Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hàn Sơn và Thập Đắc

của Mori Ōgai

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 12.986 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Nghe nói là vào khoảng niên hiệu Trinh Quán…
  2. 2:43Vị sư nói:
  3. 4:21A. Khỏi rồi.
  4. 5:07Thầy Phong Can chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai.
  5. 8:04Chùa cũng biết là quan chủ bạ tới viếng,…
  6. 9:04Nói rồi, ông Lư đứng dậy.
  7. 10:08Nhặt về được chừng ba năm, nghe nói người…
  8. 11:26Một người đầu để trần, tóc mọc dài chừng…

Nghe nói là vào khoảng niên hiệu Trinh Quán đời Đường, tức là đầu thế kỷ thứ bảy bên phương Tây, khi Nhật Bản mới bắt đầu có cái gọi là niên hiệu. Có một vị quan tên là Lư Khâu Dận. Cũng có người bảo hình như chẳng có ai như thế. Vì sao? Vì tương truyền ông Lư làm chủ bạ Đài Châu, vậy mà cả Đường thư cũ lẫn Đường thư mới đều không thấy có truyện. Chủ bạ là chức quan ngang với thứ sử hay thái thú. Toàn cõi Trung Hoa chia thành đạo, đạo chia thành châu hoặc quận, châu quận chia thành huyện, dưới huyện có hương, dưới hương có lý. Đứng đầu châu gọi là thứ sử, đứng đầu quận gọi là thái thú. Ông Y-ô-si-đa Tô-gô còn kêu ca rằng ở Nhật đem tên quận đặt cho đơn vị nhỏ hơn huyện thì thật chẳng ra sao. Nếu ông Lư quả là chủ bạ Đài Châu, thì cũng cỡ quan tri phủ tri huyện ở Nhật. Thế thì hẳn phải có tên trong liệt truyện Đường thư, người ta bảo vậy. Nhưng không có ông Lư thì câu chuyện không thành, nên dẫu sao cứ coi như có ông ấy.

Ông Lư tới nhậm chức ở Đài Châu đã được ba ngày. Một người ở Trường An quen đội bụi đất miền bắc Trung Hoa, quen uống nước đục, nay tới Đài Châu được giẫm lên đất màu mỡ miền trung, uống nước trong, nên vui vẻ lắm. Lại thêm trong ba ngày ấy, đông đảo thuộc lại tới yết kiến. Ai lo việc nấy lần lượt báo cáo cho đủ lề lối. Giữa cảnh tất bật ấy, ông nếm được cái uy thế lớn lao của một vị quan đầu địa phương, nên lòng phơi phới hả hê.

Hôm trước ông đã dặn thuộc lại, sáng nay dậy sớm, lên đường tới chùa Quốc Thanh ở huyện Thiên Thai. Việc này ông đã định từ hồi còn ở Trường An, rằng tới Đài Châu là phải đi ngay.

Ông tới chùa Quốc Thanh có việc gì? Ấy là có duyên cớ. Khi ông Lư nhận chức chủ bạ ở Trường An, sắp sửa lên đường tới nhiệm sở, thì khốn nỗi lên một cơn nhức đầu không sao chịu nổi. Chỉ là chứng nhức đầu phong thấp thông thường, nhưng ông Lư vốn hơi nhạy cảm, nên uống thuốc của ông thầy thuốc quen mãi chẳng khỏi. Ông đang bàn với vợ, thế này chắc phải hoãn ngày đi, thì cô hầu gái tới thưa:

— Bẩm, vừa có một ông sư ăn mày tới trước cổng, xin được gặp ông chủ, vậy cho vào hay sao ạ?

— Hừm, sư à.

Ông Lư nghĩ ngợi một lúc, rồi bảo:

— Dẫu sao cứ gặp thử, cho vào đây.

Rồi ông bảo vợ lui vào trong.

Ông Lư vốn chỉ đọc kinh sách để đi thi, học làm thơ năm chữ, chứ chưa từng đọc kinh Phật, chưa từng nghiên cứu Lão Tử. Thế mà đối với sư sãi hay đạo sĩ, chẳng vì sao cả, ông vẫn có lòng kính trọng. Có lẽ nên gọi là lòng kính trọng mù quáng đối với những điều mình không hiểu. Vì thế nghe nói có sư, ông bảo cho gặp.

Chẳng bao lâu, người bước vào là một vị sư cao lớn. Ông mặc áo cà sa rách rưới cáu ghét, mái tóc mọc dài cắt ngang trên lông mày. Xem ra ông để mặc cho tới khi tóc xoã xuống che mắt vướng víu mới cắt. Tay cầm cái bát sắt.

Vị sư đứng im lặng, nên ông Lư hỏi:

— Nghe nói thầy muốn gặp ta, có việc gì chăng?

Vị sư nói:

— Nghe nói ngài sắp đi Đài Châu. Lại nghe nói ngài đang khổ vì chứng nhức đầu. Bần tăng tới để chữa cho ngài.

— Quả đúng như lời thầy nói, ta đang tính hoãn ngày lên đường vì chứng nhức đầu ấy, thầy định chữa cho ta cách nào? Thầy biết phương thuốc gì chăng?

— Không. Bệnh làm khổ cái thân tứ đại vốn là ảo ảnh. Chỉ cần một bát nước sạch đầy trong cái bát khất thực này. Bần tăng sẽ dùng phép chú mà chữa.

— Ồ, thầy làm phép chú ư?

Ông nghĩ một chút, rồi nói:

— Chắc chẳng hề gì, xin thầy làm phép cho.

Ấy là vì ông vốn chẳng bao giờ suy nghĩ sâu về y đạo, chẳng có chủ kiến cách chữa nào thì cho làm, cách chữa nào thì không, nên chỉ dựa vào lý trí của mình mà phán đoán tuỳ lúc. Dĩ nhiên con người như thế thì ông thầy thuốc quen cũng chẳng phải đã kén chọn kỹ càng. Ông chẳng tìm một ông thầy thuốc chịu đọc sách Tố Vấn, Linh Khu, mà chỉ nhờ ông thầy thuốc ở gần nhà, gọi tới cho tiện, nên chẳng được uống thứ thuốc nào ra hồn. Lần này ông chịu nhờ ông sư ăn mày, là vì dáng điệu ông sư trông có vẻ cao siêu thế nào khiến ông tin, lại nghĩ phép chú dùng một bát nước thì có sai cũng chẳng nguy hiểm gì. Cũng hệt như các vị quan to ở Tô-ki-ô bây giờ đi nhờ phép chữa bằng ánh sáng đỏ hay thuật khí hợp.

Ông Lư gọi cô hầu, bảo múc nước mới vào bát mang lại. Nước mang tới. Vị sư đỡ lấy, nâng trước ngực, nhìn chằm chằm ông Lư. Nước sạch cũng được, nước bẩn cũng được, nước nóng hay nước trà cũng được. Không phải nước bẩn, ấy là may cho ông Lư lắm. Bị nhìn chằm chằm một lúc, ông Lư bất giác dồn hết tâm trí vào bát nước vị sư đang nâng.

Lúc ấy vị sư ngậm một ngụm nước trong bát sắt, bất thình lình phun "phù" vào đầu ông Lư.

Ông Lư giật mình, mồ hôi lạnh toát ra sau lưng.

— Đầu ngài còn nhức không?

Vị sư hỏi.

— A. Khỏi rồi.

Quả thật cơn nhức đầu mà ông Lư trước nay cứ chăm chăm để ý, nhức đầu quá, nhức đầu quá, mãi chẳng khỏi, nay vì bị bát nước của ông sư làm cho phân tâm, nên đã để nó chạy mất.

Vị sư lặng lẽ nghiêng bát, đổ chỗ nước còn lại xuống sàn. Rồi vừa nói "Vậy bần tăng xin cáo từ", đã quay lưng lại phía ông Lư, đi về phía cửa.

— Khoan đã.

Ông Lư gọi giật lại.

Vị sư ngoảnh lại:

— Ngài có việc gì?

— Ta muốn có chút lòng thành tạ ơn thầy.

— Không. Bần tăng đi khất thực là để làm lợi cho chúng sinh, để hàng phục lòng kiêu mạn, chứ không lấy tiền chữa bệnh.

— Ra thế. Vậy ta không dám nài. Ta muốn được biết thầy ở đâu tới.

— Chỗ bần tăng ở bấy lâu ư? Đó là chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai.

— À. Thầy ở Thiên Thai. Pháp danh thầy là gì?

— Bần tăng là Phong Can.

— Thầy Phong Can chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai.

Ông Lư nhíu mày như cố ghi nhớ cho thật kỹ:

— Ta cũng sắp đi Đài Châu, nên càng thấy thân thiết. Nhân tiện ta muốn hỏi, ở Đài Châu có bậc cao nhân nào đáng tới gặp cho được lợi ích chăng?

— Có đấy ạ. Ở chùa Quốc Thanh có một người tên là Thập Đắc. Thật ra là Phổ Hiền. Lại ở phía tây chùa có một hang đá tên là Hàn Nham, ở đó có một người tên là Hàn Sơn. Thật ra là Văn Thù. Thôi, bần tăng xin cáo từ.

Nói xong, ông vụt đi ra.

Có duyên cớ như vậy, nên ông Lư lên đường tới chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai.

Nói chung, thái độ của người đời đối với cái gọi là đạo, là tôn giáo, có ba loại. Những người mải mê nghề nghiệp, chỉ cặm cụi lo toan cho qua năm tháng, thì chẳng ngó ngàng gì tới đạo. Kẻ đọc sách cũng vậy. Dĩ nhiên đọc sách mà nghĩ sâu, thì không thể không tới được đạo. Nhưng chẳng nghĩ tới mức ấy, thì vẫn cứ lo xong việc hằng ngày được. Đó là những người hoàn toàn dửng dưng.

Kế đến là những người để tâm cầu đạo. Có khi chuyên tâm cầu đạo mà vứt bỏ mọi sự, có khi vẫn không sao nhãng việc hằng ngày mà lòng lúc nào cũng hướng về đạo. Vào đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật hay đạo Cơ Đốc cũng thế cả. Những người như thế vào sâu rồi, thì việc hằng ngày cũng chính là đạo. Nói gọn lại, đó đều là những người cầu đạo.

Ở giữa người dửng dưng và người cầu đạo, có những người thừa nhận một cách khách quan rằng có cái gọi là đạo, đối với nó chẳng phải hoàn toàn dửng dưng, nhưng cũng chẳng tự mình đi cầu đạo, đành cho mình là người xa đạo, và nghĩ rằng có những người khác gần gũi với đạo, rồi kính trọng những người ấy. Lòng kính trọng thì loại người nào cũng có, nhưng nếu chỉ xét trường hợp cùng kính trọng một đối tượng, thì ở người cầu đạo, đó là kẻ đi sau kính trọng người đi trước, còn ở hạng người lưng chừng nói đây, thì đó là kính trọng điều mình không hiểu, không lĩnh hội được. Lòng kính trọng mù quáng sinh ra từ đó. Kính trọng mù quáng thì dẫu tình cờ hướng đúng đối tượng, cũng chẳng được ích gì.

Ông Lư thay áo, ngồi kiệu, rời quan thự Đài Châu. Theo hầu có mấy chục người.

Lúc ấy là đầu đông, sương đã xuống lơ thơ. Đoàn người vòng vèo theo bờ trái con sông Thuỷ Phong, một nhánh của sông Tiêu, đi về phía bắc. Bầu trời lúc đầu u ám dần dần quang đãng, mặt trời nhợt nhạt chiếu lên lá đỏ hai bên bờ. Già trẻ gặp trên đường đều tránh kiệu mà quỳ xuống. Ngồi trong kiệu, ông Lư khoan khoái vô cùng. Làm quan chăn dân mà lại biết lễ người hiền, ông thấy đó như một công trạng, khiến ông mãn nguyện lắm.

Từ Đài Châu tới huyện Thiên Thai chừng sáu mươi dặm. Vì cho kiệu đi thong thả, nên khi gặp quan lại huyện ra đón thì đã quá trưa. Nghỉ ở quan thự quan tri huyện, vừa được thết đãi vừa hỏi chuyện, thì biết từ đây tới chùa Quốc Thanh còn sáu mươi dặm đường dốc nữa. Tới nơi chắc đã sang đêm. Thế là ông Lư nghỉ lại ở quan thự tri huyện.

Sáng hôm sau, được quan tri huyện tiễn, ông lên đường. Hôm nay trời vẫn đẹp như hôm qua. Bảo núi Thiên Thai cao một vạn tám nghìn trượng, thì chẳng biết ai đo bao giờ, chắc chắn là cao quá rồi, nhưng dẫu sao đó cũng là ngọn núi có hổ. Đường đi chẳng nhanh được như hôm qua. Ăn trưa dọc đường, khi mặt trời bắt đầu ngả về tây thì tới cổng tam quan chùa Quốc Thanh. Đó là ngôi chùa nghe nói do Tuỳ Dạng Đế dựng sau khi Trí Giả đại sư viên tịch.

Chùa cũng biết là quan chủ bạ tới viếng, nên chẳng dám sơ suất. Một vị sư tên Đạo Kiều ra đón, dẫn ông Lư vào phòng khách. Mời trà bánh xong, ông Lư hỏi:

— Quý chùa có vị sư nào tên Phong Can chăng?

Đạo Kiều đáp:

— Thầy Phong Can ư? Mới dạo trước thầy còn ở tăng viện phía sau chính điện, nhưng đi hành cước rồi không về nữa.

— Ở chùa, thầy ấy làm việc gì?

— Thưa, thầy giã gạo cho chư tăng ăn.

— À. Thế thầy ấy có gì khác với các vị sư khác không?

— Có chứ ạ. Vì thế mà thầy Phong Can, lúc đầu chúng con chỉ coi là một người bạn tu chẳng tiếc sức, tốt bụng, về sau chúng con mới kính trọng. Thế rồi một hôm thầy bỗng bỏ đi mất.

— Có chuyện gì vậy?

— Thật là chuyện lạ lùng. Một hôm thầy từ trên núi cưỡi hổ trở về. Rồi cứ thế vào hành lang, ngồi trên lưng hổ vừa đi vừa ngâm thơ. Thầy vốn thích ngâm thơ, ở tăng viện phía sau cũng vậy, đêm đến là ngâm thơ.

— À. Một vị A-la-hán sống đấy. Chỗ tăng viện cũ ấy giờ ra sao?

— Bây giờ vẫn bỏ trống, nhưng thỉnh thoảng đêm đến, hổ vẫn tới gầm.

— Vậy phiền thầy dẫn ta tới đó.

Nói rồi, ông Lư đứng dậy.

Đạo Kiều vừa gạt mạng nhện vừa đi trước, dẫn ông Lư tới ngôi nhà trống nơi Phong Can từng ở. Trời đã sắp tối, nhìn quanh trong nhà mờ mờ, trống trơn chẳng có gì. Đạo Kiều cúi xuống chỉ những dấu chân hổ trên nền đá lát. Vừa lúc ấy một làn gió núi thổi qua ngoài cửa sổ, cuốn bay đống lá rụng chất cao trong sân. Tiếng xào xạc phá tan sự im lặng, ông Lư thấy như chân tóc bị siết chặt, khắp người nổi da gà.

Ông Lư vội vã ra khỏi ngôi nhà trống. Rồi bảo Đạo Kiều đi theo sau:

— Vị sư tên Thập Đắc còn ở chùa không?

Đạo Kiều ngờ vực nhìn mặt ông Lư:

— Ngài biết rõ quá. Lúc nãy nó đang ngồi sưởi lửa trong nhà bếp đằng kia với một người tên Hàn Sơn, nếu ngài có việc, để con gọi tới.

— À. Cả Hàn Sơn cũng tới đó ư? Thật là ao ước không được. Phiền thầy nhân thể dẫn ta tới nhà bếp.

— Xin vâng.

Đạo Kiều nói rồi men theo chính điện đi về phía tây.

Ông Lư ở phía sau hỏi:

— Thầy Thập Đắc ở chùa từ bao giờ?

— Đã lâu lắm rồi ạ. Nó là đứa bé bị bỏ rơi, thầy Phong Can nhặt được trong rừng thông mang về.

— À. Thế ở chùa thầy ấy làm việc gì?

— Nhặt về được chừng ba năm, nghe nói người ta cho nó thắp hương, thắp đèn, dâng đồ cúng trước tượng vị thượng toạ ở trai đường. Rồi một hôm, nó dâng cơm lên tượng thượng toạ xong, bị bắt gặp ngồi đối diện ăn chung với tượng. Hình như nó chẳng biết tượng tôn giả Tân Đầu Lư quý báu tới đâu mà làm thế. Bây giờ thì cho nó rửa bát đĩa của chư tăng trong nhà bếp.

— À.

Ông Lư nói, đi hai ba bước rồi hỏi:

— Còn người thầy vừa nhắc, Hàn Sơn, là người thế nào?

— Hàn Sơn ư? Đó là người ở trong một hang đá tên Hàn Nham phía tây chùa. Thập Đắc khi rửa bát, gom cơm thừa rau thừa bỏ vào ống tre cất đi, thì Hàn Sơn tới xin.

— Ra thế.

Ông Lư nói rồi theo sau. Trong lòng ông nghĩ, nếu Hàn Sơn và Thập Đắc làm những việc như thế mà là Văn Thù, Phổ Hiền, thì Phong Can cưỡi hổ là gì nhỉ, như một người nhà quê đi xem hát, bối rối không biết vai nào là đào kép nào.

— Chỗ này bẩn thỉu lắm ạ.

Đạo Kiều vừa nói vừa dẫn ông Lư vào trong nhà bếp.

Trong này hơi nước đặc quánh, mới bước vào không nhìn rõ được gì. Trong màu xám ấy có ba cái bếp lớn, bếp nào cũng còn củi cháy đỏ rực. Đứng nhìn một lúc, mới thấy trên những chiếc bàn xây liền dọc vách đá, đông đảo chư tăng đang múc cơm, rau, canh từ nồi ra.

Lúc ấy Đạo Kiều quay vào phía trong, gọi:

— Này, Thập Đắc.

Ông Lư nhìn theo ánh mắt ấy, về phía chiếc bếp xa cửa nhất, thì thấy có hai vị sư đang ngồi thu mình sưởi lửa.

Một người đầu để trần, tóc mọc dài chừng vài đốt ngón tay, chân đi dép cỏ. Người kia đội chiếc mũ đan bằng vỏ cây, chân đi guốc gỗ. Cả hai đều là những người nhỏ thó, gầy gò, xác xơ, chẳng phải người to lớn như Phong Can.

Khi Đạo Kiều gọi, người đầu để trần ngoảnh lại cười nhăn nhở, nhưng không đáp. Hẳn đây là Thập Đắc. Người đội mũ chẳng động đậy. Có lẽ đó là Hàn Sơn.

Ông Lư đoán vậy, rồi bước lại gần hai người. Ông chắp tay áo, cung kính vái chào, xưng danh:

— Tôi là Lư Khâu Dận, triều nghị đại phu, sứ trì tiết, chủ bạ Đài Châu, thượng trụ quốc, được ban túi cá đỏ.

Hai người cùng lúc liếc nhìn ông Lư một cái. Rồi hai người nhìn nhau, bật lên một tràng cười như trào lên từ đáy bụng, rồi cùng đứng dậy, chạy ra khỏi nhà bếp mà trốn mất. Lúc chạy, nghe thấy Hàn Sơn nói:

— Phong Can lắm mồm rồi.

Ông Lư sững sờ nhìn theo, chung quanh ông, những vị sư đang múc cơm, rau, canh lũ lượt kéo tới vây quanh. Đạo Kiều mặt tái nhợt, đứng chết trân.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMori Ōgai (1862 – 1922)
Năm mất1922
Xuất bản lần đầu1916
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 寒山拾得 (Kanzan Jittoku), Mori Ōgai, tạp chí Shin Shōsetsu, tháng 1 năm 1916
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →