Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hoàng tử vùng cây bụi

của O. Henry

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 18.253 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Rốt cuộc cũng chín giờ, công việc cực nhọc…
  2. 3:56"Mẹ yêu quý nhất của con, con muốn gặp…
  3. 6:34"Chào nhé, Phrít," ông già Ba-lin-giơ nói. "Đêm nay…
  4. 9:04"Ối ối!" Rô-giơ Rắn Chuông rú lên, cười sằng…
  5. 11:06Hôn-đô tìm thấy và xé toang lá thư gửi…
  6. 12:29"Nó đang ở đâu?"
  7. 14:12Đôi la nhỏ chồm lên phía trước, mừng vì…
  8. 16:12"Con không biết," Lê-na nói. "Nhưng con biết con…

Rốt cuộc cũng chín giờ, công việc cực nhọc trong ngày đã xong. Lê-na trèo lên căn phòng của em ở tầng gác lửng thứ ba của khách sạn Thợ Đá. Từ lúc trời sáng, em đã làm lụng như nô lệ, làm công việc của một người đàn bà trưởng thành, cọ sàn, rửa những chồng đĩa cốc sành nặng trịch, dọn giường, và đáp ứng những đòi hỏi không bao giờ thoả mãn về củi và nước trong cái quán trọ ồn ào, ảm đạm ấy.

Tiếng ồn của công việc khai thác đá trong ngày đã dứt, tiếng nổ mìn, tiếng khoan, tiếng kẽo kẹt của những cần cẩu lớn, tiếng quát của các cai thợ, tiếng lùi tiến của những toa xe chở những khối đá vôi nặng nề. Dưới văn phòng khách sạn, ba bốn người thợ đang càu nhàu chửi rủa quanh một ván cờ đam muộn. Mùi thịt hầm, mỡ nóng và cà phê rẻ tiền nồng nặc lơ lửng quanh ngôi nhà như một màn sương u ám.

Lê-na thắp mẩu nến còn sót, ngồi rũ xuống chiếc ghế gỗ. Em mười một tuổi, gầy gò, thiếu ăn. Lưng và chân tay em đau nhức. Nhưng nỗi đau trong tim mới là điều khổ sở nhất. Giọt nước cuối cùng đã làm tràn chiếc ly vốn đã đầy nỗi khổ của em. Người ta đã lấy mất Grim của em. Đêm nào cũng vậy, dù mệt tới đâu, em cũng tìm tới Grim để được an ủi và hy vọng. Lần nào Grim cũng thì thầm với em rằng hoàng tử hay bà tiên sẽ tới giải thoát em khỏi phép phù thuỷ độc ác. Đêm nào em cũng lấy lại được can đảm và sức lực từ Grim.

Đọc truyện nào, em cũng thấy trong đó có hoàn cảnh của chính mình. Đứa con lạc của bác tiều phu, cô bé chăn ngỗng bất hạnh, cô con gái riêng bị hành hạ, cô bé bị giam trong túp lều của mụ phù thuỷ, tất cả đều chính là Lê-na, chỉ khoác một lớp áo khác mỏng tang, Lê-na, cô bé phụ bếp làm việc quá sức ở khách sạn Thợ Đá. Và bao giờ cũng vậy, khi tình cảnh tuyệt vọng nhất, bà tiên tốt bụng hay chàng hoàng tử dũng cảm lại tới cứu.

Thế nên, ở đây, trong lâu đài của yêu tinh, bị một lời nguyền độc ác biến thành nô lệ, Lê-na nương tựa vào Grim mà chờ đợi, khao khát những sức mạnh của cái thiện chiến thắng. Nhưng hôm trước, bà Ma-lô-ni đã tìm thấy cuốn sách trong phòng em và mang đi, gay gắt tuyên bố rằng người làm không được đọc sách ban đêm, vì mất ngủ thì hôm sau làm việc không nhanh nhẹn. Một đứa trẻ mới mười một tuổi, sống xa mẹ, chẳng bao giờ có thì giờ chơi, liệu có sống nổi khi bị tước mất cả Grim không? Bạn cứ thử một lần mà xem, sẽ thấy khó khăn biết chừng nào.

Nhà Lê-na ở Tếch-dát, tít trên vùng núi nhỏ bên sông Pê-đéc-na-lét, trong một thị trấn nhỏ tên là Phrê-đê-rích-xbớc. Ở Phrê-đê-rích-xbớc toàn là người Đức. Buổi tối, họ ngồi bên những chiếc bàn nhỏ dọc vỉa hè, uống bia và chơi bài. Họ là những người rất tằn tiện.

Người tằn tiện nhất trong số họ là Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ, cha của Lê-na. Vì thế Lê-na mới bị gửi tới làm việc ở khách sạn bên mỏ đá, cách nhà ba mươi dặm. Ở đó mỗi tuần em kiếm được ba đô-la, và Pê-tơ gộp số tiền công của em vào cái kho của mình được canh giữ cẩn mật. Pê-tơ có tham vọng giàu bằng người hàng xóm Hu-gô Hép-phen-bao-ơ, ông này hút cái tẩu bọt biển dài cả mét, và tuần nào bữa trưa cũng có thịt bê tẩm bột rán với thịt thỏ hầm rượu. Và giờ Lê-na đã đủ lớn để làm việc, góp phần tích luỹ của cải. Nhưng bạn hãy thử hình dung, nếu bạn có thể, thế nào là ở tuổi mười một bị kết án rời khỏi ngôi nhà trong cái thị trấn nhỏ dễ chịu chẳng khác gì một làng quê bên bờ sông Ranh, để đi làm khổ sai trong lâu đài yêu tinh, nơi bạn phải chạy như bay hầu hạ lũ yêu tinh trong khi chúng ngốn cả bò cả cừu, vừa gầm gừ dữ tợn vừa giậm những đôi giày to tướng cho bụi đá vôi trắng rơi xuống để bạn quét và cọ bằng những ngón tay yếu ớt, đau nhức. Rồi sau đó, bị tước mất cả Grim!

Lê-na mở nắp một cái thùng cũ trống không, vốn từng đựng ngô đóng hộp, lấy ra một tờ giấy và một mẩu bút chì. Em sẽ viết thư cho mẹ. Tôm-mi Rai-an sẽ gửi thư giúp em ở chỗ ông Ba-lin-giơ. Tôm-mi mười bảy tuổi, làm ở mỏ đá, tối nào cũng về nhà ở chỗ Ba-lin-giơ, và giờ đang đứng chờ trong bóng tối dưới cửa sổ phòng Lê-na để em ném thư xuống. Đó là cách duy nhất em có thể gửi thư về Phrê-đê-rích-xbớc. Bà Ma-lô-ni không thích em viết thư.

Mẩu nến đã cháy gần hết, nên Lê-na vội lấy răng cắn phần gỗ quanh ruột bút chì rồi bắt đầu viết. Đây là lá thư em viết:

"Mẹ yêu quý nhất của con, con muốn gặp mẹ lắm. Cả Grê-ten, Clao, Hai-rích và bé A-đôn nữa. Con mệt lắm. Con muốn gặp mẹ. Hôm nay con bị bà Ma-lô-ni tát và không được ăn tối. Con không mang đủ củi vào, vì tay con đau. Hôm qua bà ấy lấy mất sách của con. Con muốn nói cuốn Truyện cổ Grim mà chú Lê-ô tặng con ấy. Con đọc sách thì có hại gì cho ai đâu. Con cố làm việc giỏi hết sức, nhưng việc nhiều quá. Mỗi đêm con chỉ đọc một chút thôi. Mẹ yêu quý, con sẽ nói cho mẹ biết con định làm gì. Nếu ngày mai mẹ không cho người tới đón con về nhà, con sẽ tới một chỗ nước sâu con biết ở dưới sông mà nhảy xuống. Con nghĩ làm thế là tội lỗi, nhưng con muốn gặp mẹ, mà chẳng còn ai khác. Con mệt lắm, mà Tôm-mi đang chờ lấy thư. Mẹ tha lỗi cho con, mẹ nhé, nếu con làm thế. Con gái kính yêu của mẹ, Lê-na."

Khi lá thư viết xong, Tôm-mi vẫn kiên nhẫn chờ, và khi Lê-na thả thư xuống, em thấy anh nhặt lên rồi bắt đầu leo lên sườn đồi dốc. Không cởi quần áo, em thổi tắt nến rồi cuộn mình trên tấm đệm trải dưới sàn.

Mười giờ rưỡi, ông già Ba-lin-giơ đi tất ra khỏi nhà, tựa vào cổng, hút tẩu. Ông nhìn xuôi con đường lớn trắng xoá dưới ánh trăng, lấy mũi chân này gãi mắt cá chân kia. Đã tới giờ chiếc xe thư đi Phrê-đê-rích-xbớc lóc cóc chạy tới.

Ông già Ba-lin-giơ mới chờ được vài phút thì nghe tiếng vó lanh lảnh của cặp la đen nhỏ nhà Phrít, và chẳng mấy chốc chiếc xe có mui của ông đã dừng trước cổng. Cặp kính to của Phrít loé lên dưới ánh trăng, và cái giọng như sấm của ông hét lên chào ông trưởng trạm bưu điện của chỗ Ba-lin-giơ. Người đưa thư nhảy xuống, tháo cương cho hai con la, vì bao giờ tới chỗ Ba-lin-giơ ông cũng cho chúng ăn yến mạch.

Trong lúc hai con la ăn trong túi đựng cỏ, ông già Ba-lin-giơ mang bao thư ra, quẳng lên xe.

Phrít Béc-man là người có ba niềm yêu thương, hay nói cho chính xác hơn là bốn, vì cặp la đáng được tính riêng từng con. Hai con la ấy là mối quan tâm và niềm vui lớn nhất đời ông. Tiếp theo là Hoàng đế nước Đức và Lê-na Hin-đét-muy-lơ.

"Ông cho tôi hỏi," Phrít nói khi đã sẵn sàng lên đường, "trong bao có lá thư nào của cô bé Lê-na ở mỏ đá gửi bà Hin-đét-muy-lơ không? Chuyến thư trước có một lá báo là cô bé hơi ốm. Mẹ cô bé đang rất mong tin."

"Có," ông già Ba-lin-giơ nói, "có một lá thư gửi bà Hin-tơ-nin-tơ gì đó, cái tên đại loại thế. Thằng Tôm-mi Rai-an mang sang lúc nó về. Ông bảo con bé đang làm bên ấy à?"

"Ở khách sạn," Phrít hét lên, vừa nói vừa gom dây cương. "Mười một tuổi, mà bé không bằng cây xúc xích. Cái thằng Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ keo kiệt! Có ngày tôi sẽ lấy cái gậy to nện cho cái đầu ngu của hắn một trận, dọc khắp thị trấn. Có khi trong thư này Lê-na sẽ bảo là con bé đã đỡ rồi. Thế thì mẹ nó sẽ mừng. Tạm biệt ông Ba-lin-giơ, ông đứng ngoài trời đêm thế này là lạnh chân đấy."

"Chào nhé, Phrít," ông già Ba-lin-giơ nói. "Đêm nay mát mẻ, đánh xe dễ chịu đấy."

Đôi la đen nhỏ chạy nước kiệu đều đều trên đường, thỉnh thoảng Phrít lại oang oang nói với chúng vài lời âu yếm và cổ vũ.

Phrít vừa đi vừa nghĩ tới Lê-na và lá thư, cho tới khi ông tới khu rừng sồi lớn, cách chỗ Ba-lin-giơ tám dặm. Tại đây dòng suy nghĩ của ông bị đánh tan bởi những tia lửa loé lên và tiếng súng nổ đột ngột, cùng tiếng hò hét như của cả một bộ lạc. Một toán người ngựa phi nước đại vây lấy chiếc xe thư. Một người nghiêng qua bánh xe trước, chĩa súng lục vào người đánh xe, ra lệnh dừng lại. Những người khác chộp lấy dây cương của Đôn-đơ và Blít-xơn.

"Trời đất ơi!" Phrít hét lên bằng cả giọng sấm của mình. "Chuyện gì thế? Bỏ tay ra khỏi hai con la ấy. Đây là xe thư của Hợp chủng quốc!"

"Nhanh lên, ông bạn người Đức," một giọng u sầu kéo dài. "Ông không biết là ông đang bị chặn cướp à? Quay la lại, rồi trèo xuống xe."

Để công bằng với tầm cỡ tai tiếng và quy mô chiến tích của Bin Hôn-đô, phải nói rằng vụ chặn xe thư Phrê-đê-rích-xbớc không được thực hiện như một kỳ công. Như con sư tử, trong khi đuổi theo con mồi xứng tầm với sức mạnh của mình, có thể nhẹ nhàng đặt một bàn chân lên con thỏ tình cờ chắn đường, Bin Hôn-đô và băng của hắn đã sà xuống chiếc xe chở thư hiền lành của ông Phrít chỉ cho vui.

Việc thật sự của chuyến đi đêm đầy hiểm ác của chúng đã xong. Phrít, bao thư và đôi la của ông chỉ là một trò giải trí nhẹ nhàng, dễ chịu sau những nhiệm vụ gian khổ của nghề nghiệp. Cách đó hai mươi dặm về phía đông nam là một đoàn tàu với đầu máy bị phá hỏng, những hành khách hoảng loạn cùng toa hàng chuyển phát và toa thư đã bị cướp sạch. Đó mới là việc nghiêm túc của Bin Hôn-đô và băng của hắn. Với một mẻ khá đậm tiền giấy và tiền bạc, bọn cướp đang đi vòng một quãng xa về phía tây qua vùng thưa dân, định tìm đường sang Mê-hi-cô qua một chỗ lội được trên sông Ri-ô Gran-đê. Chiến lợi phẩm từ đoàn tàu đã biến bọn cướp liều mạng thành những kẻ nghịch ngợm vui vẻ, sung sướng.

Run lên vì phẩm giá bị xúc phạm và không ít lo sợ cho thân mình, Phrít trèo xuống đường, sau khi đeo lại cặp kính vừa bị giật mất. Cả bọn đã xuống ngựa, đang ca hát, nhảy nhót, hò reo, bày tỏ niềm vui thoả mãn với cuộc đời của một kẻ ngoài vòng pháp luật vui vẻ. Rô-giơ Rắn Chuông, đứng giữ đầu hai con la, giật hơi mạnh dây cương con Đôn-đơ vốn có cái miệng nhạy cảm, khiến nó chồm lên, khịt mũi một tiếng to phản đối vì đau. Lập tức Phrít, rú lên giận dữ, lao vào gã Rô-giơ to xác, và bắt đầu cần mẫn đấm tới tấp tên cướp đang sửng sốt ấy.

"Đồ khốn!" Phrít hét lên. "Đồ chó, đồ to xác! Con la ấy đang đau miệng. Tao sẽ đánh văng cả vai lẫn đầu mày, đồ ăn cướp!"

"Ối ối!" Rô-giơ Rắn Chuông rú lên, cười sằng sặc, cúi đầu né. "Ai gỡ giùm cái ông người Đức này ra khỏi tôi với!"

Một tên trong băng túm vạt áo Phrít kéo lại, và cả khu rừng vang lên những lời bình phẩm oang oang của Rắn Chuông.

"Cái ông người Đức bé tí khỉ gió này," hắn hét lên, vui vẻ. "Thế mà không phải hạng hèn đâu. Bênh con vật của mình nhanh ra phết, phải không? Tôi thích thấy một người thương con ngựa của mình, dù nó là con la đi nữa. Ông bé tí khỉ gió ấy xông vào tôi đấy, thấy chưa! Đứng yên nào, la ơi, tao không làm đau miệng mày nữa đâu."

Có lẽ bọn chúng đã chẳng đụng tới bao thư, nếu Ben Mu-đi, tên phó, không nảy ra một ý có vẻ hứa hẹn thêm chiến lợi phẩm.

"Này đại ca," hắn nói với Bin Hôn-đô, "trong mấy bao thư này có khi vớ được món bở đấy. Tôi từng buôn ngựa với dân người Đức quanh Phrê-đê-rích-xbớc, nên tôi biết kiểu của bọn họ. Có cả đống tiền đi qua bưu điện về thị trấn ấy. Họ thà liều gửi một nghìn đô-la gói trong mảnh giấy còn hơn trả phí cho ngân hàng giữ hộ."

Bin Hôn-đô, cao gần mét chín, giọng nói nhỏ nhẹ mà hành động bốc đồng, đã lôi mấy bao thư từ phía sau xe ra trước khi Mu-đi kịp nói hết câu. Một con dao loé lên trong tay hắn, và họ nghe tiếng xoẹt khi nó cắt qua lớp vải bạt dai. Bọn cướp xúm lại, bắt đầu xé thư, xé bưu kiện, làm cho công việc thêm sôi nổi bằng những lời chửi rủa thân mật nhằm vào những người viết thư, những người dường như đã thông đồng với nhau để bác bỏ lời tiên đoán của Ben Mu-đi. Trong thư từ gửi Phrê-đê-rích-xbớc không tìm thấy lấy một đô-la.

"Ông phải lấy làm xấu hổ," Bin Hôn-đô trịnh trọng bảo người đưa thư, "khi chở đi chở lại cả đống giấy cũ rác rưởi thế này. Ông có ý gì thế hả? Dân người Đức các ông giữ tiền ở đâu?"

Bao thư của chỗ Ba-lin-giơ mở ra như cái kén dưới lưỡi dao của Hôn-đô. Trong đó chỉ có một nắm thư. Từ nãy tới giờ Phrít vẫn sôi sục sợ hãi và kích động, cho tới khi bao này bị mở. Giờ ông nhớ ra lá thư của Lê-na. Ông nói với thủ lĩnh băng cướp, xin hắn tha cho riêng lá thư ấy.

"Cảm ơn nhiều, ông bạn," hắn bảo người đưa thư đang bối rối. "Tôi đoán đó chính là lá thư bọn tôi cần. Trong đó có tiền, phải không? Nó đây rồi. Thắp đèn lên, anh em."

Hôn-đô tìm thấy và xé toang lá thư gửi bà Hin-đét-muy-lơ. Những tên khác đứng quanh, châm những lá thư vặn xoắn để làm đuốc, người này mồi lửa cho người kia. Hôn-đô lặng lẽ nhìn với vẻ không hài lòng tờ giấy duy nhất kín những dòng chữ Đức góc cạnh.

"Ông lừa bọn tôi bằng cái thứ gì đây hả? Ông gọi cái này là thư có giá à? Chơi khăm bạn bè đến giúp ông phát thư như thế là hèn lắm đấy."

"Chữ Trung Hoa đấy," Xan-đi Grăn-đi nói, ngó qua vai Hôn-đô.

"Mày lẩn thẩn rồi," một tên khác trong băng tuyên bố, một thanh niên bảnh choẹ, quàng đầy khăn lụa và đeo đầy đồ mạ kền. "Đó là tốc ký. Tao thấy người ta viết ở toà án một lần rồi."

"Ôi, không, không, không, đó là tiếng Đức," Phrít nói. "Chỉ là một cô bé viết thư cho mẹ nó thôi. Một cô bé tội nghiệp, ốm yếu, đi làm vất vả xa nhà. Ôi! Thật là tội. Ông cướp tốt bụng ơi, ông làm ơn trả lại tôi lá thư ấy nhé?"

"Ông tưởng bọn tôi là cái thứ quỷ gì, hả ông già?" Hôn-đô nói, đột nhiên nghiêm khắc một cách đáng ngạc nhiên. "Ông không định ám chỉ là các quý ông chúng tôi không đủ lịch sự để quan tâm tới sức khoẻ của cô bé đấy chứ? Giờ ông đọc cái thứ chữ cào cấu ấy to lên, bằng thứ tiếng Mỹ rõ ràng, cho cái hội những người có học này nghe."

Hôn-đô xoay khẩu súng sáu viên trên vòng cò, đứng sừng sững trước ông người Đức bé nhỏ, và Phrít lập tức bắt đầu đọc lá thư, dịch những lời giản dị ấy sang tiếng Anh. Cả băng cướp đứng im phăng phắc, chăm chú lắng nghe.

"Con bé mấy tuổi?" Hôn-đô hỏi khi lá thư đọc xong.

"Mười một," Phrít nói.

"Nó đang ở đâu?"

"Ở mỏ đá, đang làm việc. Ôi, lạy Chúa tôi, bé Lê-na nói tới chuyện nhảy sông. Tôi không biết con bé có làm thế không, nhưng nếu nó làm, tôi thề tôi sẽ lấy súng bắn thằng Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ."

"Dân các ông," Bin Hôn-đô nói, giọng dâng lên một nỗi khinh bỉ đẹp đẽ, "làm tôi phát ngán. Cho con cái đi làm thuê trong khi lẽ ra chúng phải được chơi búp bê trên cát. Các ông là một lũ người quái gở. Tôi nghĩ bọn tôi sẽ cho ông nếm mùi một chút, chỉ để tỏ cho ông biết bọn tôi nghĩ gì về các ông. Nào, anh em!"

Bin Hôn-đô bàn riêng chớp nhoáng với cả bọn, rồi chúng túm lấy Phrít lôi vào bên lề đường. Ở đó chúng trói chặt ông vào một gốc cây bằng hai sợi dây thòng lọng. Đôi la của ông chúng buộc vào một gốc cây khác gần đó.

"Bọn tôi không làm ông đau lắm đâu," Hôn-đô trấn an. "Bị trói một lúc thì chẳng hại gì. Giờ thì chào ông, vì tới lúc bọn tôi phải đi rồi. Hết chuyện nhé, ông bạn. Đừng có sốt ruột nữa."

Phrít nghe tiếng yên ngựa kêu cót két ầm ĩ khi bọn chúng lên ngựa. Rồi một tiếng hò lớn, và tiếng vó ngựa rầm rập khi chúng phi tán loạn ngược lại con đường đi Phrê-đê-rích-xbớc.

Hơn hai tiếng đồng hồ, Phrít ngồi tựa vào gốc cây, bị trói chặt nhưng không đau. Rồi, khi cơn kích động sau cuộc phiêu lưu đã lắng xuống, ông chìm vào giấc ngủ. Ông ngủ bao lâu ông không biết, nhưng rồi ông bị lay dậy một cách thô bạo. Có những bàn tay đang cởi dây trói cho ông. Ông được nhấc đứng dậy, choáng váng, đầu óc lộn xộn, thân thể rã rời. Dụi mắt nhìn, ông thấy mình lại đang ở giữa chính cái băng cướp khủng khiếp ấy. Chúng đẩy ông lên ghế xe, đặt dây cương vào tay ông.

"Phóng về nhà đi, ông bạn," giọng Bin Hôn-đô ra lệnh. "Ông làm bọn tôi mất bao nhiêu công sức, giờ bọn tôi mừng được thấy cái gáy của ông. Đi đi! Chuồn!"

Hôn-đô vươn tay quất cho con Blít-xơn một roi.

Đôi la nhỏ chồm lên phía trước, mừng vì lại được chạy. Phrít thúc chúng đi, đầu óc vẫn còn choáng váng, rối bời sau cuộc phiêu lưu đáng sợ.

Theo đúng lịch thì lẽ ra ông tới Phrê-đê-rích-xbớc lúc trời sáng. Thế mà mãi mười một giờ trưa ông mới đánh xe vào con phố dài của thị trấn. Trên đường tới bưu điện, ông phải đi ngang nhà Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ. Ông dừng xe trước cổng và gọi. Nhưng bà Hin-đét-muy-lơ đang chờ ông. Cả nhà Hin-đét-muy-lơ ùa ra.

Bà Hin-đét-muy-lơ, béo tròn, mặt đỏ bừng, hỏi ông có thư của Lê-na không, và thế là Phrít cất giọng kể lại câu chuyện phiêu lưu của mình. Ông kể nội dung lá thư mà tên cướp bắt ông đọc, và bà Hin-đét-muy-lơ oà lên khóc nức nở. Bé Lê-na của bà định nhảy sông! Sao họ lại gửi con bé đi khỏi nhà? Giờ phải làm gì đây? Có lẽ giờ có cho người đi đón thì cũng đã quá muộn. Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ đánh rơi cái tẩu bọt biển xuống lối đi, nó vỡ tan tành.

"Bà kia!" ông gầm lên với vợ. "Sao bà lại để con bé đi xa? Nếu nó không về với chúng ta nữa thì là lỗi của bà."

Ai cũng biết đó là lỗi của Pê-tơ Hin-đét-muy-lơ, nên chẳng ai thèm để ý tới lời ông.

Một lát sau, có một giọng nói lạ, yếu ớt cất lên gọi: "Mẹ ơi!" Lúc đầu bà Hin-đét-muy-lơ tưởng đó là hồn Lê-na gọi, rồi bà lao tới phía sau chiếc xe có mui của Phrít, và với một tiếng kêu sung sướng, bà ôm chầm lấy chính Lê-na, hôn tới tấp lên khuôn mặt bé nhỏ xanh xao, ôm em chặt tới nghẹt thở. Mắt Lê-na nặng trĩu giấc ngủ say của người kiệt sức, nhưng em mỉm cười, nép sát vào người mà em hằng mong được gặp. Ở đó, giữa những bao thư, trong một cái tổ toàn chăn đệm lạ, em đã nằm ngủ cho tới khi bị đánh thức bởi những giọng nói quanh mình.

Phrít trố mắt nhìn em, đôi mắt lồi ra sau cặp kính.

"Lạy Chúa trên trời!" ông hét lên. "Sao cháu lại ở trong xe? Hôm nay tôi suýt bị bọn cướp giết, giờ lại sắp phát điên nữa hay sao?"

"Ông đã mang con bé về cho chúng tôi, ông Phrít," bà Hin-đét-muy-lơ kêu lên. "Làm sao chúng tôi cảm ơn ông cho đủ được?" Rồi bà quay sang con gái: "Kể cho mẹ nghe sao con lại ở trong xe của ông Phrít."

"Con không biết," Lê-na nói. "Nhưng con biết con đã ra khỏi khách sạn thế nào. Hoàng tử đã đưa con đi."

"Thề có vương miện của Hoàng đế!" Phrít hét lên. "Tất cả chúng ta đều sắp phát điên rồi."

"Con biết thế nào hoàng tử cũng tới mà," Lê-na nói, ngồi xuống bọc chăn đệm của mình trên vỉa hè. "Đêm qua chàng tới cùng các hiệp sĩ có vũ khí, đánh chiếm lâu đài của yêu tinh. Họ đập vỡ bát đĩa, đạp đổ cửa. Họ quẳng ông Ma-lô-ni vào thùng nước mưa, rồi rắc bột mì khắp người bà Ma-lô-ni. Khi các hiệp sĩ bắt đầu nổ súng, mấy người thợ trong khách sạn nhảy qua cửa sổ chạy hết vào rừng. Họ làm con thức giấc, con nhìn trộm xuống cầu thang. Rồi Hoàng tử đi lên, quấn con trong chăn đệm và bế con ra ngoài. Chàng cao lớn, khoẻ mạnh, đẹp lắm. Mặt chàng ráp như bàn chải cọ sàn, chàng nói nhỏ nhẹ, hiền lành, và có mùi rượu mạnh. Chàng cho con ngồi phía trước chàng trên lưng ngựa, rồi phi đi giữa các hiệp sĩ. Chàng ôm con chặt, con ngủ thiếp đi như thế, và chẳng tỉnh dậy cho tới khi về tới nhà."

"Vớ vẩn!" Phrít Béc-man kêu lên. "Chuyện cổ tích! Làm sao cháu từ mỏ đá vào được xe của ta?"

"Hoàng tử đã đưa con đi," Lê-na nói, đầy tin tưởng.

Và cho tới tận hôm nay, những người tốt bụng ở Phrê-đê-rích-xbớc vẫn chưa làm sao bắt được em giải thích khác đi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Chaparral Prince, O. Henry, in trong tuyển tập Heart of the West
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →