Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ

của Guy de Maupassant

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 12.437 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ở Ác-giăng-tơi, người ta gọi bà là Hoàng hậu…
  2. 3:56Hai con vẹt uyên ương trong một chiếc lồng…
  3. 5:44"Thế bác sĩ nói chính xác thế nào?"
  4. 7:18Bà bật cười, một tiếng cười trẻ trung và…
  5. 8:53"Cháu có tiền chứ?"
  6. 10:01Bà Cô-lôm-ben bèn hỏi:
  7. 11:21"Còn bao nhiêu chai, cháu?"
  8. 12:55Con gà mái cũng đã vào, hoảng hốt vì…

Ở Ác-giăng-tơi, người ta gọi bà là Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ. Chẳng ai biết vì sao. Có lẽ vì bà nói năng cứng rắn như một sĩ quan ra lệnh? Có lẽ vì bà cao lớn, xương xẩu, oai vệ? Có lẽ vì bà cai trị cả một dân tộc gia súc, gà, chó, mèo, chim hoàng yến, vẹt, những con vật mà các bà cô không chồng vẫn quý? Nhưng với những con vật thân thuộc ấy, bà chẳng nuông chiều, chẳng nói những lời nựng nịu, chẳng có những âu yếm trẻ con dường như vẫn tuôn ra từ đôi môi phụ nữ xuống bộ lông mượt của con mèo đang rừ rừ. Bà cai trị lũ vật của mình bằng uy quyền. Bà ngự trị.

Quả thật bà là một bà cô không chồng, một trong những bà cô giọng khô khốc, cử chỉ cứng nhắc, tâm hồn có vẻ cứng cỏi. Bà bao giờ cũng thuê những cô hầu gái trẻ, vì tuổi trẻ dễ chiều theo những ý muốn đột ngột hơn. Bà không bao giờ chấp nhận sự cãi lại, sự đối đáp, sự do dự, sự uể oải, sự lười biếng, sự mệt mỏi. Chẳng bao giờ người ta nghe bà than thở, hối tiếc bất cứ điều gì, ghen tị với bất cứ ai. Bà nói "Mỗi người một phần" với niềm tin của kẻ tin vào số mệnh. Bà không đi nhà thờ, không ưa các linh mục, chẳng tin Chúa mấy, gọi tất cả những gì thuộc về tôn giáo là "hàng để cho người ta khóc lóc".

Ba mươi năm nay bà ở trong ngôi nhà nhỏ có mảnh vườn nhỏ phía trước chạy dọc theo đường phố, bà chưa bao giờ thay đổi thói quen. Bà chỉ thay người hầu, một cách tàn nhẫn, khi họ tới tuổi hai mươi mốt.

Bà thay những con chó, con mèo, con chim của mình không chút nước mắt, không chút tiếc nuối, khi chúng chết vì già hay vì tai nạn. Bà chôn những con vật đã chết dưới một luống hoa, bằng một cái xẻng nhỏ, rồi lấy chân giẫm mấy cái thản nhiên cho đất chặt lại.

Trong thị trấn bà có vài người quen, những gia đình viên chức, đàn ông ngày nào cũng đi làm ở Pa-ri. Thỉnh thoảng người ta mời bà tới uống trà buổi tối. Lần nào ở những buổi ấy bà cũng ngủ gật, và phải đánh thức bà dậy để bà về nhà. Bà chẳng bao giờ cho ai đưa về, vì bà chẳng sợ gì, ngày cũng như đêm. Có vẻ bà không ưa trẻ con.

Bà dành thời gian cho hàng nghìn công việc của đàn ông, đóng đồ gỗ, làm vườn, cưa củi, bổ củi, sửa sang ngôi nhà đã cũ, thậm chí cả xây trát khi cần.

Bà có họ hàng mỗi năm tới thăm hai lần: nhà Xim và nhà Cô-lôm-ben. Hai cô em gái bà, một người lấy một ông bán cây thuốc, một người lấy một ông sống bằng chút lợi tức nhỏ. Nhà Xim không có con. Nhà Cô-lôm-ben có ba đứa: Hăng-ri, Pô-lin và Giô-dép. Hăng-ri hai mươi tuổi, Pô-lin mười bảy, còn Giô-dép mới ba tuổi, vì cậu bé ra đời vào lúc tưởng như mẹ cậu không thể sinh nở được nữa.

Chẳng chút tình thương nào gắn bà cô già với họ hàng.

Mùa xuân năm một nghìn tám trăm tám mươi hai, Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ bỗng nhiên lâm bệnh. Hàng xóm đi mời một bác sĩ, bà đuổi ông ta đi. Rồi một vị linh mục tới, bà ra khỏi giường, người mặc chẳng ra mặc, để tống ông ra khỏi cửa.

Cô hầu gái nhỏ khóc lóc sắc nước thuốc cho bà.

Nằm liệt được ba ngày, tình hình có vẻ nguy kịch đến nỗi bác thợ đóng thùng bên cạnh, theo lời khuyên của bác sĩ đã tự tiện vào nhà, đứng ra gọi hai gia đình tới.

Họ tới cùng một chuyến tàu, khoảng mười giờ sáng, nhà Cô-lôm-ben mang theo cả bé Giô-dép.

Tới cổng vườn, trước hết họ thấy cô hầu gái đang ngồi khóc trên một chiếc ghế, dựa lưng vào tường.

Con chó nằm ngủ trên tấm thảm chùi chân trước cửa ra vào, dưới cái nắng như đổ lửa. Hai con mèo, tưởng như đã chết, nằm dài trên bậu hai cửa sổ, mắt nhắm nghiền, chân và đuôi duỗi thẳng.

Một con gà mái to kêu cục cục đang dẫn một tiểu đoàn gà con, khoác bộ lông tơ vàng nhẹ như bông, đi khắp mảnh vườn nhỏ. Và một chiếc lồng lớn treo trên tường, phủ cỏ rau chim, chứa cả một dân tộc chim đang hót khản cổ dưới ánh sáng buổi sáng mùa xuân ấm áp.

Hai con vẹt uyên ương trong một chiếc lồng con hình ngôi nhà gỗ ngồi yên lặng, sát bên nhau trên cành đậu.

Ông Xim, một nhân vật rất béo hay thở phì phò, đi đâu cũng bước vào trước, gạt người khác ra, đàn ông hay đàn bà, khi cần, hỏi:

"Thế nào, Xê-lét-xtơ, không khá à?"

Cô hầu gái nhỏ rên rỉ qua nước mắt:

"Bà ấy chẳng còn nhận ra cháu nữa. Bác sĩ bảo thế là hết rồi."

Mọi người nhìn nhau.

Bà Xim và bà Cô-lôm-ben ôm hôn nhau ngay lập tức, chẳng nói một lời. Hai bà rất giống nhau, vì lúc nào cũng chải tóc rẽ ngôi bẹt hai bên và quàng khăn choàng đỏ, những tấm khăn len cát-sơ-mia của Pháp rực rỡ như than hồng.

Ông Xim quay sang người em rể, một người xanh xao, vàng vọt, gầy gò, tàn tạ vì bệnh dạ dày, đi khập khiễng một cách thảm hại, và nói giọng nghiêm trang:

"Trời ạ! Cũng vừa kịp."

Nhưng chẳng ai dám bước vào buồng người hấp hối ở tầng dưới. Chính ông Xim cũng nhường bước. Ông Cô-lôm-ben là người quyết định đầu tiên. Ông bước vào, lắc lư như cột buồm một con tàu, đầu bịt sắt của cây gậy gõ lộc cộc trên nền gạch.

Hai bà đánh bạo theo vào, rồi ông Xim đi sau cùng.

Bé Giô-dép ở lại bên ngoài, mê con chó.

Một tia nắng chia đôi chiếc giường, rọi vừa đúng vào đôi bàn tay đang cựa quậy bồn chồn, nắm vào rồi lại mở ra không ngớt. Những ngón tay cử động như thể có một ý nghĩ điều khiển chúng, như thể chúng đang biểu lộ điều gì, chỉ ra những ý tưởng, tuân theo một trí khôn. Phần còn lại của thân thể nằm bất động dưới tấm chăn. Khuôn mặt góc cạnh không một chút giật mình. Đôi mắt vẫn nhắm nghiền.

Những người họ hàng dàn thành nửa vòng tròn, bắt đầu nhìn, không nói một lời, ngực thắt lại, hơi thở ngắn. Cô hầu gái nhỏ theo họ vào, vẫn sụt sịt.

Cuối cùng ông Xim hỏi:

"Thế bác sĩ nói chính xác thế nào?"

Người hầu gái lắp bắp:

"Ông ấy bảo cứ để bà ấy yên, chẳng còn làm gì được nữa."

Nhưng bỗng đôi môi của bà cô già bắt đầu mấp máy. Chúng như đang thốt ra những lời không tiếng, những lời giấu kín trong cái đầu sắp chết ấy. Và đôi bàn tay càng cử động nhanh hơn một cách kỳ lạ.

Bỗng bà cất tiếng, bằng một giọng nhỏ và mảnh mà người ta chưa từng nghe ở bà, một giọng như vọng từ xa lại, có lẽ từ đáy sâu trái tim xưa nay vẫn khép kín ấy.

Ông Xim nhón chân đi ra, vì thấy cảnh ấy khó chịu quá. Ông Cô-lôm-ben, cái chân tật mỏi rã rời, ngồi xuống.

Hai bà vẫn đứng.

Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ giờ nói líu lo rất nhanh, chẳng ai hiểu được lời nào. Bà gọi tên, nhiều tên lắm, âu yếm gọi những người tưởng tượng.

"Lại đây, Phi-líp bé bỏng của mẹ, hôn mẹ đi nào. Con yêu mẹ lắm phải không, nói đi con? Còn con, Rô-dơ, con trông em gái nhé, trong lúc mẹ ra ngoài. Nhất là đừng để em một mình, con nghe chưa? Và mẹ cấm con nghịch diêm đấy."

Bà im lặng vài giây, rồi cất giọng to hơn, như đang gọi:

"Hăng-ri-ét!"

Bà chờ một chút, rồi lại nói:

"Bảo bố con vào nói chuyện với mẹ trước khi đi làm."

Rồi bỗng:

"Hôm nay em hơi mệt, anh yêu ạ. Anh hứa với em là đừng về muộn nhé. Anh bảo với ông chủ là em ốm. Anh hiểu mà, để bọn trẻ một mình khi em nằm liệt giường là nguy hiểm lắm. Bữa tối em sẽ nấu cho anh món cơm đường. Bọn nhỏ thích món ấy lắm. Bé Cle-rơ sẽ vui lắm đây!"

Bà bật cười, một tiếng cười trẻ trung và ồn ào, như bà chưa từng cười bao giờ:

"Anh nhìn thằng Giăng kìa, mặt nó buồn cười chưa. Nó trét mứt khắp mặt, cái thằng bé bẩn thỉu. Anh nhìn mà xem, anh yêu, trông nó buồn cười chưa!"

Ông Cô-lôm-ben, chốc chốc lại đổi chỗ cái chân mỏi vì đi đường, lẩm bẩm:

"Bà ấy mơ thấy mình có chồng có con. Bắt đầu hấp hối rồi đấy."

Hai cô em gái vẫn không nhúc nhích, sững sờ và ngớ ngẩn.

Cô hầu gái nhỏ nói:

"Các bà phải cởi khăn với mũ ra chứ. Các bà có muốn sang phòng khách không ạ?"

Họ đi ra, chẳng nói một lời, và ông Cô-lôm-ben khập khiễng theo sau, lại để người hấp hối nằm một mình.

Khi đã cởi bỏ áo xống đi đường, hai bà mới ngồi xuống. Lúc ấy một con mèo rời bậu cửa sổ, vươn vai, nhảy vào phòng, rồi nhảy lên đùi bà Xim, bà bắt đầu vuốt ve nó.

Ở phòng bên, người ta nghe giọng người hấp hối, đang sống, vào giờ phút cuối cùng này, cái cuộc đời mà hẳn bà đã chờ đợi, trút hết cả những giấc mơ của mình ra vào lúc mọi sự sắp kết thúc với bà.

Ông Xim ngoài vườn đang chơi với bé Giô-dép và con chó, vui lắm, cái vui của một ông béo về quê, chẳng nhớ gì tới người sắp chết.

Nhưng bỗng ông vào, bảo cô hầu gái:

"Này, cháu, nấu cho bọn ta bữa trưa đi. Các bà muốn ăn gì nào?"

Mọi người thống nhất một món trứng tráng rau thơm, một miếng thịt thăn với khoai tây mới, một miếng pho mát và một tách cà phê.

Và khi bà Cô-lôm-ben lục túi tìm ví, ông Xim ngăn lại. Rồi quay sang cô hầu gái:

"Cháu có tiền chứ?"

Cô đáp:

"Có ạ, thưa ông."

"Bao nhiêu?"

"Mười lăm quan ạ."

"Đủ rồi. Nhanh lên cháu, ta bắt đầu đói rồi đấy."

Bà Xim nhìn ra ngoài những bông hoa leo tắm nắng, và hai con chim bồ câu đang tình tự trên mái nhà trước mặt, nói giọng ngao ngán:

"Thật không may là phải tới đây vào một dịp buồn thế này. Hôm nay mà ra ngoài đồng thì thích lắm đây."

Cô em gái thở dài không đáp, còn ông Cô-lôm-ben lẩm bẩm, có lẽ vì xúc động khi nghĩ tới một cuộc đi bộ:

"Cái chân tôi nó hành tôi khổ quá."

Bé Giô-dép và con chó làm ầm ĩ khủng khiếp: một đứa kêu ré lên vì vui, một con sủa như điên. Chúng chơi trốn tìm quanh ba luống hoa, đuổi nhau như hai đứa dở hơi.

Người hấp hối vẫn tiếp tục gọi các con, nói chuyện với từng đứa, tưởng tượng mình đang mặc áo cho chúng, đang vuốt ve chúng, đang dạy chúng đọc:

"Nào! Xi-mông, đọc theo mẹ: a, bê, xê, đê. Con đọc chưa đúng rồi, xem nào, đê, đê, đê, con nghe mẹ chưa! Thế thì đọc lại..."

Ông Xim nói:

"Lạ thật, những gì người ta nói vào những lúc ấy."

Bà Cô-lôm-ben bèn hỏi:

"Có lẽ nên vào với chị ấy thì hơn."

Nhưng ông Xim lập tức can:

"Để làm gì, khi các bà chẳng thay đổi được gì tình trạng của chị ấy? Ở đây cũng tốt chán."

Chẳng ai nài thêm. Bà Xim ngắm hai con chim xanh, gọi là vẹt uyên ương. Bà khen vài câu về sự chung thuỷ lạ lùng ấy, và chê đàn ông không bắt chước những con vật này. Ông Xim phá lên cười, nhìn vợ, ngân nga ra vẻ giễu cợt: "Tra-la-la. Tra-la-la-la," như muốn ngụ ý nhiều điều về sự chung thuỷ của chính ông, ông Xim.

Ông Cô-lôm-ben, giờ bị chuột rút dạ dày, gõ gậy xuống nền gạch.

Con mèo kia đi vào, đuôi dựng đứng.

Mãi tới một giờ người ta mới ngồi vào bàn.

Vừa nếm thử rượu, ông Cô-lôm-ben, người được dặn chỉ được uống vang Boóc-đô loại ngon, gọi cô hầu gái lại:

"Này, cháu, dưới hầm không có thứ gì ngon hơn à?"

"Có ạ, thưa ông, có rượu ngon vẫn dọn mỗi khi các ông tới."

"Thế thì đi lấy cho ta ba chai."

Người ta nếm thứ rượu ấy, thấy tuyệt ngon. Chẳng phải vì nó thuộc một vùng rượu nổi tiếng nào, nhưng nó đã nằm trong hầm mười lăm năm. Ông Xim tuyên bố:

"Đúng là thứ rượu cho người ốm."

Ông Cô-lôm-ben, bị một cơn thèm khát mãnh liệt muốn có được chỗ vang Boóc-đô ấy, lại hỏi cô hầu gái:

"Còn bao nhiêu chai, cháu?"

"Ôi, gần như còn nguyên ạ, thưa ông, cô chủ chẳng bao giờ uống. Đống ở trong cùng ấy ạ."

Lúc ấy ông quay sang ông anh rể:

"Nếu anh muốn, anh Xim, tôi xin nhận số rượu này đổi lấy thứ khác, nó hợp với dạ dày tôi lắm."

Đến lượt con gà mái dẫn đàn gà con vào. Hai bà thích chí ném vụn bánh cho nó.

Người ta đuổi bé Giô-dép và con chó, đã ăn đủ rồi, ra vườn.

Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ vẫn nói, nhưng giờ chỉ thì thào, nên chẳng còn nghe rõ lời nào.

Uống cà phê xong, mọi người vào xem bệnh tình. Bà có vẻ yên tĩnh.

Người ta lại ra, ngồi thành vòng tròn trong vườn cho tiêu cơm.

Bỗng con chó bắt đầu chạy vòng quanh mấy chiếc ghế nhanh hết cỡ chân, miệng ngậm một thứ gì. Thằng bé chạy theo sau như điên. Cả hai biến vào trong nhà.

Ông Xim ngủ thiếp đi, bụng phơi nắng.

Người hấp hối lại nói to lên. Rồi bỗng bà kêu thét.

Hai bà và ông Cô-lôm-ben vội vào xem bà làm sao. Ông Xim thức dậy, không buồn nhúc nhích, vì ông chẳng ưa những chuyện ấy.

Bà đã ngồi dậy, mắt dại đi. Con chó của bà, để tránh bé Giô-dép đuổi, đã nhảy lên giường, vượt qua người sắp chết. Rồi nấp sau chiếc gối, nó nhìn bạn chơi bằng đôi mắt long lanh, sẵn sàng nhảy ra lần nữa để chơi tiếp. Miệng nó ngậm một chiếc dép lê của bà chủ, đã bị răng nó xé nát sau một tiếng đồng hồ nó đùa với chiếc dép ấy.

Đứa bé, rụt rè trước người đàn bà bỗng ngồi bật dậy trước mặt mình, đứng sững trước chiếc giường.

Con gà mái cũng đã vào, hoảng hốt vì tiếng ồn, nhảy lên một chiếc ghế. Và nó tuyệt vọng gọi lũ con đang chiêm chiếp cuống quýt giữa bốn chân ghế.

Hoàng hậu Oóc-tăng-xơ kêu lên bằng một giọng xé lòng:

"Không, không, tôi không muốn chết, tôi không muốn! Tôi không muốn! Ai sẽ nuôi các con tôi? Ai sẽ chăm sóc chúng? Ai sẽ yêu thương chúng? Không, tôi không muốn!... Tôi không..."

Bà ngã ngửa ra. Thế là hết.

Con chó, rất phấn khích, nhảy nhót khắp phòng.

Ông Cô-lôm-ben chạy ra cửa sổ, gọi ông anh rể:

"Anh vào nhanh, vào nhanh lên. Tôi nghĩ chị ấy vừa đi rồi."

Lúc ấy ông Xim mới đứng dậy, và đành vậy, ông bước vào buồng, lắp bắp:

"Nhanh hơn tôi tưởng."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Reine Hortense, in trên báo Gil Blas năm 1883, tập Clair de lune, 1884
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →