Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hầu tước Phuy-mơ-rôn

của Guy de Maupassant

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 13.485 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Rô-giê đờ Tuốc-nơ-vin, giữa vòng bạn bè, ngồi cưỡi…
  2. 2:35Mười lăm phút sau, cha Poa-vrông bước vào phòng…
  3. 4:31Bà ta càu nhàu:
  4. 5:14Mấy cô nào?
  5. 5:51Mấy cô ấy đặt tôi món trứng tráng pho…
  6. 7:30Tôi ngước nhìn hai cô gái, rồi nhẹ nhàng…
  7. 8:59Thế là cha xứ lùi lại, và tôi cũng…
  8. 11:14Mẹ tôi lúc ấy thật tuyệt vời! Bà đi…

Rô-giê đờ Tuốc-nơ-vin, giữa vòng bạn bè, ngồi cưỡi ngược trên một chiếc ghế mà kể chuyện. Anh cầm điếu xì gà trong tay, thỉnh thoảng lại rít một hơi và thả ra một làn khói nhỏ.

Chúng tôi đang ngồi ăn thì người ta mang vào một bức thư. Bố tôi mở ra. Các cậu biết bố tôi rồi đấy, ông cứ tưởng mình đang tạm giữ ngôi vua ở nước Pháp. Tôi thì gọi ông là Đông Ki-sốt, vì suốt mười hai năm ông đã đánh nhau với cái cối xay gió Cộng hoà mà chẳng biết rõ là nhân danh dòng Buốc-bông hay nhân danh dòng Oóc-lê-ăng. Bây giờ thì ông chỉ cầm giáo nhân danh dòng Oóc-lê-ăng thôi, vì chỉ còn lại có họ. Dù sao thì bố tôi vẫn tự coi mình là nhà quý tộc số một nước Pháp, nổi tiếng nhất, có thế lực nhất, là thủ lĩnh của đảng. Và vì là thượng nghị sĩ trọn đời, ông coi các ông vua láng giềng là những người ngồi trên những ngai vàng chẳng mấy vững chắc.

Còn mẹ tôi thì là linh hồn của bố tôi, là linh hồn của nền quân chủ và của tôn giáo, là cánh tay phải của Chúa trên trần gian, và là tai hoạ của những kẻ có tư tưởng xấu.

Vậy là trong lúc chúng tôi đang ăn, người ta mang vào một bức thư. Bố tôi mở ra, đọc, rồi nhìn mẹ tôi mà bảo:

- Anh trai bà sắp chết rồi.

Mẹ tôi tái mặt. Trong nhà gần như chẳng bao giờ người ta nhắc đến ông cậu tôi. Tôi thì chẳng biết gì về ông. Tôi chỉ nghe thiên hạ đồn rằng ông đã sống và vẫn đang sống một cuộc đời của anh hề. Sau khi đốt sạch gia sản với không biết bao nhiêu đàn bà, ông chỉ còn giữ lại hai cô nhân tình, sống cùng họ trong một căn hộ nhỏ ở phố Các Thánh Tử Đạo.

Nguyên là nghị sĩ Thượng viện thời quân chủ, nguyên là đại tá kỵ binh, người ta bảo ông chẳng tin Chúa mà cũng chẳng tin quỷ. Vì ngờ vực cuộc sống bên kia, nên ông đã lạm dụng đủ đường cuộc sống bên này. Và ông đã trở thành vết thương rỉ máu trong lòng mẹ tôi.

Mẹ tôi bảo:

- Đưa tôi bức thư, ông Pôn.

Khi bà đọc xong, đến lượt tôi xin xem. Bức thư viết sai chính tả be bét, đại ý thế này:

"Thưa ông bá tước, tôi nghĩ phải cho ông biết là ông anh vợ ông, ngài hầu tước Phuy-mơ-rôn, sắp chết. Có lẽ ông muốn thu xếp việc gì thì thu xếp, và đừng quên là tôi đã báo trước cho ông. Kẻ hầu của ông, Mê-la-ni."

Bố tôi lẩm bẩm:

- Phải tính đến việc này. Ở địa vị của tôi, tôi phải trông nom những giây phút cuối cùng của anh bà.

Mẹ tôi nói tiếp:

- Tôi sẽ cho mời cha Poa-vrông đến để xin ý kiến. Rồi tôi sẽ cùng cha và thằng Rô-giê đến gặp anh tôi. Còn ông, ông Pôn, ông ở nhà. Ông không nên để mình bị liên luỵ. Đàn bà thì làm được, và phải làm những việc ấy. Nhưng với một nhà chính khách ở địa vị như ông thì khác. Kẻ thù sẽ có dịp dùng ngay việc làm đáng khen nhất của ông để chống lại ông.

- Bà nói đúng, bố tôi bảo. Bà cứ làm theo cảm hứng của bà, bà thân mến ạ.

Mười lăm phút sau, cha Poa-vrông bước vào phòng khách, và tình hình được trình bày, phân tích, bàn bạc dưới mọi góc độ.

Nếu ngài hầu tước Phuy-mơ-rôn, một trong những dòng họ lớn của nước Pháp, chết đi mà không được tôn giáo cứu giúp, thì đòn ấy chắc chắn sẽ khủng khiếp cho giới quý tộc nói chung và cho ngài bá tước Tuốc-nơ-vin nói riêng. Bọn tự do tư tưởng sẽ đắc thắng. Bọn báo chí xấu xa sẽ ca khúc khải hoàn suốt sáu tháng. Tên tuổi mẹ tôi sẽ bị kéo lê trong bùn và trong những bài văn của mấy tờ báo xã hội chủ nghĩa. Tên tuổi bố tôi sẽ bị bôi nhọ. Không thể để một chuyện như thế xảy ra.

Thế là một cuộc thập tự chinh được quyết định ngay lập tức, do cha Poa-vrông dẫn đầu. Cha là một ông linh mục nhỏ người, béo tròn và sạch sẽ, thoang thoảng mùi nước hoa, đúng kiểu cha phó của một nhà thờ lớn trong khu quý tộc giàu có.

Một cỗ xe ngựa mui gập được thắng, và cả ba chúng tôi lên đường, mẹ tôi, cha xứ và tôi, để làm phép xức dầu cho ông cậu.

Người ta đã quyết định trước hết sẽ gặp bà Mê-la-ni, người viết thư, chắc là bà gác cổng hay người hầu của ông cậu tôi.

Tôi xuống xe trước để do thám, đến trước một ngôi nhà bảy tầng, đi vào một hành lang tối om, và khó khăn lắm mới tìm ra cái hốc tối tăm của lão gác cổng. Lão nhìn tôi từ đầu đến chân, vẻ ngờ vực.

Tôi hỏi:

- Xin hỏi bà Mê-la-ni ạ?

- Không biết!

- Nhưng tôi có nhận được thư của bà ấy.

- Có thể lắm, nhưng không biết. Cậu hỏi một cô được bao nuôi nào đấy à?

- Không, có lẽ là một chị hầu. Chị ấy viết thư cho tôi để xin việc.

- Chị hầu à? Chị hầu à? Có khi là chị hầu của ông hầu tước. Cậu lên mà xem, tầng năm, bên trái.

Vì tôi không hỏi một cô được bao nuôi, lão trở nên dễ chịu hơn và còn tiễn tôi ra tận hành lang. Lão cao gầy, râu má bạc trắng, dáng một ông từ nhà thờ, điệu bộ đường bệ.

Tôi chạy lên một cái cầu thang xoắn ốc dài nhớp nháp mà tôi không dám vịn tay, và gõ khẽ ba tiếng lên cánh cửa bên trái tầng năm.

Cửa mở ra ngay. Một người đàn bà nhếch nhác, to béo khủng khiếp, đứng trước mặt tôi, dang hai tay chống vào hai bên khung cửa chặn lối vào.

Bà ta càu nhàu:

- Cậu hỏi gì?

- Bà là bà Mê-la-ni phải không?

- Phải.

- Tôi là tử tước đờ Tuốc-nơ-vin.

- À, được! Vào đi.

- Là vì, mẹ tôi đang đợi dưới nhà với một ông linh mục.

- À, được. Cậu xuống gọi lên đi. Nhưng coi chừng lão gác cổng.

Tôi đi xuống rồi lại đi lên cùng mẹ tôi, cha xứ theo sau. Tôi có cảm giác như nghe thấy những bước chân khác sau lưng chúng tôi.

Vừa vào đến bếp, Mê-la-ni mời chúng tôi ngồi, và cả bốn người ngồi xuống bàn bạc.

- Anh tôi yếu lắm rồi à? mẹ tôi hỏi.

- Ôi vâng, thưa bà, ông ấy chẳng còn được bao lâu nữa.

- Anh tôi có vẻ bằng lòng tiếp một vị linh mục không?

- Ôi, tôi không nghĩ thế đâu.

- Tôi vào gặp anh tôi được không?

- Thì, được, thưa bà, có điều, có điều mấy cô đang ở bên ông ấy.

- Mấy cô nào?

- Thì, thì mấy cô bạn gái của ông ấy chứ ai.

- À!

Mẹ tôi đỏ bừng mặt.

Cha Poa-vrông cúi gằm mắt xuống.

Chuyện bắt đầu làm tôi thấy buồn cười, và tôi nói:

- Hay để con vào trước? Con sẽ xem cậu đón con thế nào, và có lẽ con sẽ chuẩn bị được tâm hồn cậu.

Mẹ tôi, chẳng hiểu ẩn ý gì, đáp:

- Ừ, con ạ.

Nhưng có một cánh cửa mở ra đâu đó, và một giọng nói, giọng đàn bà, gọi to:

- Mê-la-ni!

Chị hầu béo lao đi, đáp lại:

- Gì thế cô Cle?

- Món trứng tráng, nhanh lên.

- Một phút nữa thôi, cô ạ.

Rồi quay lại chỗ chúng tôi, chị giải thích tiếng gọi ấy:

- Mấy cô ấy đặt tôi món trứng tráng pho mát để ăn lót dạ lúc hai giờ.

Và lập tức chị đập trứng vào một cái tô, hăng hái đánh lên.

Còn tôi thì đi ra cầu thang và giật chuông để báo cuộc đến thăm chính thức của mình.

Mê-la-ni ra mở cửa cho tôi, mời tôi ngồi ở phòng ngoài, rồi đi báo với ông cậu là tôi đến, đoạn quay ra mời tôi vào.

Cha xứ nấp sau cánh cửa để chờ có hiệu là xuất hiện.

Hẳn nhiên là tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy ông cậu. Ông rất đẹp lão, rất trang nghiêm, rất sang trọng, cái lão chơi bời già ấy.

Ông ngồi, gần như nằm, trong một chiếc ghế bành lớn, chân quấn chăn, hai bàn tay, hai bàn tay dài và nhợt nhạt, buông thõng trên tay ghế, chờ chết với một vẻ uy nghi như trong Kinh Thánh. Bộ râu trắng của ông xoã xuống ngực, mái tóc cũng trắng xoá xoã xuống hai má nhập vào râu.

Đứng sau ghế ông, như để che chở ông khỏi tôi, có hai người đàn bà trẻ, hai cô nàng nhỏ nhắn đầy đặn, đang nhìn tôi bằng con mắt bạo dạn của gái chơi. Mặc váy lót với áo choàng ngủ, tay để trần, tóc đen búi vội vàng sau gáy, chân đi dép lê kiểu phương Đông thêu chỉ vàng để lộ mắt cá và đôi tất lụa, bên cạnh người sắp chết ấy họ trông như những nhân vật trác táng trong một bức tranh tượng trưng. Giữa ghế bành và giường là một chiếc bàn nhỏ trải khăn, có hai cái đĩa, hai cái cốc, hai cái dĩa và hai con dao, chờ món trứng tráng pho mát mà họ vừa đặt chị Mê-la-ni làm lúc nãy.

Ông cậu tôi nói, giọng yếu ớt, hổn hển nhưng rõ ràng:

- Chào cháu. Giờ mới đến thăm ta thì muộn rồi. Hai cậu cháu ta quen nhau chẳng được lâu đâu.

Tôi lắp bắp:

- Thưa cậu, đâu phải lỗi tại cháu.

Ông đáp:

- Không. Ta biết. Lỗi tại bố mẹ cháu nhiều hơn là tại cháu. Bố mẹ cháu có khoẻ không?

- Cũng khá ạ, cảm ơn cậu. Khi nghe tin cậu ốm, bố mẹ cháu sai cháu đến hỏi thăm cậu.

- À! Thế sao họ không tự đến?

Tôi ngước nhìn hai cô gái, rồi nhẹ nhàng nói:

- Bố mẹ cháu không đến được đâu phải lỗi tại họ, thưa cậu. Nhưng với bố cháu thì vào đây sẽ khó khăn, còn với mẹ cháu thì không thể nào vào đây được.

Ông già không nói gì, nhưng nhấc tay về phía tay tôi. Tôi cầm lấy bàn tay nhợt nhạt và lạnh lẽo ấy và giữ nó trong tay mình.

Cửa mở, Mê-la-ni bước vào với món trứng tráng, đặt lên bàn. Hai người đàn bà lập tức ngồi vào trước đĩa của mình và bắt đầu ăn, mắt vẫn không rời tôi.

Tôi nói:

- Thưa cậu, mẹ cháu sẽ vui sướng lắm nếu được ôm hôn cậu.

Ông thì thầm:

- Ta cũng thế... ta cũng muốn...

Ông im bặt. Tôi chẳng tìm ra điều gì để đề nghị với ông, và người ta chỉ còn nghe tiếng dĩa lách cách trên đĩa sứ và cái tiếng động mơ hồ của những cái miệng đang nhai.

Thế rồi cha xứ, vẫn đang nghe ngóng sau cánh cửa, thấy chúng tôi lúng túng và tưởng ván cờ đã thắng, cho rằng đã đến lúc can thiệp, và ông bước ra.

Ông cậu tôi sững sờ trước sự xuất hiện ấy đến nỗi thoạt đầu ông ngồi im phắc. Rồi ông há miệng ra như muốn nuốt chửng ông linh mục. Rồi ông hét lên bằng một giọng to, trầm, giận dữ:

- Ông đến đây làm gì?

Cha xứ, vốn quen với những tình huống khó khăn, vẫn cứ bước tới, miệng thì thầm:

- Tôi đến nhân danh em gái ngài, thưa ngài hầu tước. Chính bà ấy sai tôi đến. Bà ấy sẽ sung sướng biết bao, thưa ngài hầu tước...

Nhưng ngài hầu tước không nghe. Giơ một tay lên, ông chỉ ra cửa bằng một cử chỉ bi tráng và lẫm liệt, rồi giận dữ, hổn hển nói:

- Cút khỏi đây, cút khỏi đây, đồ ăn cắp linh hồn! Cút khỏi đây, đồ cưỡng đoạt lương tâm! Cút khỏi đây, đồ cạy cửa nhà người hấp hối!

Thế là cha xứ lùi lại, và tôi cũng lùi về phía cửa, rút lui cùng đội quân giáo sĩ của mình. Còn hai cô nàng, được trả thù, đã đứng dậy, bỏ dở món trứng tráng, đến đứng hai bên ghế bành của ông cậu tôi, đặt tay lên cánh tay ông để làm ông dịu lại, để bảo vệ ông khỏi những âm mưu tội lỗi của Gia đình và Tôn giáo.

Cha xứ và tôi trở về bếp với mẹ tôi. Mê-la-ni lại mời chúng tôi ngồi.

- Tôi đã biết là chuyện sẽ chẳng suôn sẻ gì mà, chị nói. Phải tìm cách khác, không thì ông ấy tuột mất khỏi tay ta.

Và người ta lại bắt đầu bàn bạc. Mẹ tôi có một ý. Cha xứ bảo vệ một ý khác. Tôi lại đưa ra ý thứ ba.

Chúng tôi thì thầm bàn cãi có lẽ đã được nửa tiếng thì một tiếng ồn lớn của đồ đạc bị xô đẩy và những tiếng thét của ông cậu tôi, còn dữ dội và khủng khiếp hơn lần trước, khiến cả bốn chúng tôi bật dậy.

Qua cửa và qua vách, chúng tôi nghe thấy:

- Cút ra! Cút ra! Đồ nhà quê! Đồ thầy đồ! Cút ra, đồ khốn! Cút ra! Cút ra!

Mê-la-ni lao đi, rồi quay lại ngay gọi tôi đến giúp. Tôi chạy tới. Trước mặt ông cậu tôi đang nhổm người dậy vì tức giận, gần như đứng hẳn lên mà gào thét, có hai người đàn ông, người nọ sau người kia, như đang chờ ông tức quá mà chết.

Nhìn cái áo choàng dài lố bịch, đôi giày Anh dài ngoẵng, cái vẻ ông giáo thất nghiệp, cái cổ áo đứng và cái cà vạt trắng, mái tóc bẹt, khuôn mặt khúm núm của một ông thầy tu giả hiệu của một thứ tôn giáo lai căng, tôi nhận ra ngay người thứ nhất là một mục sư Tin Lành.

Người thứ hai là lão gác cổng của toà nhà. Lão theo đạo Tin Lành, đã theo chân chúng tôi, đã thấy chúng tôi thất bại, và đã chạy đi gọi ông thầy tu của lão, với hy vọng gặp vận may hơn.

Ông cậu tôi như phát điên lên vì giận! Nếu việc nhìn thấy ông linh mục Công giáo, linh mục của tổ tiên ông, đã làm ngài hầu tước Phuy-mơ-rôn, kẻ đã thành người tự do tư tưởng, nổi cáu, thì cái bộ dạng ông mục sư của lão gác cổng đã làm ông hoàn toàn mất tự chủ.

Tôi túm lấy tay hai người đàn ông và tống họ ra ngoài mạnh đến nỗi hai lần liền họ ôm chầm lấy nhau thật mạnh, lúc đi qua hai cánh cửa dẫn ra cầu thang.

Rồi đến lượt tôi biến đi, quay về bếp, tổng hành dinh của chúng tôi, để hỏi ý kiến mẹ tôi và cha xứ.

Nhưng Mê-la-ni hốt hoảng chạy vào, rên rỉ:

- Ông ấy chết! Ông ấy chết! Mau lên! Ông ấy chết!

Mẹ tôi lao đến. Ông cậu tôi đã ngã xuống đất, nằm dài trên sàn gỗ, không động đậy nữa. Tôi nghĩ là ông đã chết thật rồi.

Mẹ tôi lúc ấy thật tuyệt vời! Bà đi thẳng đến chỗ hai cô gái đang quỳ bên cái xác cố nâng nó dậy. Và chỉ cho họ cánh cửa với một uy quyền, một phẩm cách, một vẻ uy nghi không cưỡng nổi, bà nói:

- Bây giờ thì đến lượt các cô ra ngoài.

Và họ đi ra, không phản đối, không nói một lời. Phải nói thêm là tôi cũng đã sẵn sàng tống họ ra nhanh như tống ông mục sư và lão gác cổng.

Thế là cha Poa-vrông làm phép xức dầu cho ông cậu tôi với đủ mọi lời kinh theo lệ, và tha tội cho ông.

Mẹ tôi nức nở, phủ phục bên anh trai.

Bỗng bà kêu lên:

- Anh ấy nhận ra tôi! Anh ấy đã siết tay tôi! Tôi chắc chắn là anh ấy đã nhận ra tôi! Và anh ấy đã cảm ơn tôi! Ôi, lạy Chúa! Sung sướng biết bao!

Mẹ tôi tội nghiệp! Giá bà hiểu ra, hay đoán ra, lời cảm ơn ấy lẽ ra phải dành cho ai và cho cái gì!

Người ta đặt ông cậu lên giường. Lần này thì ông chết thật rồi.

- Thưa bà, Mê-la-ni nói, chúng tôi không có khăn trải giường để liệm ông ấy. Đồ vải vóc đều là của mấy cô ấy cả.

Còn tôi, tôi nhìn món trứng tráng mà họ ăn chưa hết, và tôi vừa muốn khóc vừa muốn cười. Đôi khi trong đời có những khoảnh khắc buồn cười và những cảm giác buồn cười thật!

Thế rồi chúng tôi đã làm cho ông cậu một đám tang lộng lẫy, với năm bài diễn văn bên mộ. Ngài thượng nghị sĩ, nam tước đờ Croa-xen, đã chứng minh bằng những lời lẽ tuyệt vời rằng Chúa bao giờ cũng chiến thắng trở về trong những linh hồn dòng dõi có lúc lạc lối. Tất cả đảng viên đảng bảo hoàng và Công giáo đi theo linh cữu với lòng hăng hái của những người thắng trận, bàn tán về cái chết đẹp đẽ sau một cuộc đời có hơi sóng gió ấy.

Tử tước Rô-giê im lặng. Mọi người quanh anh cười ồ. Có người nói:

- Chà! Đấy là chuyện của mọi cuộc cải đạo vào phút lâm chung.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Marquis de Fumerol, in trên báo Gil Blas năm 1887, tập Le Horla, theo bản Ollendorff 1895
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →