Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hai quý ông ngày lễ Tạ ơn

của O. Henry

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 11.049 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Có một ngày là của riêng chúng ta. Có…
  2. 2:04Chắc chắn là Pít không đói. Lão vừa đi…
  3. 4:50Ông Già đi thẳng tới, dáng đường bệ, về…
  4. 6:41Pít Nhồi vẫn thắc mắc sao Ông Già đọc…
  5. 8:54Ông Già dẫn người được mình bảo trợ hằng…
  6. 10:05Cám ơn ông nhiều lắm, thưa ông, lão phì…
  7. 11:08Và kìa! Một giờ sau, một chiếc xe cứu…

Có một ngày là của riêng chúng ta. Có một ngày mà tất cả người Mĩ chúng ta, những ai không thuộc loại tự tay làm nên cơ nghiệp, lại trở về quê cũ ăn bánh quy nở bằng muối nở, và ngạc nhiên sao cái máy bơm nước cũ trông như gần hiên nhà hơn ngày trước nhiều đến thế. Phúc thay ngày ấy. Ngài tổng thống Ru-dơ-ven ban nó cho chúng ta. Ta có nghe người ta nói gì đó về những người Thanh giáo, nhưng chẳng nhớ rõ họ là ai. Dám cá là ta đánh bại được họ, nếu họ lại tìm cách đổ bộ lần nữa. Tảng đá Plai-mơt ư? Chà, nghe quen hơn đấy, chẳng phải tên một giống gà sao. Từ khi bọn tập đoàn gà tây ra tay, khối người trong chúng ta đã phải chuyển sang ăn gà mái. Nhưng hẳn có kẻ nào ở Oa-sinh-tơn đang tuồn trước cho bọn chúng tin về những bản tuyên cáo lễ Tạ ơn này.

Cái thành phố lớn nằm phía đông những đầm việt quất đã biến ngày lễ Tạ ơn thành một định chế. Thứ năm cuối cùng của tháng Mười một là ngày duy nhất trong năm mà nó chịu thừa nhận phần nước Mĩ nằm bên kia những chuyến phà. Đó là ngày duy nhất thuần tuý Mĩ. Phải, một ngày lễ, của riêng người Mĩ.

Và giờ là câu chuyện sẽ chứng minh cho bạn thấy rằng ở bên này đại dương, chúng ta cũng có những truyền thống, và chúng đang già đi nhanh hơn nhiều so với truyền thống của nước Anh, nhờ tính năng nổ, xông xáo của chúng ta.

Pít Nhồi ngồi xuống chiếc ghế dài thứ ba bên tay phải, khi bạn đi vào quảng trường Liên Hiệp từ phía đông, ở lối đi đối diện đài phun nước. Mỗi ngày lễ Tạ ơn suốt chín năm nay, lão đều ngồi xuống đó đúng một giờ chiều. Vì lần nào lão ngồi đó, những chuyện kì diệu lại xảy tới với lão, những chuyện kiểu truyện Sác-lơ Đích-ken, làm phồng chiếc áo gi-lê của lão lên, bên ngực trái, và cả bên ngực phải nữa.

Nhưng hôm nay, việc Pít Nhồi có mặt ở chỗ hẹn hằng năm có vẻ là do thói quen thì đúng hơn là do cơn đói hằng năm, cái cơn đói mà các nhà từ thiện dường như nghĩ rằng chỉ hành hạ người nghèo cách quãng xa nhau đến vậy.

Chắc chắn là Pít không đói. Lão vừa đi dự một bữa tiệc, bữa tiệc để lại cho lão vỏn vẹn hai khả năng là thở và đi lại. Đôi mắt lão như hai quả lí gai nhợt nhạt cắm chặt vào một cái mặt nạ bằng mát-tít phù nề, dính đầy nước sốt. Hơi thở lão khò khè từng hơi ngắn. Một vòng mỡ to như của ngài nghị sĩ không cho chiếc cổ áo dựng lên của lão nằm cho đúng mốt. Những chiếc khuy mà các bàn tay tử tế của Đội quân Cứu thế khâu lên quần áo lão tuần trước bắn ra như bỏng ngô, vương vãi quanh lão. Lão rách rưới, áo sơ mi toạc trước ngực hở tới tận xương ức. Nhưng làn gió tháng Mười một mang theo những bông tuyết nhỏ chỉ đem lại cho lão một hơi mát dễ chịu. Bởi Pít Nhồi đang quá tải nhiệt lượng do một bữa tối thịnh soạn quá mức sinh ra, bắt đầu bằng sò, kết thúc bằng bánh pudding mận, và gồm, lão có cảm giác như thế, tất cả gà tây quay, khoai tây nướng, xa-lát gà, bánh bí ngô và kem trên đời này. Vì thế lão ngồi đó, no căng, nhìn thế gian bằng cái nhìn khinh khỉnh của kẻ vừa ăn no.

Bữa ăn ấy là một bữa bất ngờ. Lão đi ngang qua một toà dinh thự gạch đỏ gần đầu Đại lộ Năm, nơi có hai bà già dòng dõi lâu đời, rất tôn trọng truyền thống. Hai bà thậm chí còn chối bỏ sự tồn tại của New York, và tin rằng ngày lễ Tạ ơn được công bố chỉ dành riêng cho quảng trường Oa-sinh-tơn. Một trong những thói quen truyền thống của hai bà là cho một người hầu đứng ở cổng sau, dặn rằng hễ đồng hồ điểm trưa là đưa người lữ khách đói khát đầu tiên đi ngang qua vào, đãi cho no nê tới tận cùng. Pít Nhồi tình cờ đi ngang qua trên đường tới công viên, và bọn quản gia lùa lão vào, giữ đúng tục lệ của toà lâu đài.

Sau khi nhìn thẳng phía trước suốt mười phút, Pít Nhồi cảm thấy muốn có một tầm nhìn phong phú hơn. Bằng một nỗ lực phi thường, lão từ từ xoay đầu sang trái. Thế rồi đôi mắt lão lồi ra đầy kinh hãi, hơi thở lão ngưng lại, và hai đầu đôi chân ngắn ngủn đi giày rách của lão ngọ nguậy sột soạt trên sỏi.

Vì Ông Già đang băng qua Đại lộ Bốn, đi về phía chiếc ghế của lão.

Mỗi ngày lễ Tạ ơn suốt chín năm nay, Ông Già đều tới đây và thấy Pít Nhồi ngồi trên ghế. Đó là việc mà Ông Già đang cố biến thành một truyền thống. Mỗi ngày lễ Tạ ơn suốt chín năm nay, ông đều tìm thấy Pít ở đó, dẫn lão tới một nhà hàng và ngồi nhìn lão ăn một bữa thật thịnh soạn. Ở nước Anh, người ta làm những việc như thế một cách vô thức. Nhưng đây là một đất nước còn trẻ, và chín năm cũng chẳng tệ lắm. Ông Già là một người Mĩ yêu nước kiên định, và tự coi mình là người tiên phong trong việc tạo dựng truyền thống Mĩ. Muốn trở nên đáng chú ý, ta phải làm mãi một việc trong một thời gian dài, không bao giờ để nó tuột khỏi tay. Đại loại như đi thu tiền bảo hiểm mười xu mỗi tuần. Hay quét đường.

Ông Già đi thẳng tới, dáng đường bệ, về phía cái Định chế mà ông đang vun đắp. Quả thật, việc mỗi năm nuôi Pít Nhồi một bữa chẳng có tính chất quốc gia gì, như bản Đại Hiến chương hay món mứt ăn sáng ở nước Anh. Nhưng đó là một bước tiến. Nó gần như mang tính phong kiến. Ít ra nó cũng cho thấy rằng một Tục lệ không phải là điều không thể có ở New Y... e hèm, ở nước Mĩ.

Ông Già gầy, cao, sáu mươi tuổi. Ông mặc toàn đồ đen, đeo loại kính kẹp mũi kiểu cổ cứ chực tuột khỏi mũi. Tóc ông bạc hơn, thưa hơn năm ngoái, và hình như ông chống chiếc gậy to, nhiều mấu, cán cong của mình nhiều hơn.

Khi ân nhân lâu năm của mình bước tới, Pít Nhồi khò khè, run rẩy như con chó cảnh béo quá cỡ của một bà nào đó khi bị một con chó hoang xù lông lên doạ. Lão đã muốn bay đi, nhưng cả tài nghệ của nhà phi công Xăng-tốt Đuy-mông cũng không tách nổi lão khỏi chiếc ghế. Bọn người hầu của hai bà già đã làm tròn việc của chúng.

— Chào anh, Ông Già nói. Tôi mừng thấy những thăng trầm của thêm một năm nữa đã tha cho anh, để anh còn khoẻ mạnh đi lại trên thế gian tươi đẹp. Chỉ riêng phúc lành ấy thôi cũng đủ để ngày lễ Tạ ơn này đáng được công bố cho mỗi người chúng ta. Nếu anh đi với tôi, anh bạn, tôi sẽ đãi anh một bữa tối khiến cho thể xác anh được hài hoà với tinh thần.

Lần nào Ông Già cũng nói đúng như thế. Mỗi ngày lễ Tạ ơn suốt chín năm nay. Chính những lời ấy gần như đã thành một Định chế. Chẳng gì sánh được với chúng, ngoài bản Tuyên ngôn Độc lập. Trước kia, chúng luôn là tiếng nhạc trong tai Pít Nhồi. Nhưng giờ đây lão ngước nhìn khuôn mặt Ông Già, trên mặt lão là một nỗi thống khổ đẫm nước mắt. Tuyết nhỏ rơi xuống vầng trán đẫm mồ hôi của lão gần như kêu xèo xèo. Còn Ông Già thì hơi rùng mình, quay lưng về phía gió.

Pít Nhồi vẫn thắc mắc sao Ông Già đọc bài diễn văn của mình với giọng buồn buồn như thế. Lão không biết rằng đó là vì lần nào ông cũng ước gì mình có một đứa con trai để nối nghiệp. Một đứa con sẽ tới đây sau khi ông đã khuất, một đứa con sẽ đứng hiên ngang, mạnh mẽ trước một Pít Nhồi nào đó đời sau, và nói: "Để tưởng nhớ cha tôi." Lúc ấy nó mới thành một Định chế.

Nhưng Ông Già không có họ hàng thân thích. Ông sống trong mấy căn phòng thuê ở một toà dinh thự bằng đá nâu của một gia đình lâu đời nay đã sa sút, trên một con phố yên tĩnh phía đông công viên. Mùa đông, ông trồng hoa vân anh trong một nhà kính nhỏ bằng cái hòm đi tàu thuỷ. Mùa xuân, ông dạo bước trong đoàn diễu hành lễ Phục sinh. Mùa hè, ông ở một trang trại trên đồi vùng Niu Giơ-xi, ngồi trên chiếc ghế bành bằng mây, nói về một loài bướm phượng cánh chim mà ông mong một ngày nào đó sẽ tìm thấy. Mùa thu, ông đãi Pít Nhồi một bữa tối. Đó là những công việc của Ông Già.

Pít Nhồi ngước nhìn ông nửa phút, ngập trong nỗi tự thương thân, bất lực. Đôi mắt Ông Già sáng lên niềm vui được ban phát. Khuôn mặt ông mỗi năm một thêm nhiều nếp nhăn, nhưng chiếc cà vạt đen nhỏ vẫn thắt thành chiếc nơ duyên dáng như xưa, áo sơ mi vải lanh trắng tinh đẹp đẽ, và bộ ria xám được vuốt cong cẩn thận ở hai đầu. Rồi Pít Nhồi phát ra một tiếng nghe như tiếng đậu sôi lục bục trong nồi. Lão đang định nói đấy. Và vì Ông Già đã nghe những âm thanh ấy chín lần rồi, ông hiểu đúng rằng đó là câu công thức nhận lời quen thuộc của Pít Nhồi.

— Cám ơn ông. Tôi xin đi với ông, đội ơn ông lắm. Tôi đói lắm, thưa ông.

Cơn mê mụ vì no căng không ngăn được niềm tin len vào đầu Pít Nhồi rằng lão chính là nền móng của một Định chế. Cái thèm ăn ngày lễ Tạ ơn của lão không còn là của lão nữa. Theo mọi quyền thiêng liêng của tục lệ đã định, nó thuộc về ông già tốt bụng đã giành trước nó. Đúng thế, nước Mĩ là tự do, nhưng muốn dựng nên truyền thống, phải có ai đó làm con số lặp lại, như phần thập phân tuần hoàn. Đâu phải anh hùng nào cũng là anh hùng của thép và vàng. Đây là một người chỉ cầm những vũ khí bằng sắt mạ bạc nham nhở và bằng thiếc.

Ông Già dẫn người được mình bảo trợ hằng năm đi về phía nam, tới nhà hàng, tới đúng chiếc bàn nơi bữa tiệc vẫn luôn diễn ra. Người ta nhận ra họ.

— Ông già kia lại tới kìa, một người hầu bàn nói, cái ông năm nào lễ Tạ ơn cũng đãi đúng cái gã lang thang ấy một bữa.

Ông Già ngồi bên kia bàn, rạng rỡ như một viên ngọc trai hun khói, nhìn hòn đá tảng của Truyền thống cổ xưa mai sau của mình. Những người hầu bàn chất đầy bàn những món ăn ngày lễ. Và Pít Nhồi, với một tiếng thở dài mà người ta tưởng là biểu hiện của cơn đói, nâng dao dĩa lên, tự tạc cho mình một vòng nguyệt quế bất tử.

Chưa từng có người anh hùng nào dũng cảm hơn thế chém đường máu qua hàng ngũ quân thù. Gà tây, sườn, xúp, rau, bánh nướng, biến mất trước mặt lão nhanh như người ta dọn ra. Lúc bước vào nhà hàng, lão đã no gần tới mức không thể no hơn, mùi thức ăn suýt làm lão mất danh dự của một quý ông, nhưng lão đã gượng lại như một hiệp sĩ đích thực. Lão thấy vẻ hạnh phúc nhân từ trên khuôn mặt Ông Già, một vẻ hạnh phúc hơn cả những gì hoa vân anh và loài bướm phượng cánh chim từng đem lại cho ông, và lão không nỡ nhìn nó tắt đi.

Một tiếng sau, Pít Nhồi ngả người ra sau, trận chiến đã thắng.

— Cám ơn ông nhiều lắm, thưa ông, lão phì phò như một ống hơi bị rò, cám ơn ông về bữa ăn thịnh soạn.

Rồi lão nặng nề đứng dậy, mắt đờ đẫn, đi về phía nhà bếp. Một người hầu bàn xoay lão lại như xoay con quay, chỉ cho lão hướng ra cửa. Ông Già cẩn thận đếm ra một đô-la ba mươi xu tiền lẻ bằng bạc, để lại ba đồng năm xu cho người hầu bàn.

Họ chia tay nhau ở cửa như năm nào cũng thế, Ông Già đi về phía nam, Pít Nhồi đi về phía bắc.

Tới góc phố đầu tiên, Pít Nhồi rẽ, đứng lại một phút. Rồi lão dường như xù đống quần áo rách rưới lên như con cú xù lông, rồi đổ vật xuống vỉa hè như một con ngựa bị cảm nắng.

Khi xe cứu thương tới, viên bác sĩ trẻ và người lái xe khẽ chửi thề vì lão nặng quá. Chẳng có mùi rượu nào để đưa lão sang xe tuần tra của cảnh sát, nên Pít Nhồi cùng hai bữa tối của lão được chở tới bệnh viện. Ở đó người ta đặt lão lên giường, bắt đầu khám xem lão có mắc bệnh gì lạ không, mong có dịp thử sức với một ca nào đó bằng con dao mổ.

Và kìa! Một giờ sau, một chiếc xe cứu thương khác chở Ông Già tới. Người ta đặt ông lên một chiếc giường khác, và bàn chuyện viêm ruột thừa, vì trông ông có vẻ trả nổi tiền viện phí.

Nhưng chẳng bao lâu, một trong những bác sĩ trẻ gặp một cô y tá trẻ có đôi mắt anh ưa nhìn, liền dừng lại chuyện trò với cô về các ca bệnh.

— Ông già dễ mến đằng kia ấy, anh nói, cô không ngờ đấy là một ca suýt chết đói đâu. Chắc là dòng dõi lâu đời, sĩ diện lắm. Ông ấy bảo tôi là ba ngày nay ông ấy chưa ăn gì.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1905
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Two Thanksgiving Day Gentlemen, O. Henry, in trong tuyển tập The Trimmed Lamp
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →