Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

I-li-át

của Lev Tolstoy

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 8.251 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ở tỉnh U-pha có một người Bát-xkia tên là…
  2. 2:35Người hàng xóm là Mu-ha-mét-sác thương hai ông bà.…
  3. 4:02Ông khách đáp:
  4. 4:28Phải, xem ra hạnh phúc cũng xoay như cái…
  5. 4:55Ba-bai, tiếng Bát-xkia có nghĩa là ông.
  6. 5:36Ông khách bèn nói vọng vào sau tấm màn:
  7. 6:29Thế hạnh phúc của ông bà bây giờ là…
  8. 8:06Các ông đừng cười. Chuyện này không phải chuyện…

Ở tỉnh U-pha có một người Bát-xkia tên là I-li-át. Cha mất đi, để lại cho I-li-át chẳng được bao nhiêu. Ông cụ vừa cưới vợ cho con được một năm thì qua đời. Lúc ấy gia tài của I-li-át chỉ có bảy con ngựa cái, hai con bò và hai chục con cừu. Nhưng I-li-át là người biết làm ăn. Từ sáng tới tối anh cùng vợ cặm cụi làm lụng, dậy sớm hơn mọi người, đi ngủ muộn hơn mọi người, và năm nào cũng giàu thêm một chút. Cứ chăm chỉ như thế ba mươi lăm năm, I-li-át gây dựng được một cơ nghiệp lớn.

Bấy giờ I-li-át có hai trăm con ngựa, một trăm năm mươi con bò, một nghìn hai trăm con cừu. Người làm thuê chăn những đàn ngựa, đàn bò của I-li-át. Các chị làm thuê vắt sữa ngựa, sữa bò, làm rượu sữa ngựa, làm bơ, làm phó mát. Nhà I-li-át cái gì cũng nhiều, khắp vùng ai cũng thèm được sống như I-li-át. Người ta bảo nhau:

— I-li-át sướng thật. Cái gì cũng có, sướng thế thì đến chết cũng chẳng cần.

Những người có địa vị bắt đầu biết tiếng I-li-át, tìm đến làm quen. Khách ở tận đâu đâu cũng tới chơi. Ai tới, I-li-át cũng tiếp, cũng mời ăn mời uống. Hễ có người đến là có rượu sữa ngựa, có trà, có canh thịt, có thịt cừu. Khách vừa tới là nhà giết ngay một con cừu, có khi hai con. Khách đông thì giết cả một con ngựa cái.

I-li-át có hai con trai và một con gái. Ông cưới vợ cho hai con trai, gả chồng cho con gái. Hồi I-li-át còn nghèo, hai con trai cùng làm với cha, tự tay chăn ngựa, chăn cừu. Đến khi giàu rồi, hai đứa sinh ra lêu lổng, một đứa còn đâm nghiện rượu. Đứa lớn bị người ta đánh chết trong một trận ẩu đả. Đứa nhỏ thì vớ phải cô vợ kiêu căng, rồi đâm ra không nghe lời cha nữa, I-li-át đành phải cho nó ra ở riêng.

I-li-át chia cho con nhà cửa, gia súc, thế là gia tài vơi đi một phần. Ít lâu sau, đàn cừu của I-li-át mắc dịch, chết rất nhiều. Rồi đến một năm mất mùa, cỏ không mọc, mùa đông năm ấy gia súc chết đói hàng loạt. Rồi người Kiếc-ghi-di cướp mất đàn ngựa tốt nhất. Cơ nghiệp của I-li-át cứ thế mà mòn dần. I-li-át mỗi năm mỗi sa sút, sức lực cũng kém đi. Tới năm bảy mươi tuổi, ông phải đem bán áo lông, bán thảm, bán yên ngựa, bán lều, rồi bán nốt mấy con vật cuối cùng, và trắng tay. Chính ông cũng không hiểu sao cơ sự lại ra nông nỗi ấy, chỉ biết rằng đến lúc tuổi già, hai vợ chồng phải đi ở đợ cho người ta. Của cải của I-li-át chỉ còn bộ quần áo trên người, cái áo lông, cái mũ, đôi ủng với đôi giày, và bà vợ, bà Sam-sê-ma-ghi, cũng đã già như ông. Đứa con ra ở riêng thì đã đi tới một miền xa xôi, con gái thì đã chết. Không còn ai giúp đỡ hai ông bà già nữa.

Người hàng xóm là Mu-ha-mét-sác thương hai ông bà. Mu-ha-mét-sác không nghèo mà cũng không giàu, sống đều đều, là một người tốt. Ông nhớ lại những bữa cơm, bữa rượu ở nhà I-li-át ngày trước, động lòng thương, bảo I-li-át:

— Ông I-li-át ạ, ông với bà nhà sang ở với tôi. Mùa hè, ông làm được bao nhiêu thì làm, trông nom vườn dưa cho tôi. Mùa đông, ông cho gia súc ăn. Còn bà Sam-sê-ma-ghi thì vắt sữa ngựa, làm rượu sữa. Tôi lo cho hai ông bà cơm ăn áo mặc, cần gì cứ bảo, tôi đưa.

I-li-át cảm ơn người hàng xóm, rồi hai vợ chồng sang ở làm thuê cho Mu-ha-mét-sác. Lúc đầu thấy nặng nhọc lắm, nhưng dần dần cũng quen, hai ông bà già cứ thế sống, làm việc vừa với sức mình.

Giữ những người như thế trong nhà thật là lợi cho chủ, vì hai ông bà trước kia vốn là chủ, biết hết mọi lề lối, lại không lười, có sức bao nhiêu làm bấy nhiêu. Chỉ có điều Mu-ha-mét-sác nhiều khi nhìn mà thấy xót, người từng ở trên cao như thế mà nay lại rơi xuống thấp như thế.

Một hôm, nhà Mu-ha-mét-sác có khách thông gia từ xa tới, lại có cả thầy mun-la. Mu-ha-mét-sác sai bắt một con cừu làm thịt. I-li-át lột da, nấu chín rồi bưng lên mời khách. Khách ăn thịt cừu, uống trà, rồi chuyển sang uống rượu sữa ngựa. Khách và chủ ngồi trên những chiếc gối lông tơ, trên những tấm thảm, uống rượu sữa trong chén, trò chuyện rôm rả. I-li-át làm xong việc, đi ngang qua cửa. Mu-ha-mét-sác trông thấy, bảo ông khách:

— Ông có thấy ông già vừa đi qua cửa không?

Ông khách đáp:

— Có thấy. Thế ông ấy có gì lạ?

— Lạ ở chỗ ông ấy ngày trước là người giàu nhất vùng này. Tên là I-li-át, có lẽ ông đã nghe nói.

— Nghe thì nghe rồi chứ, ông khách nói. Mặt thì chưa thấy, nhưng tiếng tăm thì đã đồn tận đâu đâu.

— Thế đấy, bây giờ ông ấy chẳng còn gì cả. Ông ấy ở làm thuê cho tôi, bà vợ cũng ở đây, vắt sữa ngựa.

Ông khách lấy làm lạ, tặc lưỡi, lắc đầu, nói:

— Phải, xem ra hạnh phúc cũng xoay như cái bánh xe, đưa người này lên, đưa người kia xuống. Thế chắc ông già buồn lắm nhỉ?

— Ai mà biết được. Ông ấy sống lặng lẽ, hiền lành, làm việc rất chu đáo.

Ông khách bảo:

— Có nói chuyện với ông ấy được không? Tôi muốn hỏi xem đời ông ấy ra sao.

— Được chứ, sao lại không, chủ nhà đáp, rồi gọi vọng ra sau lều:

— Ba-bai ơi, vào đây uống chén rượu sữa, gọi cả bà nhà vào nữa.

Ba-bai, tiếng Bát-xkia có nghĩa là ông.

I-li-át cùng vợ bước vào. Ông chào khách và chủ nhà, đọc một câu kinh, rồi quỳ ngồi xuống cạnh cửa. Còn bà vợ thì đi vào sau tấm màn, ngồi với bà chủ.

Người ta đưa cho I-li-át một chén rượu sữa. I-li-át chúc sức khoẻ khách và chủ, cúi chào, uống một ít rồi đặt chén xuống.

— Thế nào, ông cụ, ông khách hỏi, nhìn chúng tôi thế này, chắc ông buồn lắm nhỉ, nhớ lại cái thời ông còn sung sướng, rồi nghĩ tới cảnh khổ bây giờ?

I-li-át mỉm cười, nói:

— Giờ mà tôi kể chuyện sướng với khổ cho ông nghe thì ông không tin đâu. Ông hỏi bà nhà tôi thì hơn. Đàn bà bụng nghĩ sao miệng nói vậy, bà ấy sẽ nói hết sự thật cho ông nghe.

Ông khách bèn nói vọng vào sau tấm màn:

— Thế nào, bà cụ, bà nói cho tôi nghe xem, bà nghĩ sao về cái hạnh phúc ngày xưa và cái khổ ngày nay?

Bà Sam-sê-ma-ghi nói từ sau tấm màn:

— Tôi nghĩ thế này. Hai vợ chồng tôi sống với nhau năm mươi năm, đi tìm hạnh phúc mà không thấy. Chỉ mới đây thôi, được hai năm nay, từ khi chúng tôi chẳng còn gì cả, phải đi làm thuê, chúng tôi mới tìm ra hạnh phúc thật sự, và chúng tôi chẳng cần hạnh phúc nào khác nữa.

Ông khách ngạc nhiên, chủ nhà cũng ngạc nhiên, thậm chí nhổm cả dậy, vén tấm màn lên để nhìn bà cụ. Bà cụ đứng đó, hai tay chắp lại, mỉm cười, nhìn ông chồng. Ông chồng cũng mỉm cười. Bà cụ nói thêm:

— Tôi nói thật đấy, không đùa đâu. Nửa thế kỷ chúng tôi đi tìm hạnh phúc, lúc giàu có thì chẳng thấy đâu. Bây giờ chẳng còn gì, phải đi ở cho người ta, thì lại gặp được hạnh phúc, chẳng còn mong gì hơn.

— Thế hạnh phúc của ông bà bây giờ là ở chỗ nào?

— Là thế này. Hồi giàu có, hai vợ chồng tôi chẳng được lấy một giờ yên ổn. Chẳng có lúc nào mà chuyện trò với nhau, mà nghĩ tới linh hồn, mà cầu nguyện Thượng đế. Lo nghĩ biết bao nhiêu là chuyện. Lúc thì khách đến nhà, lại lo đãi ai món gì, tặng ai quà gì cho người ta khỏi chê cười. Khách về rồi thì lại phải coi chừng người làm, họ chỉ chực nghỉ ngơi, chực ăn miếng ngon, còn mình thì canh chừng cho của nhà khỏi hao hụt, thế là mắc tội. Lúc thì lo sói vồ mất con ngựa non, con bê con, lo kẻ trộm lùa mất đàn ngựa. Đi nằm mà không ngủ được, lo cừu lớn đè chết cừu non. Phải trở dậy, đi xem lúc nửa đêm. Vừa mới yên lòng thì lại lo, làm sao dự trữ đủ cỏ cho mùa đông. Mà đâu chỉ thế, hai vợ chồng tôi còn chẳng hoà thuận với nhau. Ông ấy bảo phải làm thế này, tôi bảo phải làm thế kia, thế là sinh tội, cãi nhau. Cứ thế mà sống, hết lo này tới lo khác, hết tội này tới tội khác, chẳng biết thế nào là một cuộc đời sung sướng.

— Thế còn bây giờ?

— Bây giờ thì sáng ra, hai vợ chồng tôi thức dậy, bao giờ cũng nói với nhau những lời thương yêu, hoà thuận, chẳng có gì phải cãi, chẳng có gì phải lo. Lo mỗi một việc là làm cho chủ. Làm vừa sức mình, làm vui vẻ, sao cho chủ không bị thiệt mà có lời. Đi làm về thì có bữa trưa, có bữa tối, có rượu sữa. Trời rét thì có phân khô để sưởi, có áo lông để mặc. Lại có lúc để chuyện trò, để nghĩ tới linh hồn, để cầu nguyện Thượng đế. Năm mươi năm đi tìm hạnh phúc, bây giờ mới tìm ra.

Khách khứa phá lên cười.

Nhưng I-li-át nói:

— Các ông đừng cười. Chuyện này không phải chuyện đùa đâu, đây là đời người đấy. Hai vợ chồng tôi ngày trước cũng dại dột, cứ khóc lóc vì mất của. Bây giờ Thượng đế đã mở mắt cho chúng tôi thấy sự thật, và chúng tôi nói ra không phải để mình vui, mà vì muốn điều tốt cho các ông.

Thầy mun-la bèn nói:

— Đây là lời nói khôn ngoan. I-li-át nói đúng sự thật, trong Kinh sách cũng có chép như thế.

Khách khứa thôi cười, ai nấy ngồi lặng đi mà suy nghĩ.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1885
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Ильяс, 1885
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →