Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hãy tìm người đàn bà

của O. Henry

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 16.958 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Rốp-bin, phóng viên tờ Pi-ca-iun, và Đuy-ma, phóng viên…
  2. 2:53Lúc ấy là chín giờ sáng, và vài phút…
  3. 5:29Hãy tìm người đàn bà, — Đuy-ma nói, châm…
  4. 7:12Xơ Phê-li-xi-tê đã nghe nói. Bà biết gì sẽ…
  5. 8:56Rượu ngải, — Đuy-ma nói.
  6. 10:44Ba trăm, — anh trả.
  7. 12:06Chì! — Rốp-bin tuyên bố, ném con dao xuống…
  8. 14:05Nghe anh nói, bà Ti-bô và Đuy-ma đi tới.

Rốp-bin, phóng viên tờ Pi-ca-iun, và Đuy-ma, phóng viên tờ Con Ong, tờ báo Pháp lâu đời đã vo ve gần một thế kỷ, là đôi bạn thân, tình bạn đã được thử thách qua bao năm cùng nhau lên voi xuống chó. Họ đang ngồi ở chỗ quen gặp nhau, quán cà phê nhỏ của bà Ti-bô trên phố Đuy-men, nơi dân gốc Pháp lai hay lui tới. Nếu bạn biết chỗ ấy, bạn sẽ rung lên vì thích thú khi nhớ lại nó. Quán nhỏ và tối, có sáu chiếc bàn nhỏ đánh bóng, nơi bạn có thể ngồi uống thứ cà phê ngon nhất Niu Oóc-lin và những món pha rượu ngải chẳng kém quán sang nhất thành phố. Bà Ti-bô, béo tốt và dễ dãi, ngồi sau quầy thu tiền. Ni-cô-lét và Mê-mê, hai cô cháu gái của bà, đeo tạp dề có yếm xinh xắn, bưng ra những thức uống đáng thèm.

Đuy-ma, với cái thú hưởng thụ đích thực của dân gốc Pháp, đang nhấm nháp rượu ngải, mắt lim dim giữa vòng khói thuốc lá cuốn. Rốp-bin đang lướt qua tờ Pi-ca-iun buổi sáng, phát hiện, như phóng viên trẻ vẫn làm, những lỗi dàn trang thô thiển và những nhát bút chì xanh ghen ghét đã cắt bài của chính mình. Một mẩu tin trong cột quảng cáo đập vào mắt anh, và với một tiếng kêu chợt hứng thú, anh đọc to cho bạn nghe:

"Bán đấu giá công khai. Ba giờ chiều nay, toàn bộ tài sản chung của dòng tu Nữ tu Nhỏ Xa-ma-ri sẽ được bán cho người trả giá cao nhất, tại nhà dòng trên phố Bon-nôm. Cuộc bán gồm toà nhà, đất đai, toàn bộ đồ đạc trong nhà và nhà nguyện, không giữ lại món nào."

Mẩu tin ấy khơi lên giữa hai người bạn một cuộc trò chuyện hồi tưởng về một chuyện trong nghề báo của họ, xảy ra chừng hai năm trước. Họ nhớ lại các sự việc, điểm lại những giả thuyết cũ, rồi bàn lại từ góc nhìn khác mà thời gian đem tới.

Trong quán chẳng có khách nào khác. Đôi tai thính của bà chủ đã bắt được mạch chuyện, và bà đi tới bàn họ, vì chẳng phải chính số tiền mất của bà, hai vạn đô-la của bà đã biến mất, là cái khởi đầu cho cả câu chuyện đó sao?

Ba người lại mang cái bí ẩn bỏ dở từ lâu ra mà đập, đập lại mớ trấu khô cũ của nó. Chính trong nhà nguyện của dòng Nữ tu Nhỏ Xa-ma-ri này, Rốp-bin và Đuy-ma đã từng đứng, trong cuộc săn tin hăm hở mà chẳng được gì của họ, ngắm bức tượng Đức Mẹ mạ vàng.

— Đúng thế, hai cậu ạ, — bà chủ nói, tóm lại. — Ông Mô-ranh là người xấu lắm. Ai cũng chắc chắn ông ăn cắp số tiền tôi gửi ông giữ hộ. Phải. Thế nào ông cũng tiêu mất số tiền ấy, bằng cách nào đó.

Bà quay sang Đuy-ma một nụ cười rộng rãi và trầm ngâm.

— Tôi hiểu cậu, cậu Đuy-ma, hồi ấy cậu tới hỏi tôi biết gì về ông Mô-ranh thì kể hết ra. À! Phải, tôi biết hầu như lúc nào đàn ông mất tiền là các cậu lại bảo: "Hãy tìm người đàn bà", ở đâu đó có người đàn bà. Nhưng với ông Mô-ranh thì không. Không đâu, hai cậu ạ. Trước khi chết, ông ấy như một vị thánh. Cậu Đuy-ma ạ, thà cậu đi tìm số tiền ấy trong bức tượng Đức Mẹ mà ông Mô-ranh tặng các bà xơ nhỏ, còn hơn là đi tìm một người đàn bà.

Nghe những lời cuối của bà Ti-bô, Rốp-bin hơi giật mình, liếc xéo một cái sắc lẻm về phía Đuy-ma. Anh chàng gốc Pháp vẫn ngồi đó, không chút xao động, mơ màng ngắm những vòng khói thuốc xoắn ốc.

Lúc ấy là chín giờ sáng, và vài phút sau, đôi bạn chia tay, mỗi người một ngả đi làm việc trong ngày. Và sau đây là câu chuyện ngắn về mấy nghìn đô-la biến mất của bà Ti-bô.

Người Niu Oóc-lin hẳn còn nhớ những tình tiết quanh cái chết của ông Ga-xpa Mô-ranh ở thành phố này. Ông Mô-ranh là một thợ kim hoàn nghệ nhân ở khu phố Pháp cổ, và là người được quý trọng hết mực. Ông thuộc một trong những dòng họ Pháp lâu đời nhất, và có chút tiếng tăm như một nhà sưu tầm đồ cổ và sử gia. Ông sống độc thân, chừng năm mươi tuổi. Ông sống yên ổn, đầy đủ, ở một trong những quán trọ cổ hiếm hoi trên phố Hoàng Gia. Một buổi sáng, người ta thấy ông chết trong phòng, không rõ nguyên nhân.

Khi xem xét công việc của ông, người ta thấy ông thực tế đã vỡ nợ, hàng hoá trong tiệm và tài sản riêng chỉ vừa đủ, mà cũng gần đủ để khỏi bị chê trách, trả các khoản nợ. Tiếp đó lộ ra chuyện ông từng được một người hầu cao cấp cũ của gia đình Mô-ranh, một bà Ti-bô, gửi giữ hộ hai vạn đô-la, số tiền bà nhận được từ họ hàng bên Pháp để lại thừa kế.

Bạn bè và nhà chức trách tìm kiếm kỹ lưỡng tới đâu cũng không lần ra số tiền đã đi đâu. Nó biến mất, không để lại dấu vết. Vài tuần trước khi chết, ông Mô-ranh đã rút toàn bộ số tiền bằng tiền vàng từ ngân hàng, nơi tiền được gửi trong lúc ông tìm, ông bảo bà Ti-bô thế, một chỗ đầu tư an toàn. Vì vậy, thanh danh ông Mô-ranh dường như phải chịu đám mây gian dối, còn bà chủ quán thì dĩ nhiên buồn khổ vô cùng.

Chính lúc ấy Rốp-bin và Đuy-ma, đại diện cho hai tờ báo của mình, bắt đầu một trong những cuộc điều tra riêng dai dẳng mà mấy năm gần đây báo chí hay dùng làm đường tới vinh quang và để thoả mãn tính tò mò của công chúng.

— Hãy tìm người đàn bà, — Đuy-ma nói.

— Đúng thế! — Rốp-bin tán thành. — Mọi con đường đều dẫn tới cái nữ tính muôn thuở. Ta sẽ tìm ra người đàn bà.

Họ vắt kiệt hiểu biết của toàn bộ nhân viên khách sạn nơi ông Mô-ranh ở, từ thằng bé trực chuông cho tới ông chủ. Họ nhẹ nhàng mà không khoan nhượng moi chuyện gia đình người quá cố, tới tận những người anh em họ đời thứ ba. Họ khéo léo dò hỏi thợ thuyền của cố thợ kim hoàn, bám theo khách hàng của ông để tìm hiểu thói quen của ông. Như chó săn đánh hơi, họ lần theo từng bước chân của kẻ được cho là biển thủ, càng sát càng tốt, suốt bao năm dọc những con đường hạn hẹp và đơn điệu ông đã đi.

Kết thúc mọi công sức ấy, ông Mô-ranh đứng đó như một người không tì vết. Không một nhược điểm nào có thể đem ra coi là khuynh hướng phạm tội, không một lần lạc khỏi con đường ngay thẳng, thậm chí không có lấy một dấu hiệu ưa thích phái đẹp, được ghi vào sổ nợ của ông. Đời ông đều đặn và khắc khổ như đời một thầy tu. Thói quen của ông giản dị, chẳng có gì che giấu. Rộng lượng, nhân từ, mẫu mực về phép tắc, đó là phán quyết của tất cả những ai từng biết ông.

— Giờ thì sao? — Rốp-bin hỏi, mân mê cuốn sổ tay trống trơn.

— Hãy tìm người đàn bà, — Đuy-ma nói, châm một điếu thuốc. — Thử quý bà Ben-le xem.

"Quý bà" này là con ngựa cái được chuộng nhất mùa đua năm ấy. Đã là giống cái, nước chạy của nó thất thường, và trong thành phố có vài kẻ thua đậm vì từng tin nó chung thuỷ. Hai phóng viên tới hỏi thăm.

Ông Mô-ranh à? Chắc chắn là không. Ông ấy chưa từng tới trường đua, dù chỉ để xem. Ông ấy không phải hạng người ấy. Lạ thật, sao các quý ông lại hỏi.

— Hay mình bỏ cuộc, — Rốp-bin đề nghị, — để cho mục giải đố thử sức?

— Hãy tìm người đàn bà, — Đuy-ma ngân nga, với tay lấy que diêm. — Thử tới dòng Nữ tu Nhỏ gì-gì-đó xem.

Trong quá trình điều tra, người ta biết ông Mô-ranh đặc biệt ưu ái dòng tu từ thiện này. Ông đã đóng góp hào phóng để nuôi dòng, và chọn nhà nguyện của họ làm nơi cầu nguyện riêng ưa thích của mình. Người ta bảo ngày nào ông cũng tới đó cầu kinh trước bàn thờ. Quả thật, về cuối đời, cả tâm trí ông dường như đã dồn hết vào việc đạo, có lẽ làm thiệt hại tới việc đời.

Rốp-bin và Đuy-ma tới đó, được mời vào qua cánh cửa hẹp trên bức tường đá trơ trụi cau có nhìn ra phố Bon-nôm. Một bà già đang quét nhà nguyện. Bà bảo họ rằng xơ Phê-li-xi-tê, bề trên của dòng, đang cầu nguyện trước bàn thờ trong khám. Một lát nữa bà sẽ ra. Những tấm rèm đen nặng che kín khám thờ. Họ chờ.

Chẳng bao lâu rèm lay động, và xơ Phê-li-xi-tê bước ra. Bà cao, vẻ bi thương, xương xẩu, nét mặt bình thường, mặc áo dòng đen và đội chiếc mũ trùm nghiêm khắc của dòng tu.

Rốp-bin, một phóng viên lăn lộn giỏi giang nhưng thiếu sự tế nhị, mở lời.

Họ là đại diện báo chí. Hẳn bà đã nghe về vụ ông Mô-ranh. Để công bằng cho vong linh quý ông ấy, cần phải đào sâu vào bí ẩn số tiền bị mất. Người ta biết ông thường tới nhà nguyện này. Bất cứ thông tin nào về thói quen, sở thích, bạn bè của ông Mô-ranh, vân vân, đều có giá trị trong việc trả lại công bằng cho ông sau khi đã khuất.

Xơ Phê-li-xi-tê đã nghe nói. Bà biết gì sẽ sẵn lòng nói hết, nhưng chẳng được bao nhiêu. Ông Mô-ranh là một người bạn tốt của dòng, có lúc đóng góp tới cả trăm đô-la. Dòng tu này độc lập, hoàn toàn dựa vào đóng góp tư nhân để có phương tiện làm việc từ thiện. Ông Mô-ranh đã tặng nhà nguyện những chân nến bằng bạc và một tấm khăn bàn thờ. Ngày nào ông cũng tới nhà nguyện cầu nguyện, có khi ở lại cả tiếng đồng hồ. Ông là một tín đồ Công giáo sùng đạo, dâng mình cho sự thánh thiện. Phải, và trong khám thờ còn có bức tượng Đức Mẹ do chính tay ông nặn mẫu, đúc, rồi tặng cho dòng. Ôi, ngờ vực một người tốt như thế thật là tàn nhẫn!

Rốp-bin cũng vô cùng đau lòng trước lời buộc tội ấy. Nhưng chừng nào chưa tìm ra ông Mô-ranh đã làm gì với tiền của bà Ti-bô, anh e rằng miệng lưỡi thế gian chưa thể im. Đôi khi, thật ra là rất thường xuyên, trong những vụ thế này có, ờ, như người ta vẫn nói, ờ, một người đàn bà dính vào. Giờ xin hoàn toàn giữ kín, nếu, có lẽ...

Đôi mắt to của xơ Phê-li-xi-tê nhìn anh trang nghiêm.

— Có một người đàn bà, — bà chậm rãi nói, — mà ông ấy cúi đầu trước, mà ông ấy trao trọn trái tim.

Rốp-bin sung sướng lần tìm cây bút chì.

— Người đàn bà đây! — xơ Phê-li-xi-tê bỗng nói, giọng trầm.

Bà vươn cánh tay dài kéo tấm rèm khám thờ sang một bên. Trong đó là một bàn thờ nhỏ, rực lên những sắc màu dịu dàng nhờ ánh sáng rọi qua ô cửa kính màu. Trong một hốc sâu trên bức tường đá trơ là pho tượng Đức Mẹ, màu vàng ròng.

Đuy-ma, một người Công giáo theo lề thói, không cưỡng nổi tính kịch tính của cử chỉ ấy. Anh cúi đầu một thoáng và làm dấu thánh giá. Rốp-bin hơi ngượng, lí nhí một câu xin lỗi không rõ, vụng về lùi ra. Xơ Phê-li-xi-tê kéo rèm lại, và hai phóng viên ra về.

Trên vỉa hè đá hẹp của phố Bon-nôm, Rốp-bin quay sang Đuy-ma, mỉa mai một cách chẳng đáng mặt.

— Thế, giờ sao? Tìm người đàn bà trong nhà thờ à?

— Rượu ngải, — Đuy-ma nói.

Với chuyện số tiền mất tích đã kể được một phần như thế, có thể hình dung ra cái ý nghĩ đột ngột mà những lời của bà Ti-bô dường như đã gợi lên trong đầu Rốp-bin.

Đoán như thế có quá ngông cuồng không, rằng con người cuồng tín ấy đã dâng hiến của cải của mình, hay đúng hơn là của bà Ti-bô, dưới hình thức một biểu tượng vật chất cho lòng sùng kính cháy bỏng của ông? Nhân danh lòng thờ phụng, người ta đã làm những việc còn lạ lùng hơn. Có thể nào mấy nghìn đô-la biến mất đã được đúc thành pho tượng sáng loáng ấy? Rằng người thợ kim hoàn đã tạc nó bằng thứ kim loại tinh khiết và quý giá, rồi đặt nó ở đó, vì một hi vọng nào đó của bộ óc có lẽ đã rối loạn, mong làm vừa lòng các thánh và trải đường cho vinh quang ích kỷ của riêng mình?

Chiều hôm ấy, ba giờ kém năm, Rốp-bin bước vào cửa nhà nguyện dòng Nữ tu Nhỏ Xa-ma-ri. Trong ánh sáng lờ mờ, anh thấy một đám đông chừng trăm người đã tụ tập dự cuộc bán đấu giá. Phần lớn là thành viên các dòng tu, linh mục và người của giáo hội, tới mua đồ thờ của nhà nguyện, sợ chúng rơi vào tay kẻ báng bổ. Số khác là doanh nhân và người môi giới tới trả giá bất động sản. Một thầy dòng trông dáng tu hành đã tình nguyện cầm búa, đem tới cho chức vụ người bán đấu giá cái điều trái khoáy là lời lẽ chọn lọc và phong thái trang nghiêm.

Vài món lặt vặt được bán đi, rồi hai người phụ việc khiêng pho tượng Đức Mẹ ra.

Rốp-bin mở giá mười đô-la. Một người béo mặc áo thầy tu nâng lên mười lăm. Một giọng nói từ một phía khác trong đám đông nâng lên hai mươi. Ba người thay phiên trả giá, mỗi lần năm đô-la, cho tới khi giá lên năm mươi. Lúc ấy người béo bỏ cuộc, còn Rốp-bin, như một đòn đánh úp, nâng thẳng lên một trăm.

— Một trăm năm mươi, — giọng kia nói.

— Hai trăm, — Rốp-bin trả, táo bạo.

— Hai trăm năm mươi, — đối thủ của anh gọi to, chẳng chần chừ.

Anh phóng viên ngập ngừng trong chừng một tia chớp, ước lượng xem mình vay được bao nhiêu của anh em trong toà soạn, và vắt được bao nhiêu từ ông quản lý bằng tiền lương tháng sau.

— Ba trăm, — anh trả.

— Ba trăm năm mươi, — người kia lên tiếng, to hơn. Chính giọng nói ấy làm Rốp-bin lao bổ qua đám đông về phía nó, túm cổ áo Đuy-ma, chủ nhân của giọng nói, một cách hung tợn.

— Đồ ngốc chưa được rửa tội! — Rốp-bin rít vào tai bạn. — Góp vốn!

— Đồng ý! — Đuy-ma bình thản nói. — Có lệnh khám nhà trong tay tôi cũng chẳng kiếm nổi ba trăm năm mươi đô-la, nhưng một nửa thì tôi kham được. Sao cậu lại tới trả giá đè lên tôi?

— Tớ tưởng trong cả đám chỉ có mình tớ là thằng ngốc, — Rốp-bin giải thích.

Chẳng ai trả thêm, pho tượng được gõ búa bán cho hiệp hội của hai người với giá cuối cùng ấy. Đuy-ma ở lại giữ chiến lợi phẩm, còn Rốp-bin vội đi vét cả vốn liếng lẫn tín dụng của hai người cho đủ tiền. Chẳng mấy chốc anh quay lại với tiền, và hai chàng ngự lâm quân chất món hàng quý lên một cỗ xe, chở về phòng Đuy-ma trên phố Sác-trơ cũ gần đó. Họ khệ nệ khiêng nó, phủ một tấm vải, lên cầu thang, đặt lên bàn. Nó nặng ít ra cũng bốn mươi lăm cân, và theo ước tính ấy, cứ theo tính toán của họ, nếu giả thuyết táo bạo của họ đúng, thì vật đang đứng đó đáng giá hai vạn đô-la vàng.

Rốp-bin giở tấm vải ra, mở con dao nhíp.

— Lạy Chúa! — Đuy-ma lẩm bẩm, rùng mình. — Đó là Mẹ của Chúa Ki-tô. Cậu định làm gì?

— Im đi, đồ Giu-đa! — Rốp-bin lạnh lùng nói. — Giờ thì quá muộn để cậu được cứu rỗi rồi.

Bằng một bàn tay chắc chắn, anh gọt một lát trên vai pho tượng. Vết cắt lộ ra một thứ kim loại xám xỉn, phủ một lớp vàng lá mỏng.

— Chì! — Rốp-bin tuyên bố, ném con dao xuống sàn. — Mạ vàng!

— Cho quỷ tha ma bắt nó đi! — Đuy-ma nói, quên sạch mọi e dè. — Tôi phải uống một ly.

Họ cùng ủ rũ đi bộ tới quán cà phê của bà Ti-bô, cách đó hai khối nhà.

Dường như hôm ấy tâm trí bà chủ quán đã được khuấy lên những hồi ức mới về công sức hai chàng trai trẻ từng bỏ ra vì bà.

— Các cậu đừng ngồi mấy cái bàn đó, — bà ngăn lại khi họ sắp ngồi phịch xuống chỗ quen. — Đúng thế đấy, hai cậu ạ. Không đâu. Tôi mời các cậu vào phòng này, như bạn rất thân của tôi. Phải. Chính tay tôi sẽ pha cho các cậu một ly rượu hồi với một tách cà phê hoàng gia thật ngon. À! Tôi thích đãi bạn bè tử tế. Phải. Mời vào lối này.

Bà dẫn họ vào căn phòng nhỏ phía sau, nơi đôi khi bà mời những khách hàng đặc biệt được ưu ái. Bà xếp họ ngồi trên hai chiếc ghế bành êm ái, cạnh một ô cửa sổ lớn mở ra khoảng sân trong, giữa hai người là một chiếc bàn thấp. Tất bật một cách hiếu khách, bà bắt đầu pha những thức uống đã hứa.

Đây là lần đầu hai phóng viên được vinh dự bước vào chốn thiêng liêng ấy. Căn phòng mờ mờ như lúc chạng vạng, lấm tấm những ánh sáng loé lên từ gỗ quý đánh bóng, thuỷ tinh và kim loại sáng loáng mà dân gốc Pháp ở đây rất ưa. Từ khoảng sân nhỏ, một đài phun nước tí xíu đưa vào tiếng nước róc rách thì thầm, và một cây chuối bên cửa sổ khẽ đung đưa lá như giữ nhịp.

Rốp-bin, vốn bản tính điều tra, đưa mắt tò mò khắp căn phòng. Từ một ông tổ man rợ nào đó, bà chủ đã thừa hưởng thói thích bày biện thô sơ.

Tường dán đầy tranh in rẻ tiền, những lời phỉ báng thiên nhiên hoa hoè hoa sói chiều theo thị hiếu thị dân, thiếp mừng sinh nhật, những tờ phụ trương báo loè loẹt, và mấy mẫu tranh quảng cáo đủ sức làm dây thần kinh thị giác choáng váng mà quy phục. Một mảng gì đó khó hiểu giữa những thứ phô bày lộ liễu hơn khiến Rốp-bin thắc mắc, anh đứng dậy, bước lại gần một bước để xem cho kỹ. Rồi anh dựa người vào tường, yếu ớt kêu lên:

— Bà Ti-bô! Ôi, bà ơi! Từ bao giờ, ôi, từ bao giờ bà có thói dán tường bằng trái phiếu vàng Chính phủ Hoa Kỳ lãi bốn phần trăm, mệnh giá năm nghìn đô-la thế này? Bà nói đi, đây là chuyện cổ tích, hay tôi phải đi khám mắt?

Nghe anh nói, bà Ti-bô và Đuy-ma đi tới.

— Cậu nói gì cơ? — bà vui vẻ hỏi. — Cậu nói gì, cậu Rốp-bin? Được! À, mấy mảnh giấy nhỏ xinh xinh ấy! Có lúc tôi tưởng đó là cái mà các cậu gọi là lịch, có mấy cái ngày bé tí của tháng in bên dưới. Nhưng không phải. Chỗ tường ấy bị nứt, cậu Rốp-bin ạ, nên tôi dán mấy mảnh giấy nhỏ ấy lên che vết nứt. Tôi thấy màu của nó hợp với giấy dán tường lắm. Tôi lấy chúng ở đâu ấy à? À, phải, tôi nhớ rõ lắm. Một hôm ông Mô-ranh tới nhà tôi, chừng một tháng trước khi ông chết, đúng vào khoảng ông hứa đem tiền đi đầu tư cho tôi. Ông Mô-ranh để mấy mảnh giấy nhỏ ấy lại trên bàn, nói nhiều chuyện tiền nong lắm mà tôi chẳng hiểu. Nhưng tôi chẳng bao giờ thấy lại số tiền ấy. Ông Mô-ranh đúng là người xấu lắm. Mấy mảnh giấy ấy các cậu gọi là gì, cậu Rốp-bin, hả?

Rốp-bin giải thích.

— Hai vạn đô-la của bà đấy, cả phiếu lãi đính kèm, — anh nói, lấy ngón cái vuốt dọc mép bốn tờ trái phiếu. — Bà nên nhờ thợ lành nghề bóc ra cho. Ông Mô-ranh là người tử tế. Còn tôi thì đi nhờ người ta xén bớt đôi tai lừa của mình đây.

Anh nắm tay Đuy-ma kéo ra phòng ngoài. Bà chủ đang gào gọi Ni-cô-lét và Mê-mê tới xem gia tài ông Mô-ranh đã trả lại cho bà, ông Mô-ranh người tốt nhất đời, vị thánh trên thiên đường.

— Đuy-ma này, — Rốp-bin nói, — tớ sẽ đi chè chén một trận. Ba ngày tới, tờ Pi-ca-iun đáng kính đành phải xoay xở mà không có những đóng góp quý báu của tớ. Tớ khuyên cậu đi cùng. Này, cái thứ nước xanh cậu uống ấy chẳng ra gì. Nó kích thích suy nghĩ. Cái mình cần là quên đi chuyện phải nhớ. Tớ sẽ giới thiệu cậu với người đàn bà duy nhất trong vụ này được bảo đảm cho ra kết quả mong muốn. Tên nàng là Người Đẹp Ken-tắc-ki, rượu ngô mười hai năm tuổi. Loại chai lớn. Cậu thấy ý ấy thế nào?

— Đi thôi! — Đuy-ma nói. — Hãy tìm người đàn bà.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Cherchez la Femme, O. Henry, in trong tuyển tập Roads of Destiny
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →