Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Vết máu trong thư viện

Hồn ma lâu đài Can-tơ-vin · Chương 1/4 · của Oscar Wilde

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 13.967 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Khi ông Hai-ram B. Ô-tít, công sứ Hoa Kỳ,…
  2. 1:58Người Mỹ các ông quả là rất tự nhiên,…
  3. 4:56Theo chân bà, họ đi qua đại sảnh cổ…
  4. 5:33Bà cụ mỉm cười, đáp bằng cùng một giọng…
  5. 6:25Nhưng cậu vừa dứt lời thì một tia chớp…
  6. 7:09Thưa ông, chính mắt tôi đã thấy những điều…
  7. 8:20Hôm ấy trời ấm áp, nắng đẹp, và khi…
  8. 10:55Về tới một căn phòng bí mật nhỏ ở…

Chương 1: Vết máu trong thư viện

Khi ông Hai-ram B. Ô-tít, công sứ Hoa Kỳ, mua lại lâu đài Can-tơ-vin, ai cũng bảo ông đang làm một việc rất dại dột, vì chẳng còn nghi ngờ gì nữa, nơi ấy có ma. Thật vậy, chính huân tước Can-tơ-vin, một người cực kỳ trọng danh dự, cũng thấy mình có bổn phận nói rõ điều ấy với ông Ô-tít khi hai bên bàn chuyện mua bán.

— Chính chúng tôi cũng chẳng thiết ở đó nữa, — huân tước Can-tơ-vin nói, — từ khi bà cô của tôi, nữ công tước góa phụ xứ Bôn-tơn, bị dọa tới phát bệnh, rồi không bao giờ thật sự khỏi được, chỉ vì có hai bàn tay xương đặt lên vai bà trong lúc bà đang thay áo dự bữa tối. Tôi thấy mình phải nói để ông biết, thưa ông Ô-tít, rằng con ma ấy đã được nhiều người trong gia đình tôi còn sống tận mắt trông thấy, cả cha xứ trong vùng là đức cha Ô-gớt-tớt Đam-pi-ơ, một giảng viên trường đại học Hoàng Gia ở Kem-brít, cũng đã thấy. Sau tai nạn đáng tiếc của nữ công tước, chẳng gia nhân trẻ nào chịu ở lại với chúng tôi, còn phu nhân Can-tơ-vin thì thường mất ngủ vì những tiếng động bí ẩn vọng ra từ hành lang và thư viện.

— Thưa huân tước, — ông công sứ đáp, — tôi sẽ nhận cả đồ đạc lẫn con ma theo giá định sẵn. Tôi đến từ một đất nước hiện đại, nơi chúng tôi có mọi thứ mà tiền mua được. Với bao nhiêu chàng trai trẻ lanh lợi của chúng tôi đang làm náo động Cựu Thế Giới, mang về nước những diễn viên và nữ danh ca giỏi nhất của các ông, tôi đoán nếu ở châu Âu mà có cái thứ gọi là ma, thì chẳng bao lâu nữa chúng tôi đã mang nó về trưng trong một bảo tàng công cộng, hay đưa nó đi lưu diễn khắp nơi.

— Tôi e là con ma có thật đấy, — huân tước Can-tơ-vin mỉm cười nói, — dù có lẽ nó đã cưỡng lại được lời mời mọc của những ông bầu năng nổ của các ông. Nó nổi tiếng đã ba thế kỷ rồi, chính xác là từ năm một nghìn năm trăm tám mươi tư, và bao giờ cũng hiện ra trước khi có người trong gia đình chúng tôi qua đời.

— Chà, về chuyện ấy thì ông bác sĩ gia đình cũng thế thôi, thưa huân tước. Nhưng thưa ông, làm gì có ma. Và tôi đoán các định luật của Tự Nhiên sẽ không vì giới quý tộc Anh mà tạm ngừng đâu.

— Người Mỹ các ông quả là rất tự nhiên, — huân tước Can-tơ-vin đáp, ông không hiểu lắm câu cuối của ông Ô-tít. — Nếu ông không ngại có ma trong nhà thì cũng được thôi. Chỉ xin ông nhớ là tôi đã báo trước.

Vài tuần sau, việc mua bán xong xuôi, và cuối mùa hội hè, ông công sứ cùng gia đình về lâu đài Can-tơ-vin. Bà Ô-tít, hồi còn là cô Lu-crê-xi-a R. Táp-pân ở phố Năm Mươi Ba phía Tây, từng là một người đẹp nổi danh của Niu Oóc, giờ là một phụ nữ trung niên rất duyên dáng, đôi mắt đẹp, dáng nhìn nghiêng tuyệt mỹ. Nhiều phu nhân Mỹ khi rời quê hương thường làm ra vẻ ốm yếu kinh niên, vì tưởng đó là một kiểu thanh lịch châu Âu, nhưng bà Ô-tít chưa bao giờ mắc phải sai lầm ấy. Bà có một thể chất tuyệt vời và một sức sống thật đáng kinh ngạc. Thật ra, về nhiều mặt bà khá giống người Anh, và là một ví dụ tuyệt hảo cho thấy ngày nay chúng ta thật sự có mọi thứ chung với nước Mỹ, dĩ nhiên trừ ngôn ngữ. Con trai cả của bà, được cha mẹ đặt tên là Oa-sinh-tơn trong một phút yêu nước bồng bột mà cậu không bao giờ thôi tiếc, là một thanh niên tóc vàng, khá điển trai. Cậu đã đủ tư cách làm nhà ngoại giao Mỹ nhờ ba mùa liền cầm trịch các điệu nhảy ở sòng bạc Niu-pót, và ngay cả ở Luân Đôn cũng nổi tiếng nhảy giỏi. Hoa dành dành và giới quý tộc là hai điểm yếu duy nhất của cậu. Ngoài ra cậu cực kỳ biết điều. Cô Vơ-gin-ni-a E. Ô-tít là một cô bé mười lăm tuổi, mềm mại và xinh xắn như một chú nai con, đôi mắt xanh to tròn đầy vẻ tự do phóng khoáng. Cô là một nữ kỵ sĩ cừ khôi. Có lần cô cưỡi con ngựa nhỏ đua với ông huân tước già Bin-tơn hai vòng quanh công viên, thắng hơn một thân rưỡi ngựa ngay trước tượng A-sin, làm chàng công tước trẻ xứ Chét-sơ thích chí vô cùng, tới mức cầu hôn cô ngay tại chỗ, và tối hôm ấy bị người giám hộ tống trở về trường I-tơn, nước mắt giàn giụa. Sau Vơ-gin-ni-a là cặp sinh đôi, thường được gọi là "Sao và Sọc", vì hai đứa lúc nào cũng bị roi vọt. Chúng là những cậu bé dễ thương, và trừ ông công sứ đáng kính ra, chúng là hai người cộng hòa thực thụ duy nhất trong nhà.

Vì lâu đài Can-tơ-vin cách ga xe lửa gần nhất là Át-cốt bảy dặm, ông Ô-tít đã đánh điện thuê một cỗ xe ngựa ra đón, và cả nhà lên đường trong tâm trạng phấn khởi. Đó là một buổi chiều tháng Bảy tuyệt đẹp, không khí thoang thoảng hương rừng thông. Thỉnh thoảng họ nghe một con bồ câu rừng gù gù say sưa với giọng hót ngọt ngào của chính nó, hoặc thấy sâu trong đám dương xỉ xào xạc bộ ngực bóng loáng của một con gà lôi. Những chú sóc nhỏ ngó họ từ trên những cây sồi khi họ đi qua, và lũ thỏ chạy vụt qua bụi rậm, qua những gò rêu, đuôi trắng vểnh lên. Thế nhưng khi họ vừa vào con đường rợp bóng cây dẫn tới lâu đài Can-tơ-vin, bầu trời bỗng mây đen kéo kín, một sự tĩnh lặng kỳ lạ như ghì chặt không gian, một đàn quạ lớn lặng lẽ bay qua đầu họ, và trước khi họ tới được ngôi nhà, đã có những giọt mưa to rơi xuống.

Đứng trên bậc thềm đón họ là một bà cụ ăn mặc gọn gàng trong bộ lụa đen, đội mũ trắng, đeo tạp dề trắng. Đó là bà Âm-ni, người quản gia mà bà Ô-tít, theo lời khẩn khoản của phu nhân Can-tơ-vin, đã đồng ý giữ lại ở vị trí cũ. Khi họ xuống xe, bà lần lượt cúi chào từng người thật thấp, và nói bằng một giọng cổ kính, kiểu cách:

— Xin chào mừng quý vị đến lâu đài Can-tơ-vin.

Theo chân bà, họ đi qua đại sảnh cổ kính đẹp đẽ vào thư viện, một căn phòng dài, trần thấp, ốp gỗ sồi đen, cuối phòng có một ô cửa sổ lớn bằng kính màu. Ở đây trà đã được bày sẵn. Cởi áo khoác xong, họ ngồi xuống, bắt đầu nhìn ngắm xung quanh, trong khi bà Âm-ni phục vụ.

Bỗng bà Ô-tít trông thấy một vết đỏ sậm trên sàn ngay cạnh lò sưởi. Hoàn toàn không biết nó thật ra có nghĩa là gì, bà bảo bà Âm-ni:

— Tôi e là có gì đó bị đổ ra kia.

— Thưa bà, đúng vậy, — bà quản gia già khẽ đáp, — máu đã đổ ra ở chỗ ấy.

— Kinh khủng quá! — bà Ô-tít kêu lên. — Tôi chẳng thích vết máu trong phòng khách chút nào. Phải tẩy nó đi ngay.

Bà cụ mỉm cười, đáp bằng cùng một giọng thì thầm bí ẩn:

— Đó là máu của phu nhân Ê-lê-no đờ Can-tơ-vin, người đã bị chính chồng mình, Ngài Xai-mơn đờ Can-tơ-vin, sát hại ngay tại chỗ ấy vào năm một nghìn năm trăm bảy mươi lăm. Ngài Xai-mơn sống thêm chín năm nữa, rồi biến mất đột ngột trong những hoàn cảnh hết sức bí ẩn. Xác ngài chưa bao giờ được tìm thấy, nhưng linh hồn tội lỗi của ngài vẫn còn ám lâu đài. Vết máu này được du khách và nhiều người khác hết sức trầm trồ, và không thể tẩy đi được.

— Toàn chuyện vớ vẩn, — Oa-sinh-tơn Ô-tít kêu lên. — Thuốc Tẩy Vết Bẩn Vô Địch hiệu Pin-cơ-tơn kiêm Chất Tẩy Rửa Tuyệt Hảo sẽ làm sạch nó trong nháy mắt.

Trước khi bà quản gia kinh hoàng kịp can thiệp, cậu đã quỳ xuống, cầm một thỏi nhỏ trông như thỏi phấn đen kỳ cọ sàn nhà lia lịa. Chỉ vài giây sau đã chẳng còn thấy vết máu đâu nữa.

— Con biết thế nào Pin-cơ-tơn cũng làm được mà, — cậu đắc thắng kêu lên, nhìn quanh cả nhà đang ngưỡng mộ.

Nhưng cậu vừa dứt lời thì một tia chớp khủng khiếp lóe sáng cả căn phòng u tối, một tràng sấm đáng sợ làm tất cả giật nảy mình đứng bật dậy, và bà Âm-ni ngất lịm.

— Khí hậu gì mà quái gở thế! — ông công sứ bình thản nói, châm một điếu xì gà dài. — Tôi đoán đất nước cũ này đông dân quá, nên không đủ thời tiết tử tế chia cho mọi người. Tôi vẫn luôn cho rằng di cư là cách duy nhất cứu nước Anh.

— Anh Hai-ram thân yêu, — bà Ô-tít kêu lên, — biết làm gì với một bà cứ ngất xỉu thế này?

— Bắt bà ấy đền như đền đồ vỡ ấy, — ông công sứ đáp. — Thế là bà ấy sẽ thôi ngất.

Và chỉ một lát sau, quả nhiên bà Âm-ni tỉnh lại. Dù vậy, chắc chắn bà đã hết sức hoảng loạn, và bà nghiêm khắc cảnh báo ông Ô-tít hãy coi chừng tai họa sắp giáng xuống ngôi nhà.

— Thưa ông, chính mắt tôi đã thấy những điều khiến bất cứ người Cơ Đốc nào cũng phải dựng tóc gáy, — bà nói, — và biết bao đêm tôi không chợp mắt được vì những chuyện khủng khiếp xảy ra ở đây.

Thế nhưng ông Ô-tít và vợ nồng nhiệt trấn an con người chân thật ấy rằng họ không sợ ma. Sau khi cầu xin Thượng Đế ban phước lành cho ông bà chủ mới, và thu xếp xong việc tăng lương, bà quản gia già lập cập đi về phòng mình.

Cơn bão hoành hành dữ dội suốt đêm ấy, nhưng chẳng có chuyện gì đáng kể xảy ra. Thế nhưng sáng hôm sau, khi xuống ăn sáng, họ lại thấy vết máu khủng khiếp trên sàn nhà.

— Con không nghĩ là tại Chất Tẩy Rửa Tuyệt Hảo đâu, — Oa-sinh-tơn nói, — vì con đã thử nó với đủ mọi thứ rồi. Hẳn là tại con ma.

Thế là cậu lại tẩy vết máu lần thứ hai, nhưng sáng hôm sau nữa nó lại hiện ra. Sáng thứ ba nó vẫn ở đó, dù tối hôm trước chính ông Ô-tít đã khóa cửa thư viện và mang chìa khóa lên lầu. Giờ thì cả nhà đều thấy hứng thú. Ông Ô-tít bắt đầu ngờ rằng có lẽ mình đã quá giáo điều khi phủ nhận sự tồn tại của ma. Bà Ô-tít tỏ ý muốn gia nhập Hội Tâm Linh. Còn Oa-sinh-tơn thì soạn một bức thư dài gửi hai ông Mai-ơ và Pót-mo bàn về Tính Bền Vững của Vết Máu khi Gắn với Tội Ác. Đêm ấy, mọi nghi ngờ về sự tồn tại khách quan của ma quỷ đã bị xóa bỏ vĩnh viễn.

Hôm ấy trời ấm áp, nắng đẹp, và khi chiều mát, cả nhà đi dạo bằng xe ngựa. Mãi chín giờ họ mới về, ăn một bữa tối nhẹ. Câu chuyện không hề xoay quanh ma quỷ, nên thậm chí chẳng có cả những điều kiện ban đầu là sự chờ đợi sẵn sàng tiếp nhận, thứ thường đi trước các hiện tượng tâm linh. Như sau này tôi được ông Ô-tít kể lại, những đề tài họ bàn chỉ là những chuyện thường gặp trong câu chuyện của những người Mỹ có học thuộc tầng lớp khá giả: chẳng hạn như cô Phan-ni Đê-vơn-pót hơn hẳn Sa-ra Béc-na làm diễn viên; chuyện khó kiếm được ngô non, bánh kiều mạch và cháo ngô, ngay cả trong những gia đình Anh khá giả nhất; tầm quan trọng của thành phố Bô-xtơn trong sự phát triển của linh hồn thế giới; lợi ích của hệ thống phiếu gửi hành lý khi đi tàu; và giọng Niu Oóc ngọt ngào ra sao so với giọng kéo dài lè nhè của dân Luân Đôn. Chẳng ai nhắc gì tới chuyện siêu nhiên, cũng chẳng ai đả động gì tới Ngài Xai-mơn đờ Can-tơ-vin. Mười một giờ cả nhà đi nghỉ, và tới mười một rưỡi mọi ngọn đèn đều đã tắt.

Một lúc sau, ông Ô-tít bị đánh thức bởi một tiếng động lạ ngoài hành lang, ngay bên ngoài phòng ông. Nghe như tiếng kim loại va loảng xoảng, và mỗi lúc một gần hơn. Ông lập tức dậy, quẹt diêm, xem giờ. Đúng một giờ sáng. Ông rất bình tĩnh, bắt mạch thử, thấy chẳng có chút sốt nào. Tiếng động lạ vẫn tiếp tục, và cùng với nó ông nghe rõ tiếng bước chân. Ông xỏ dép, lấy từ trong hộp đồ trang điểm ra một cái lọ nhỏ dài, rồi mở cửa. Ngay trước mặt ông, dưới ánh trăng nhợt nhạt, là một ông già trông khủng khiếp. Mắt lão đỏ như than hồng, mái tóc xám dài rủ xuống vai thành từng búi rối bết, quần áo kiểu cổ, bẩn thỉu rách rưới, cổ tay cổ chân treo lủng lẳng những cái cùm nặng và xiềng xích gỉ sét.

— Thưa ông thân mến, — ông Ô-tít nói, — tôi thật sự phải yêu cầu ông tra dầu cho mấy sợi xích ấy, và tôi đã mang tới cho ông một lọ nhỏ Dầu Bôi Trơn Mặt Trời Mọc hiệu Ta-ma-ni. Người ta bảo chỉ bôi một lần là công hiệu hoàn toàn, và trên giấy gói có mấy lời chứng nhận như thế của một vài vị mục sư lỗi lạc nhất nước chúng tôi. Tôi sẽ để nó ở đây cho ông, cạnh mấy cây nến trong phòng ngủ, và sẽ rất vui lòng cung cấp thêm nếu ông cần.

Nói xong, ngài công sứ Hoa Kỳ đặt cái lọ lên một chiếc bàn đá cẩm thạch, đóng cửa lại, rồi đi ngủ.

Trong một thoáng, con ma Can-tơ-vin đứng sững không nhúc nhích, phẫn nộ một cách hết sức tự nhiên. Rồi lão đập mạnh cái lọ xuống sàn nhà bóng loáng, bỏ chạy dọc hành lang, vừa chạy vừa rên những tiếng rỗng tuếch, người tỏa ra một thứ ánh sáng xanh lè ghê rợn. Thế nhưng đúng lúc lão vừa tới đầu cầu thang lớn bằng gỗ sồi, một cánh cửa bật mở, hai bóng nhỏ mặc áo ngủ trắng hiện ra, và một cái gối lớn bay vèo qua đầu lão! Rõ ràng không còn thời gian để mất nữa, thế nên lão vội dùng Chiều Thứ Tư của Không Gian làm lối thoát, biến mất qua lớp gỗ ốp tường, và cả ngôi nhà trở lại yên tĩnh.

Về tới một căn phòng bí mật nhỏ ở cánh trái, lão tựa vào một tia trăng để lấy lại hơi, và bắt đầu cố hiểu hoàn cảnh của mình. Chưa bao giờ, trong suốt một sự nghiệp lừng lẫy liên tục ba trăm năm, lão bị lăng nhục thô bạo đến thế. Lão nghĩ tới bà nữ công tước góa phụ, người mà lão đã dọa tới phát bệnh khi bà đứng trước gương trong bộ áo ren và kim cương. Nghĩ tới bốn cô hầu gái đã lên cơn kích động chỉ vì lão nhe răng cười với họ qua tấm rèm ở một phòng ngủ dành cho khách. Nghĩ tới ông cha xứ bị lão thổi tắt nến một đêm khuya khi ông từ thư viện đi ra, và từ đó tới nay phải nhờ bác sĩ nổi tiếng chăm sóc, một nạn nhân thực thụ của chứng rối loạn thần kinh. Nghĩ tới bà cụ đờ Trê-mui-ắc, một sáng thức dậy sớm, thấy một bộ xương ngồi trên ghế bành bên lò sưởi đang đọc nhật ký của bà, và đã phải nằm liệt giường sáu tuần vì sốt não, rồi khi khỏi bệnh thì quay về với nhà thờ, cắt đứt quan hệ với ông Vôn-te, kẻ hoài nghi khét tiếng. Lão nhớ cái đêm khủng khiếp khi người ta thấy ông huân tước Can-tơ-vin độc ác đang nghẹt thở trong phòng thay đồ, con bồi rô mắc nửa chừng trong cổ họng, và trước khi chết ông thú nhận đã dùng chính lá bài ấy lừa của ông Phốc năm vạn bảng ở sòng bạc, rồi thề rằng con ma đã bắt ông nuốt nó. Mọi chiến công lừng lẫy lại hiện về trong lão: từ ông quản gia đã tự bắn mình trong phòng chứa đồ ăn vì thấy một bàn tay xanh gõ vào ô kính cửa sổ, tới phu nhân Xtát-phin xinh đẹp, người lúc nào cũng phải đeo một dải nhung đen quanh cổ để che dấu năm ngón tay in cháy trên làn da trắng, và cuối cùng đã trầm mình trong ao cá chép ở cuối Lối Dạo Nhà Vua. Với lòng tự đắc nhiệt thành của một nghệ sĩ thực thụ, lão ôn lại những vai diễn nổi tiếng nhất của mình, và mỉm cười cay đắng khi nhớ tới lần xuất hiện gần đây nhất trong vai "Ru-bần Đỏ, hay Đứa Bé Bị Bóp Cổ", lần ra mắt đầu tiên trong vai "Ghi-bê-ôn Gầy Gò, Kẻ Hút Máu Đồng Hoang Béc-xli", và cơn sốt mà lão đã gây ra vào một tối tháng Sáu đẹp trời chỉ bằng cách lấy chính xương mình chơi trò ném ki trên sân quần vợt. Thế mà sau ngần ấy chuyện, lại có mấy người Mỹ hiện đại khốn khổ tới mời lão Dầu Bôi Trơn Mặt Trời Mọc, rồi ném gối vào đầu lão! Thật không thể chịu nổi. Vả lại, trong lịch sử chưa từng có con ma nào bị đối xử như thế. Vì vậy lão quyết định phục thù, và ngồi suy nghĩ đăm chiêu cho tới khi trời sáng.

— Hết chương 1 —

Mục lục Hồn ma lâu đài Can-tơ-vin

  1. 1Vết máu trong thư viện13 phút
  2. 2Ba lần dọa không thànhĐang thu âm
  3. 3Con ma đáng thươngĐang thu âm
  4. 4Cây hạnh nở hoaĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảOscar Wilde (1854 – 1900)
Năm mất1900
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Canterville Ghost, in lần đầu năm 1887, sau in trong Lord Arthur Savile's Crime and Other Stories, 1891
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →