đừng có đi lại nước. Sao lại đi một nước rồi lại đổi? Muốn đi gì thì đi một lần cho xong. Sao ông cứ để tay trên quân cờ thế? Buông quân ra. Chưa nghĩ ra nước thì đừng có đụng vào quân. Mỗi nước ông nghĩ mất nửa tiếng. Thế là không theo luật. Ai nghĩ một nước quá năm phút thì coi như thua. Ông lại đổi nước rồi! Đặt quân về chỗ cũ ngay.
Quân tể tướng của ông Rô-san sắp bị ăn. Ông bảo:
— Tôi đã đi nước nào đâu?
— Ông đi rồi. Đặt quân về đúng chỗ ấy.
— Sao phải đặt về đấy? Tôi đã buông tay khỏi quân bao giờ?
— Ông giữ quân tới tận ngày tận thế thì chẳng lẽ không tính là đi à? Thấy tể tướng sắp mất là giở trò ăn gian!
— Ông mới ăn gian. Thắng thua là do số, ăn gian chẳng ai thắng được.
— Thế ván này ông thua rồi chứ gì?
— Sao tôi lại thua?
— Thế thì ông đặt quân về chỗ cũ đi.
— Sao phải đặt về đấy? Không đặt.
— Sao lại không? Ông phải đặt.
Cãi nhau mỗi lúc một to. Ai cũng khăng khăng giữ ý mình. Người này không chịu lép, người kia cũng không. Rồi bắt đầu lôi những chuyện chẳng dính dáng ra nói. Ông Xát-giát bảo:
— Nhà ai có người từng chơi cờ thì mới biết luật. Nhà ông xưa nay chỉ đi cắt cỏ, ông biết gì mà chơi cờ! Dòng dõi quyền quý là chuyện khác hẳn. Có được thái ấp đâu đã thành quyền quý.
— Cái gì! Cha ông mới đi cắt cỏ ấy! Nhà tôi đánh cờ từ đời này qua đời khác.
— Thôi đi ông ơi, cả đời làm đầu bếp cho vua Ga-di út-đin Hai-đa, nay lại đòi làm quyền quý. Làm quyền quý đâu phải chuyện đùa!
— Sao ông lại bôi tro trát trấu vào mặt tổ tiên ông thế, chính họ mới làm đầu bếp ấy. Nhà tôi xưa nay vẫn ăn cơm cùng mâm với vua.
— Thôi đi đồ ăn chực, đừng có huênh hoang.
— Giữ mồm giữ miệng đấy, không thì không hay đâu. Tôi không quen nghe những lời ấy. Ở đây ai trợn mắt với tôi là tôi móc mắt ra. Có gan không?
— Ông muốn xem gan tôi thì lại đây, hôm nay ta đấu một trận, sống chết một phen!
— Thế thì ai sợ ông?
Hai người bạn rút gươm bên hông ra! Thời ấy là thời các ông hoàng, ai cũng đeo gươm, đeo dao găm. Hai người tuy ăn chơi nhưng không hèn nhát. Lòng họ đã mất hết ý thức về chính sự, họ chẳng thấy việc gì phải chết vì nhà vua, vì vương triều, nhưng cái dũng của cá nhân thì họ không thiếu. Hai người xoay thế, gươm loé sáng, tiếng chém phập phập vang lên. Cả hai cùng trúng thương ngã xuống, và cả hai cùng quằn quại mà chết tại chỗ. Những người chẳng rơi một giọt nước mắt vì vua của mình, lại bỏ mạng để bảo vệ quân tể tướng trên bàn cờ.
Trời đã tối. Bàn cờ vẫn bày đó. Hai ông vua cờ vẫn ngồi trên ngai của mình, như đang khóc cái chết của hai dũng sĩ ấy.
Bốn bề im phăng phắc. Những vòm cửa vỡ của ngôi đền đổ nát, những bức tường sụp, những ngọn tháp phủ bụi nhìn hai cái xác ấy mà lắc đầu.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn