Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Kẻ Giết Kẻ Ngốc

của O. Henry

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 15.636 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ở miền Nam, hễ có ai làm một chuyện…
  2. 5:03Một tối, Kơ-nơ mời tôi ăn tối với anh…
  3. 7:31Trông y hệt nước sông Mi-xi-xi-pi ở khúc quanh…
  4. 8:43Thế rồi tôi nhìn quanh và thấy Kẻ Giết…
  5. 11:10Kẻ Giết Kẻ Ngốc quay lưng bước ra khỏi…
  6. 13:12Kẻ Giết Kẻ Ngốc nhìn tôi chăm chú, vẻ…
  7. 14:59Anh có biết cô gái mà bạn anh đang…
  8. 16:10Trời, — anh nói, — tôi đâu ngờ một…

Ở miền Nam, hễ có ai làm một chuyện ngu ngốc to như núi là mọi người lại bảo: "Gọi Giét-xi Hôm tới đây."

Giét-xi Hôm là Kẻ Giết Kẻ Ngốc. Dĩ nhiên ông ta chỉ là chuyện hoang đường, như ông già Nô-en, như ông Giá Rét, như Tướng quân Phồn Thịnh, như tất cả những hình hài cụ thể mà người ta nặn ra để tượng trưng cho một ý niệm mà Tạo hoá quên chưa cho hiện thân. Người miền Nam khôn ngoan nhất cũng không nói được cái tên Kẻ Giết Kẻ Ngốc từ đâu ra. Nhưng từ sông Rô-a-nốc tới sông Ri-ô Gran-đê, những gia đình chưa bao giờ phải nhắc tới hay cầu viện cái tên Giét-xi Hôm thì vừa hiếm hoi vừa hạnh phúc. Bao giờ người ta cũng gọi ông tới làm nhiệm vụ với một nụ cười, và nhiều khi với một giọt nước mắt. Giét-xi Hôm là một người bận rộn.

Tôi còn nhớ rõ bức chân dung ông treo trên tường trí tưởng tượng của tôi hồi tôi còn chân đất, suốt ngày lẩn tránh cái nhiệm vụ mà người lớn vẫn dọa ông sẽ thi hành. Với tôi, ông là một lão già khủng khiếp, quần áo xám, râu xám dài lởm chởm, đôi mắt đỏ ngầu dữ tợn. Tôi cứ chờ thấy ông lộc cộc đi trên con đường làng giữa một đám bụi mù, tay chống gậy gỗ sồi trắng, đôi giày buộc bằng dây da. Biết đâu tôi vẫn còn...

Nhưng đây là một câu chuyện, đâu phải phần tiếp theo.

Tôi buồn lòng nhận thấy rằng hiếm có câu chuyện nào đáng đọc mà không có rượu chè ít nhiều. Chất lỏng cứ thế trôi xuống cổ họng, từ ba ngón tay rượu đỏ độc như thuốc chuột của gã A-ri-dô-na Đích cho tới chén trà ô long vô hiệu nhưng vẫn tiếp sức cho chàng Li-ô-nen Môn-trét-xo đối đáp trong mấy cuốn truyện tình lãng đãng. Vậy thì giữa bạn bè tử tế như thế, tôi cũng xin được giới thiệu một cốc rượu ngải nhỏ giọt, một cốc rượu ngải nhỏ giọt qua chiếc phễu bạc, ngay ngắn, trắng đục như ngọc mắt mèo, mát lạnh, mắt xanh lè, và dối trá.

Kơ-nơ là một thằng ngốc. Ngoài ra, anh còn là hoạ sĩ và là bạn tốt của tôi. Này, nếu trên đời có thứ gì đáng khinh tột bậc trong mắt một kẻ khác, thì đó là anh hoạ sĩ trong mắt nhà văn có truyện được anh ta minh hoạ. Cứ thử một lần mà xem. Viết một truyện về trại đào mỏ ở Ai-đa-hô. Bán nó đi. Tiêu hết tiền, rồi sáu tháng sau đi vay hai lăm xu, hay một hào, để mua cuốn tạp chí có in truyện ấy. Bạn sẽ thấy một bức tranh màu nước choán cả trang, vẽ nhân vật chính của bạn, gã cao bồi Bin Đen. Đâu đó trong truyện bạn có dùng chữ "con ngựa". A ha! Anh hoạ sĩ đã nắm được ý. Bin Đen mặc chiếc quần chuẩn mực của ngài trưởng đoàn săn cáo quận Ue-xtê-xtơ. Hắn cầm cây súng trường đồ chơi trong phòng khách, đeo kính một mắt. Xa xa là một khúc phố Bốn mươi hai trong lúc người ta đào đường tìm ống ga bị mất, cùng với lăng Ta-giơ Ma-han, toà lăng nổi tiếng ở Ấn Độ.

Thôi đủ rồi! Tôi ghét Kơ-nơ, và một hôm tôi gặp anh, thế là chúng tôi thành bạn. Anh còn trẻ, và u sầu một cách huy hoàng, vì tinh thần anh đang phơi phới mà cuộc đời còn để dành cho anh bao nhiêu thứ. Phải, anh buồn đến mức gần như náo loạn. Đó là tuổi trẻ của anh. Khi một người đàn ông bắt đầu vui nhộn theo kiểu sầu muộn, bạn có thể đánh cược một triệu rằng ông ta đang nhuộm tóc. Tóc Kơ-nơ thì dày và được vò rối cẩn thận, đúng như mái tranh trên đầu một hoạ sĩ phải thế. Anh nghiện thuốc lá cuốn, và nhấm nháp rượu vang đỏ để soát lại bữa tối. Nhưng trên hết, anh là một thằng ngốc. Còn tôi, một cách khôn ngoan, tôi ghen tị với anh, và kiên nhẫn ngồi nghe anh chê bai Vê-lát-két với Tin-tô-rét-tô. Có lần anh bảo anh thích một truyện của tôi mà anh tình cờ đọc trong một tuyển tập. Anh tả lại cho tôi nghe, thì ra đó là truyện của ông Phít-giêm Ô-brai-ân, và tôi chỉ tiếc là ông ấy đã qua đời, không được biết lời khen ngợi tác phẩm của mình. Nhưng phần lớn thời gian Kơ-nơ ít khi hớ hênh, và là một thằng ngốc trước sau như một.

Tôi phải giải thích tôi gọi thế là có ý gì. Có một cô gái. Này, theo tôi thì một cô gái là thứ thuộc về trường nữ học hay một cuốn album, nhưng tôi đành công nhận con vật ấy có tồn tại để giữ tình bạn với Kơ-nơ. Anh cho tôi xem ảnh cô trong mặt dây chuyền. Cô tóc vàng hay tóc nâu, tôi quên mất rồi. Cô làm ở một nhà máy, tám đô-la một tuần. Để các nhà máy khỏi viện con số này ra mà thanh minh, tôi xin nói thêm là cô đã làm năm năm mới leo được tới đỉnh cao tiền công ấy, bắt đầu từ một đô-la rưỡi một tuần.

Bố Kơ-nơ có vài triệu. Ông sẵn lòng chịu cho con theo nghệ thuật, nhưng tới cô gái nhà máy thì ông vạch ranh giới. Thế là Kơ-nơ truất quyền làm bố của bố mình, bỏ nhà ra đi, thuê một xưởng vẽ rẻ tiền, sáng ăn xúc xích, tối ăn ở quán Pha-rô-ni. Pha-rô-ni có tâm hồn nghệ sĩ, lại có một khoản cho hoạ sĩ và thi sĩ ăn chịu được điều chỉnh rất khéo. Thỉnh thoảng Kơ-nơ bán được một bức tranh, liền mua một tấm thảm thêu mới, một chiếc nhẫn và một tá cà-vạt lụa, rồi trả Pha-rô-ni hai đô-la vào sổ nợ.

Một tối, Kơ-nơ mời tôi ăn tối với anh và cô gái nhà máy. Họ sẽ cưới nhau ngay khi Kơ-nơ quệt sơn ra được tiền. Còn hai triệu của ông cựu-bố ấy à, phù!

Cô ấy thật tuyệt. Nhỏ nhắn, xinh được độ nửa chừng, và thoải mái trong cái quán rẻ tiền ấy như thể đang ở khách sạn sang nhất Chi-ca-gô, với chiếc thìa kỷ niệm đã giấu kỹ trong áo. Cô tự nhiên lắm. Tôi để ý đặc biệt hai điều. Khoá thắt lưng của cô nằm đúng chính giữa lưng, và cô không kể với chúng tôi rằng có một gã to con cài ghim hồng ngọc đã bám theo cô suốt từ phố Mười bốn. Kơ-nơ có ngốc thật không nhỉ? Tôi tự hỏi. Rồi tôi nghĩ tới bao nhiêu măng-sét kẻ sọc và hạt cườm thuỷ tinh xanh mà hai triệu đô-la có thể mua cho dân ngoại đạo, và tôi tự nhủ rằng phải, anh ngốc thật. Rồi Ê-li-dơ, chắc chắn tên cô là thế, vui vẻ kể với chúng tôi rằng vết nâu trên áo cô là do bà chủ nhà gõ cửa đúng lúc cô đang hơ bàn là trên ngọn đèn ga, cô giấu bàn là vào trong chăn cho tới khi yên chuyện, thế rồi lúc cô bắt đầu là áo thì có miếng kẹo cao su dính vào bàn là, và, ờ, tôi tự hỏi làm thế quái nào mà miếng kẹo cao su lại ở đó được, bộ họ chẳng bao giờ ngừng nhai sao?

Ít lâu sau, đừng sốt ruột, cốc rượu ngải nhỏ giọt sắp tới rồi đây, Kơ-nơ và tôi ăn tối ở quán Pha-rô-ni. Một cây măng-đô-lin và một cây ghi-ta đang bị tấn công. Căn phòng đầy khói, xếp thành từng lớp dài quăn quăn xinh xắn, y như các hoạ sĩ vẽ hơi bốc lên từ chiếc bánh pút-đinh mận trên tranh quảng cáo Giáng sinh, và một bà mặc lụa xanh, đeo găng vừa giặt xăng, đang bắt đầu ngân nga một điệu hát miền núi.

— Kơ-nơ, — tôi nói, — anh là một thằng ngốc.

— Tất nhiên, — Kơ-nơ nói, — tôi sẽ không để cô ấy đi làm nữa. Vợ tôi thì không. Chờ làm gì nữa? Cô ấy bằng lòng rồi. Hôm qua tôi vừa bán bức màu nước vẽ vách đá bên sông. Bọn tôi có thể nấu ăn bằng cái bếp ga hai lò. Anh biết món ra-gu tôi nấu rồi đấy? Phải, tôi nghĩ tuần sau bọn tôi cưới.

— Kơ-nơ, — tôi nói, — anh là một thằng ngốc.

— Làm một cốc rượu ngải nhỏ giọt chứ? — Kơ-nơ nói, đầy vẻ hào phóng. — Tối nay anh là khách của Nghệ thuật đã ra tiền. Tôi nghĩ bọn tôi sẽ thuê một căn hộ có buồng tắm.

— Tôi chưa thử bao giờ, ý tôi là rượu ngải nhỏ giọt, — tôi nói.

Anh bồi mang ra, và chậm rãi rót nước lên viên đá trong chiếc phễu.

— Trông y hệt nước sông Mi-xi-xi-pi ở khúc quanh lớn dưới Nát-chê, — tôi nói, mê mẩn ngắm dòng nước đục đục nhỏ xuống.

— Có những căn hộ như thế giá tám đô-la một tuần, — Kơ-nơ nói.

— Anh là một thằng ngốc, — tôi nói, và bắt đầu nhấp thứ nước đã lọc. — Cái anh cần, — tôi nói tiếp, — là sự quan tâm chính thức của một ông tên là Giét-xi Hôm.

Kơ-nơ không phải dân miền Nam nên chẳng hiểu, cứ ngồi đó mơ màng, tính toán chuyện căn hộ theo cái kiểu nghệ sĩ mà tầm thường của anh, còn tôi thì nhìn sâu vào đôi mắt xanh lè của Thần Rượu Ngải sành sỏi.

Một lát sau tôi tình cờ để ý thấy đoàn nữ tín đồ thần Rượu vẽ trên tường ngay dưới trần nhà đã bắt đầu chuyển động, đi ngang căn phòng từ phải sang trái trong một cuộc hành hương vui vẻ và ngoạn mục. Tôi không thổ lộ phát hiện ấy với Kơ-nơ. Tâm hồn nghệ sĩ quá căng thẳng, khó mà chịu nổi những sai lệch như thế so với các định luật tự nhiên của nghệ thuật quét vôi tường. Tôi cứ lặng im nhấp rượu ngải, chẳng nói chẳng rằng.

Một cốc rượu ngải nhỏ giọt thì chẳng là bao, nhưng tôi lại tử tế nói với Kơ-nơ:

— Anh là một thằng ngốc.

Rồi bằng tiếng địa phương:

— Gọi Giét-xi Hôm cho anh thôi.

Thế rồi tôi nhìn quanh và thấy Kẻ Giết Kẻ Ngốc, đúng như ông vẫn hiện ra trong trí tưởng tượng của tôi, đang ngồi ở một bàn gần đó, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt đỏ ngầu, chết chóc, không khoan nhượng. Từ đầu tới chân ông đúng là Giét-xi Hôm. Ông có bộ râu xám dài lởm chởm, bộ quần áo xám kiểu cổ, cái nhìn của đao phủ, và đôi giày bụi bặm của người được gọi tới từ rất xa. Mắt ông dán chặt vào Kơ-nơ. Tôi rùng mình khi nghĩ rằng chính tôi đã gọi ông rời bỏ những bổn phận cần mẫn ở miền Nam. Tôi định bỏ chạy, nhưng rồi lại ngồi yên, vì nghĩ rằng đã có nhiều người thoát khỏi tay ông vào những lúc tưởng chừng chỉ có được bổ nhiệm làm đại sứ ở Tây Ban Nha mới cứu nổi họ. Kinh Thánh dạy rằng ai gọi anh em mình là đồ ngu thì đáng sa vào lửa địa ngục, mà tôi đã gọi người anh em Kơ-nơ của mình như thế. Chuyện ấy chẳng là gì, nhưng tôi sẽ cố cứu anh khỏi tay Giét-xi Hôm.

Kẻ Giết Kẻ Ngốc đứng dậy khỏi bàn, đi tới bàn chúng tôi. Ông chống hai tay lên bàn, chĩa đôi mắt rực lửa đầy hằn học vào Kơ-nơ, chẳng đoái hoài gì tới tôi.

— Mày là một thằng ngốc hết thuốc chữa, — ông nói với anh hoạ sĩ. — Chết đói chưa đủ hay sao? Tao cho mày một cơ hội nữa. Bỏ con bé ấy đi và về nhà. Không nghe thì mày phải chịu hậu quả.

Khuôn mặt đầy đe doạ của Kẻ Giết Kẻ Ngốc chỉ cách mặt nạn nhân một gang tay, nhưng tôi kinh hoàng thấy Kơ-nơ không hề tỏ ra là biết có ông ở đó.

— Tuần sau bọn tôi cưới, — anh lẩm bẩm, đầu óc để đâu đâu. — Với đồ đạc trong xưởng vẽ và ít đồ cũ mua thêm, bọn tôi xoay xở được.

— Mày đã tự định đoạt số phận mày, — Kẻ Giết Kẻ Ngốc nói, giọng khẽ mà khủng khiếp. — Coi như mày đã chết. Mày đã có cơ hội cuối cùng rồi.

— Dưới ánh trăng, — Kơ-nơ khẽ nói tiếp, — bọn tôi sẽ ngồi dưới cửa sổ trần với cây đàn ghi-ta, hát cho tan những niềm vui giả dối của danh vọng và tiền bạc.

— Thì tự mày chuốc lấy, — Kẻ Giết Kẻ Ngốc rít lên, và da đầu tôi gai gai khi nhận ra cả mắt lẫn tai Kơ-nơ đều không hề hay biết chút gì về Giét-xi Hôm. Thế là tôi hiểu ra, vì một lý do nào đó, tấm màn đã được vén lên cho riêng mình tôi, và tôi đã được chọn để cứu bạn mình khỏi bị huỷ diệt dưới tay Kẻ Giết Kẻ Ngốc. Hẳn nét mặt tôi đã lộ ra phần nào nỗi sợ hãi và kinh ngạc.

— Xin lỗi, — Kơ-nơ nói, với nụ cười nhợt nhạt, dễ mến của anh. — Tôi vừa nói một mình đấy à? Hình như dạo này tôi thành thói quen rồi.

Kẻ Giết Kẻ Ngốc quay lưng bước ra khỏi quán Pha-rô-ni.

— Chờ tôi ở đây, — tôi nói, đứng dậy. — Tôi phải nói chuyện với người kia. Anh không có câu nào đáp lại hắn sao? Chỉ vì anh là thằng ngốc mà anh phải chết như con chuột dưới chân hắn à? Anh không kêu nổi một tiếng chít để tự bào chữa sao?

— Anh say rồi, — Kơ-nơ nói, chẳng chút xót thương. — Có ai nói gì với tôi đâu.

— Kẻ chuyên trừ khử những đầu óc như anh, — tôi nói, — vừa đứng ngay trên đầu anh, đánh dấu anh làm nạn nhân. Anh đâu có mù, có điếc.

— Tôi chẳng thấy ai như thế cả, — Kơ-nơ nói. — Ở bàn này tôi chẳng thấy ai ngoài anh. Ngồi xuống đi. Từ giờ anh không được uống rượu ngải nhỏ giọt nữa.

— Chờ ở đây, — tôi nói, giận điên lên. — Anh không quý mạng mình thì tôi cứu nó cho anh.

Tôi vội vã đi ra, đuổi kịp người mặc đồ xám ở giữa khối nhà. Ông y hệt như tôi đã thấy trong tưởng tượng cả nghìn lần, hung hãn, xám xịt và đáng sợ. Ông chống gậy gỗ sồi trắng mà đi, và nếu không có xe tưới đường thì bụi đã tung mù dưới bước chân ông.

Tôi túm tay áo ông, lái ông vào một góc tối của một toà nhà. Tôi biết ông chỉ là chuyện hoang đường, và tôi không muốn một viên cảnh sát thấy tôi đang trò chuyện với khoảng không, vì có thể tôi sẽ bị tống vào nhà thương điên Be-lơ-viu, mất luôn cả hộp diêm bạc lẫn nhẫn kim cương.

— Giét-xi Hôm, — tôi nói, đối mặt với ông bằng vẻ can đảm bề ngoài, — tôi biết ông. Cả đời tôi đã nghe nói về ông. Giờ tôi mới biết ông là tai hoạ thế nào cho đất nước. Đáng lẽ giết những kẻ ngốc, ông lại đi giết tuổi trẻ và thiên tài, những thứ cần cho một dân tộc sống và lớn mạnh. Chính ông mới là kẻ ngốc, Hôm ạ. Ông đã bắt đầu giết những người sáng giá nhất, tốt đẹp nhất của đồng bào ta từ ba thế hệ trước, khi những chuẩn mực cũ kỹ, lỗi thời về giai cấp, danh dự và chính thống còn hẹp hòi và cố chấp. Ông vừa chứng minh điều đó khi đánh dấu tử thần lên bạn tôi, Kơ-nơ, người khôn ngoan nhất mà tôi từng biết trong đời.

Kẻ Giết Kẻ Ngốc nhìn tôi chăm chú, vẻ dữ dằn.

— Anh say kiểu lạ thật, — ông tò mò nói. — À, giờ thì tôi biết anh là ai rồi. Anh ngồi cùng bàn với nó. Nếu tôi không nhầm thì tôi cũng nghe anh gọi nó là thằng ngốc đấy thôi.

— Đúng thế, — tôi nói. — Tôi khoái gọi thế. Vì ghen tị. Theo mọi chuẩn mực ông biết, anh ấy là thằng ngốc lộ liễu nhất, hoành tráng nhất, lộng lẫy nhất trên đời. Vì thế ông mới muốn giết anh ấy.

— Phiền anh nói cho tôi biết anh nghĩ tôi là ai, hay là cái gì? — ông già hỏi.

Tôi cười vang, rồi bỗng im bặt, vì nhớ ra rằng để người ta thấy mình cười hô hố như thế khi chỉ có mỗi một bức tường gạch làm bạn thì không ổn.

— Ông là Giét-xi Hôm, Kẻ Giết Kẻ Ngốc, — tôi trịnh trọng nói, — và ông định giết bạn tôi, Kơ-nơ. Tôi không biết ai gọi điện cho ông, nhưng nếu ông giết anh ấy, tôi sẽ lo cho ông bị tóm. Nghĩa là, — tôi thêm vào, tuyệt vọng, — nếu tôi kiếm được một ông cảnh sát nhìn thấy ông. Mắt họ kém lắm, nhìn người trần còn chẳng rõ, và tôi nghĩ phải cả sở cảnh sát mới vây bắt nổi một kẻ giết người hoang đường.

— Thôi, — Kẻ Giết Kẻ Ngốc nói nhanh, — tôi phải đi đây. Anh nên về nhà ngủ cho tỉnh rượu. Chào anh.

Nghe vậy, một nỗi lo đột ngột cho Kơ-nơ khiến tôi chuyển sang giọng mềm mỏng, van nài hơn. Tôi dựa vào ống tay áo người đàn ông xám mà khẩn cầu:

— Ông Giết Kẻ Ngốc tốt bụng ơi, xin ông đừng giết anh Kơ-nơ bé nhỏ. Sao ông không về miền Nam mà giết mấy ông nghị với lũ ăn đất sét, để yên cho bọn tôi? Sao ông không lên đại lộ Năm mà giết mấy lão triệu phú khoá chặt tiền bạc, không cho đám trẻ ngốc nghếch lấy nhau chỉ vì một đứa sống sai phố? Đi làm một ly đi, Giét-xi. Bao giờ ông mới hiểu ra việc của ông vậy?

— Anh có biết cô gái mà bạn anh đang ngốc nghếch vì cô ấy không? — Kẻ Giết Kẻ Ngốc hỏi.

— Tôi có vinh dự được biết, — tôi nói, — và vì thế tôi mới gọi Kơ-nơ là thằng ngốc. Anh ấy ngốc vì đã chờ quá lâu mới cưới cô ấy. Anh ấy ngốc vì cứ chờ mong được sự đồng ý của một ông bố ngốc hai triệu đô-la vô lý nào đó, hay đại loại thế.

— Có lẽ, — Kẻ Giết Kẻ Ngốc nói, — có lẽ tôi, tôi nên nhìn chuyện này khác đi. Phiền anh quay lại quán đưa bạn anh, Kơ-nơ, ra đây được không?

— Ôi dào, được ích gì, Giét-xi, — tôi ngáp. — Anh ấy có thấy ông đâu. Lúc ở bàn ông nói chuyện với anh ấy mà anh ấy có biết đâu. Ông là nhân vật hư cấu mà, ông biết đấy.

— Có khi lần này nó thấy. Anh đi gọi nó nhé?

— Được rồi, — tôi nói, — nhưng tôi ngờ là ông không được tỉnh táo cho lắm, Giét-xi ạ. Ông có vẻ lung lay, đường nét mờ dần đi rồi. Đừng biến mất trước khi tôi quay lại đấy.

Tôi quay lại chỗ Kơ-nơ, nói:

— Ngoài kia có một người mắc chứng cuồng sát vô hình đang chờ gặp anh. Tôi tin hắn muốn giết anh. Đi nào. Anh sẽ không thấy hắn đâu, nên chẳng có gì phải sợ.

Kơ-nơ có vẻ lo lắng.

— Trời, — anh nói, — tôi đâu ngờ một cốc rượu ngải lại làm người ta ra nông nỗi thế. Lần sau anh cứ uống bia thôi. Để tôi đưa anh về.

Tôi dẫn anh tới chỗ Giét-xi Hôm.

— Ru-đôn, — Kẻ Giết Kẻ Ngốc nói, — bố chịu thua. Đưa con bé về nhà đi. Đưa tay đây, con.

— Bố tuyệt lắm, bố ạ, — Kơ-nơ nói, bắt tay ông già. — Biết cô ấy rồi bố sẽ chẳng bao giờ phải hối hận đâu.

— Thế ra lúc ông ấy nói chuyện với anh ở bàn, anh có thấy ông ấy à? — tôi hỏi Kơ-nơ.

— Bố con tôi không nói chuyện với nhau cả năm nay rồi, — Kơ-nơ nói. — Giờ thì ổn cả rồi.

Tôi bỏ đi.

— Anh đi đâu thế? — Kơ-nơ gọi với theo.

— Tôi đi tìm Giét-xi Hôm, — tôi đáp, đầy đường hoàng và dè dặt.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Fool-Killer, O. Henry, in trong tuyển tập The Voice of the City
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →