Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hai người bạn

của Guy de Maupassant

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 11.962 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Pa-ri bị vây hãm, đói khát, và đang hấp…
  2. 2:22"Mà thời tiết thế này chứ! Hôm nay là…
  3. 3:16"Nhưng ở chỗ nào?"
  4. 4:52Cuối cùng, ông Xô-va-giơ quyết định:
  5. 6:54"Phải ngu lắm mới giết nhau như thế."
  6. 8:28Và đằng sau ngôi nhà mà họ tưởng là…
  7. 10:12Rồi hắn đột ngột đứng dậy, tới gần hai…
  8. 11:08Ông Xô-va-giơ đổ sập xuống, úp mặt. Ông Mô-ri-xô,…

Pa-ri bị vây hãm, đói khát, và đang hấp hối. Chim sẻ trên mái nhà đã hiếm hoi lắm, dưới cống chuột cũng thưa dần. Người ta ăn bất cứ thứ gì.

Một buổi sáng tháng Giêng trời trong, ông Mô-ri-xô, làm nghề thợ đồng hồ, tính vốn thích ru rú ở nhà, đang buồn bã đi dạo dọc đại lộ vành đai, hai tay đút túi quần đồng phục, bụng rỗng, thì bỗng dừng phắt lại trước một người cùng cảnh mà ông nhận ra là bạn mình. Đó là ông Xô-va-giơ, một người quen ở bờ sông.

Trước chiến tranh, chủ nhật nào ông Mô-ri-xô cũng ra đi từ lúc tờ mờ sáng, một tay cầm cần câu bằng trúc, lưng đeo một chiếc hộp sắt tây. Ông đi tàu hoả tuyến Ác-giăng-tơi, xuống ở Cô-lông-bơ, rồi đi bộ tới đảo Ma-răng-tơ. Vừa tới chốn mộng mơ ấy là ông bắt đầu câu, câu cho tới tối mịt.

Chủ nhật nào ông cũng gặp ở đó một người đàn ông nhỏ bé, béo tròn, vui tính, ông Xô-va-giơ, bán hàng xén ở phố Nốt-tơ Đam đơ Lô-rét, cũng là một tay mê câu cá. Họ thường ngồi bên nhau cả nửa ngày, tay cầm cần câu, chân đung đưa trên dòng nước, và họ đã trở nên thân thiết với nhau.

Có những hôm họ chẳng nói với nhau câu nào. Đôi khi họ chuyện trò. Nhưng họ hiểu nhau tuyệt vời mà chẳng cần nói gì, vì cùng chung những sở thích và những cảm xúc giống hệt nhau.

Vào mùa xuân, buổi sáng, chừng mười giờ, khi mặt trời tươi mới làm lơ lửng trên dòng sông êm ả một làn sương mỏng trôi theo dòng nước, và rót xuống lưng hai tay câu cuồng nhiệt một hơi ấm dễ chịu của mùa mới, ông Mô-ri-xô thỉnh thoảng lại bảo người bên cạnh:

"Chà! Dễ chịu quá!"

Và ông Xô-va-giơ đáp:

"Tôi chẳng biết có gì thú hơn thế này."

Thế là đủ để họ hiểu nhau và quý nhau.

Vào mùa thu, lúc chiều tà, khi bầu trời đỏ như máu dưới ánh hoàng hôn ném xuống mặt nước bóng những đám mây đỏ thắm, nhuộm tía cả dòng sông, đốt cháy chân trời, làm đỏ rực như lửa hai người bạn, và dát vàng những hàng cây đã ngả màu, đang run lên vì một làn hơi lạnh của mùa đông, ông Xô-va-giơ mỉm cười nhìn ông Mô-ri-xô mà nói:

"Cảnh mới đẹp làm sao!"

Và ông Mô-ri-xô, mê mải, đáp lại mà mắt không rời chiếc phao:

"Hơn hẳn ngoài đại lộ ấy nhỉ?"

Vừa nhận ra nhau, hai người siết chặt tay nhau, hết sức xúc động vì gặp lại nhau trong một hoàn cảnh khác xa đến thế. Ông Xô-va-giơ thở dài, lẩm bẩm:

"Biết bao nhiêu là chuyện!"

Ông Mô-ri-xô, rầu rĩ vô cùng, rên rỉ:

"Mà thời tiết thế này chứ! Hôm nay là ngày đẹp trời đầu tiên trong năm."

Quả thật, bầu trời xanh ngắt và đầy ánh sáng.

Hai người đi bên nhau, trầm ngâm và buồn bã. Ông Mô-ri-xô lại nói:

"Còn chuyện câu cá nữa chứ! Ôi, kỷ niệm đẹp biết bao!"

Ông Xô-va-giơ hỏi:

"Bao giờ chúng ta mới lại ra đó nhỉ?"

Họ bước vào một quán cà phê nhỏ, cùng uống một cốc rượu ngải. Rồi họ lại tiếp tục dạo trên vỉa hè.

Ông Mô-ri-xô bỗng dừng lại:

"Làm cốc nữa nhé?"

Ông Xô-va-giơ đồng ý:

"Xin chiều ông."

Thế là họ bước vào một quán rượu khác.

Lúc ra khỏi quán, họ chuếnh choáng lắm, đầu óc lâng lâng như những người nhịn đói mà bụng đầy rượu. Trời ấm áp. Một làn gió mơn man khẽ cù lên mặt họ.

Ông Xô-va-giơ, bị không khí ấm áp làm cho say hẳn, dừng lại:

"Hay ta ra đó đi?"

"Ra đâu?"

"Thì đi câu chứ còn đâu."

"Nhưng ở chỗ nào?"

"Thì ở hòn đảo của chúng ta. Tiền đồn của quân ta ở gần Cô-lông-bơ. Tôi quen đại tá Đuy-mu-lanh. Người ta sẽ cho ta qua dễ dàng thôi."

Ông Mô-ri-xô run lên vì thèm muốn:

"Được đấy. Tôi đi."

Rồi họ chia tay nhau để về lấy đồ nghề.

Một giờ sau, hai người đã sóng bước trên đường cái. Rồi họ tới ngôi biệt thự nơi viên đại tá đóng. Ông mỉm cười khi nghe lời xin của họ, nhưng vẫn chiều theo ý thích ngông cuồng ấy. Họ lại lên đường, với một tờ giấy thông hành.

Chẳng mấy chốc họ đã vượt qua tiền đồn, đi qua Cô-lông-bơ bị bỏ hoang, và tới bên những thửa nho nhỏ trải dốc xuống sông Xen. Lúc ấy vào khoảng mười một giờ.

Bên kia sông, làng Ác-giăng-tơi như đã chết. Những ngọn đồi Óoc-giơ-mông và Xa-noa bao quát cả vùng. Cánh đồng lớn chạy dài tới tận Năng-te trống trơn, trống trơn hoàn toàn, với những cây anh đào trụi lá và những mảnh đất xám xịt.

Ông Xô-va-giơ chỉ tay về phía những ngọn đồi, thì thầm:

"Quân Phổ ở trên ấy đấy!"

Và một nỗi lo âu làm hai người bạn tê cứng trước cảnh vùng quê hoang vắng.

"Quân Phổ!" Họ chưa bao giờ trông thấy chúng, nhưng đã mấy tháng nay họ cảm thấy chúng ở đó, quanh Pa-ri, tàn phá nước Pháp, cướp bóc, tàn sát, bỏ đói, vô hình mà toàn năng. Và một thứ khiếp sợ mê tín chồng thêm lên nỗi căm ghét mà họ dành cho cái dân tộc xa lạ và chiến thắng ấy.

Ông Mô-ri-xô ấp úng:

"Này! Nhỡ chúng ta chạm trán chúng thì sao?"

Ông Xô-va-giơ đáp, với cái giọng giễu cợt kiểu Pa-ri, bất chấp tất cả vẫn hiện ra:

"Thì ta mời chúng một đĩa cá rán."

Nhưng họ vẫn ngần ngại chưa dám mạo hiểm vào giữa đồng, rụt rè trước sự im lặng của khắp chân trời.

Cuối cùng, ông Xô-va-giơ quyết định:

"Thôi nào, đi! Nhưng phải cẩn thận."

Rồi họ đi xuống một ruộng nho, lưng còng gập, bò lết, núp sau những bụi cây, mắt dáo dác, tai vểnh lên.

Còn một dải đất trống phải vượt qua mới tới bờ sông. Họ cắm cổ chạy. Vừa tới bờ, họ nép ngay vào đám lau khô.

Ông Mô-ri-xô áp má xuống đất để nghe xem quanh đó có tiếng chân ai không. Ông chẳng nghe thấy gì. Chỉ có họ, chỉ có hai người họ mà thôi.

Họ yên tâm, và bắt đầu câu.

Trước mặt họ, đảo Ma-răng-tơ bỏ hoang che cho họ khỏi bị nhìn thấy từ bờ bên kia. Ngôi nhà nhỏ của quán ăn đóng cửa im ỉm, như đã bị bỏ hoang từ nhiều năm.

Ông Xô-va-giơ câu được con cá bống đầu tiên, ông Mô-ri-xô bắt được con thứ hai, và cứ chốc chốc họ lại giật cần lên, đầu dây là một con cá nhỏ ánh bạc giãy đành đạch. Đúng là một mẻ câu thần kỳ.

Họ nhẹ nhàng thả cá vào một chiếc túi lưới mắt thật dày ngâm dưới chân. Và một niềm vui tuyệt diệu thấm vào người họ, cái niềm vui đến với ta khi tìm lại được một thú vui yêu thích đã bị tước đi từ lâu.

Mặt trời hiền hậu rót hơi ấm xuống giữa hai vai họ. Họ chẳng nghe gì nữa, chẳng nghĩ gì nữa, chẳng biết gì tới thế giới bên ngoài nữa. Họ câu.

Nhưng bỗng một tiếng động trầm đục như từ dưới lòng đất vọng lên làm mặt đất rung chuyển. Đại bác lại bắt đầu gầm.

Ông Mô-ri-xô quay đầu lại, và phía trên bờ sông, đằng xa kia, bên trái, ông nhìn thấy bóng dáng lớn của núi Mông Va-lê-ri-ăng, trên đỉnh có một chòm lông trắng, một làn khói thuốc súng nó vừa nhả ra.

Và ngay sau đó, một luồng khói thứ hai phụt ra từ đỉnh pháo đài, rồi lát sau, một tiếng nổ mới lại gầm lên.

Rồi những tiếng khác tiếp theo, và cứ chốc chốc, ngọn núi lại phả ra hơi thở chết chóc, thổi ra những làn hơi trắng như sữa, từ từ bay lên bầu trời lặng gió, kết thành một đám mây trên đỉnh núi.

Ông Xô-va-giơ nhún vai:

"Lại bắt đầu rồi đấy."

Ông Mô-ri-xô, đang lo lắng nhìn chiếc lông phao chìm xuống liên tiếp, bỗng nổi cơn giận của một người hiền lành đối với những kẻ điên cuồng đang đánh nhau như thế, và ông càu nhàu:

"Phải ngu lắm mới giết nhau như thế."

Ông Xô-va-giơ nói tiếp:

"Còn tệ hơn cả thú vật."

Và ông Mô-ri-xô, vừa câu được một con cá mương, tuyên bố:

"Thế mới biết, hễ còn có chính phủ là còn như thế mãi."

Ông Xô-va-giơ ngắt lời:

"Nền Cộng hoà thì đã chẳng tuyên chiến..."

Ông Mô-ri-xô ngắt lại:

"Có vua thì có chiến tranh với bên ngoài. Có Cộng hoà thì có chiến tranh ở bên trong."

Thế rồi họ thong thả tranh luận, gỡ rối những vấn đề chính trị lớn lao bằng lý lẽ lành mạnh của những người hiền lành và hạn hẹp, và cùng đồng ý ở một điểm, là người ta sẽ chẳng bao giờ được tự do. Còn núi Mông Va-lê-ri-ăng thì gầm không nghỉ, dùng đạn đại bác phá huỷ những ngôi nhà của người Pháp, nghiền nát những cuộc đời, đè bẹp những sinh linh, chấm dứt biết bao giấc mơ, biết bao niềm vui đang chờ đợi, biết bao hạnh phúc đang mong mỏi, mở ra trong trái tim những người vợ, trái tim những người con gái, trái tim những người mẹ, ở đằng kia, ở những xứ sở khác, những nỗi đau không bao giờ dứt.

Ông Xô-va-giơ tuyên bố:

"Đời là thế đấy."

Ông Mô-ri-xô vừa cười vừa nói:

"Nói đúng hơn, chết là thế đấy."

Nhưng họ giật nảy mình, hoảng hốt, vì cảm thấy rõ ràng có người vừa bước tới sau lưng. Quay lại, họ thấy, đứng sát vai mình, bốn người đàn ông, bốn người cao lớn, mang súng, râu ria xồm xoàm, ăn mặc như những gã hầu mặc chế phục, đội mũ lưỡi trai dẹt, đang chĩa súng vào họ.

Hai chiếc cần câu tuột khỏi tay họ, trôi xuôi theo dòng sông.

Chỉ trong mấy giây, họ bị tóm, bị trói, bị lôi đi, bị quăng xuống một chiếc thuyền và đưa sang đảo.

Và đằng sau ngôi nhà mà họ tưởng là bỏ hoang, họ nhìn thấy chừng hai mươi người lính Đức.

Một gã khổng lồ lông lá, ngồi giạng chân trên một chiếc ghế, đang hút một cái tẩu sứ to tướng, hỏi họ bằng một thứ tiếng Pháp rất sõi:

"Thế nào, thưa các ông, câu có được nhiều không?"

Thế là một người lính đặt dưới chân viên sĩ quan chiếc lưới đầy cá mà hắn đã cẩn thận mang theo. Tên sĩ quan Phổ mỉm cười:

"Ê! Ê! Tôi thấy cũng không đến nỗi tệ. Nhưng đây là chuyện khác. Nghe tôi nói đây, và đừng có hoảng.

Đối với tôi, các ông là hai tên gián điệp được phái tới để rình tôi. Tôi bắt các ông và tôi xử bắn các ông. Các ông giả vờ câu cá để che giấu ý đồ của mình cho kỹ. Các ông đã rơi vào tay tôi, thì xui cho các ông thôi. Chiến tranh mà.

Nhưng vì các ông đã đi ra qua các tiền đồn, chắc chắn các ông có mật khẩu để trở về. Đưa tôi mật khẩu ấy, tôi sẽ tha cho."

Hai người bạn, mặt tái mét, đứng sát cạnh nhau, hai bàn tay run lên khe khẽ, cứ im lặng.

Viên sĩ quan nói tiếp:

"Sẽ chẳng bao giờ có ai biết. Các ông sẽ yên ổn trở về. Điều bí mật sẽ biến mất cùng các ông. Nếu các ông từ chối, thì chết, chết ngay lập tức. Chọn đi."

Họ vẫn đứng yên, không mở miệng.

Tên sĩ quan Phổ, vẫn bình thản, chìa tay về phía dòng sông, nói tiếp:

"Hãy nghĩ rằng năm phút nữa các ông sẽ nằm dưới đáy nước kia. Năm phút nữa! Các ông hẳn cũng có cha mẹ vợ con chứ?"

Núi Mông Va-lê-ri-ăng vẫn gầm.

Hai người câu cá vẫn đứng đó, im lặng. Tên Đức ra lệnh bằng tiếng của hắn. Rồi hắn dời ghế đi chỗ khác cho khỏi ở quá gần những tù nhân. Và mười hai người lính bước tới đứng cách đó hai mươi bước, súng chống xuống đất.

Viên sĩ quan nói tiếp:

"Tôi cho các ông một phút, không hơn hai giây."

Rồi hắn đột ngột đứng dậy, tới gần hai người Pháp, khoác tay ông Mô-ri-xô kéo ra xa hơn, nói khẽ:

"Mau lên, mật khẩu là gì? Bạn ông sẽ chẳng biết gì đâu. Tôi sẽ làm ra vẻ mủi lòng."

Ông Mô-ri-xô không đáp lời nào.

Thế là tên Phổ kéo ông Xô-va-giơ ra và hỏi đúng câu ấy.

Ông Xô-va-giơ không trả lời.

Hai người lại đứng cạnh nhau.

Và viên sĩ quan bắt đầu hô lệnh. Lính giơ súng lên.

Lúc ấy, ánh mắt ông Mô-ri-xô tình cờ rơi xuống chiếc lưới đầy cá bống, nằm trên cỏ, cách ông mấy bước.

Một tia nắng làm lấp lánh đống cá vẫn còn giãy giụa. Và một cơn yếu lòng tràn ngập lấy ông. Dù đã cố gắng, mắt ông vẫn đẫm lệ.

Ông ấp úng:

"Vĩnh biệt ông Xô-va-giơ."

Ông Xô-va-giơ đáp:

"Vĩnh biệt ông Mô-ri-xô."

Hai người bắt tay nhau, run lên từ đầu tới chân, những cơn run không sao kìm được.

Viên sĩ quan hô:

"Bắn!"

Mười hai phát súng nổ như một.

Ông Xô-va-giơ đổ sập xuống, úp mặt. Ông Mô-ri-xô, cao hơn, chao đi, xoay người, rồi ngã vật ngang lên người bạn, mặt ngửa lên trời, trong khi máu ồng ộc tuôn ra từ chiếc áo bị thủng ở ngực.

Tên Đức lại ra lệnh mới.

Lính của hắn tản ra, rồi quay lại với dây thừng và đá, buộc vào chân hai người chết. Rồi chúng khiêng họ ra bờ sông.

Núi Mông Va-lê-ri-ăng vẫn không ngừng gầm, giờ đã đội cả một núi khói.

Hai người lính nắm đầu và chân ông Mô-ri-xô. Hai người khác cũng nắm ông Xô-va-giơ y như thế. Hai cái xác, được đung đưa thật mạnh một lúc, bị ném ra xa, vẽ một đường vòng cung, rồi lao xuống sông, đứng thẳng, những hòn đá kéo chân xuống trước.

Nước bắn tung toé, sủi bọt, lăn tăn, rồi lặng đi, trong khi những đợt sóng nhỏ xíu lan tới tận bờ.

Một chút máu nổi lềnh bềnh.

Viên sĩ quan, vẫn thản nhiên, nói khẽ:

"Giờ thì tới lượt cá."

Rồi hắn quay về phía ngôi nhà.

Và bỗng hắn nhìn thấy chiếc lưới đựng cá bống trên cỏ. Hắn nhặt lên, xem xét, mỉm cười, rồi gọi to:

"Vin-hem!"

Một người lính đeo tạp dề trắng chạy tới. Và tên Phổ, ném cho hắn mẻ cá của hai người vừa bị bắn, ra lệnh:

"Rán ngay cho tao mấy con vật nhỏ này lúc chúng còn đang sống. Ngon tuyệt đấy."

Rồi hắn lại tiếp tục hút tẩu.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Deux amis, 1883, tập Mademoiselle Fifi, Ollendorff 1898
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →