Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một: Bao tải vàng của người lạ

Kẻ làm bại hoại Hát-li-bớc · Chương 1/7 · của Mark Twain

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 14.811 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Chuyện xảy ra đã nhiều năm về trước. Hát-li-bớc…
  2. 3:54“Xin đăng lên báo, hoặc dò hỏi riêng để…
  3. 8:14Mười một giờ ông Ri-sớt về. Trong khi vợ…
  4. 10:39“Ơ khoan, khoan đã! Đừng bỏ tôi ở đây…
  5. 11:58“Ồ, dĩ nhiên rồi, nhưng ông ấy đâu có…
  6. 12:59Bà kêu lên: “Nói nhảm!”
  7. 14:05“Tôi, tôi nghĩ ông mà làm thế thì cũng…
  8. 16:33“Không vỡ lở đâu.”

Chương 1: Phần một: Bao tải vàng của người lạ

Chuyện xảy ra đã nhiều năm về trước. Hát-li-bớc là thị trấn lương thiện, ngay thẳng nhất trong cả vùng. Ba đời nay, thị trấn giữ cho tiếng thơm ấy không một vết nhơ, và họ tự hào về nó hơn mọi thứ tài sản khác. Họ tự hào đến thế, lại lo giữ gìn nó lâu dài đến thế, nên họ dạy trẻ con những nguyên tắc ăn ngay ở thẳng ngay từ khi còn nằm nôi. Rồi suốt những năm tháng học hành về sau, đó vẫn là bài học chính. Hơn nữa, trong những năm tuổi trẻ đang thành hình, mọi cám dỗ đều được dẹp khỏi đường đi của bọn trẻ, để tính lương thiện của chúng có đủ thời gian cứng cáp, đông đặc lại, ngấm vào tận xương tuỷ.

Các thị trấn láng giềng ganh tị với địa vị đáng kính ấy. Họ làm ra vẻ chế giễu niềm tự hào của Hát-li-bớc, gọi đó là thói kiêu căng. Nhưng dù sao họ vẫn buộc phải thừa nhận rằng Hát-li-bớc quả thật là một thị trấn không ai mua chuộc nổi. Mà nếu bị gặng hỏi, họ còn thừa nhận thêm rằng một chàng trai trẻ chỉ cần là người Hát-li-bớc, thì khi rời quê đi tìm một chỗ làm cần đến sự tin cẩn, đó đã là lời giới thiệu đủ đầy nhất rồi.

Nhưng rồi, theo dòng thời gian, Hát-li-bớc không may xúc phạm một người lạ đi ngang qua. Có lẽ họ không hề biết mình đã xúc phạm ông ta, và chắc chắn họ chẳng thèm bận tâm, bởi Hát-li-bớc tự cho mình là đủ đầy, chẳng màng gì tới người lạ hay ý kiến của người lạ. Ấy vậy mà lẽ ra họ nên ngoại lệ với người này, vì ông ta là một kẻ cay nghiệt và thù dai.

Suốt một năm trời lang bạt, ông ta vẫn ôm mối hận trong lòng, dành hết những lúc rảnh rỗi để nghĩ ra một cách trả đũa cho xứng. Ông nghĩ ra nhiều kế, kế nào cũng hay, nhưng chưa kế nào đủ quét sạch. Kế kém nhất cũng làm hại được khối người, nhưng cái ông muốn là một kế bao trùm cả thị trấn, không để một ai thoát mà không bị tổn thương. Cuối cùng ông nảy ra một ý tuyệt vời. Khi nó rơi vào đầu ông, cả cái đầu ông sáng rực lên một niềm vui độc ác. Ông bắt tay ngay vào việc lên kế hoạch, và tự nhủ: “Phải làm thế mới được. Ta sẽ làm cho cả thị trấn này hư hỏng.”

Sáu tháng sau, ông tới Hát-li-bớc. Khoảng mười giờ đêm, ông đánh một chiếc xe ngựa nhỏ đến trước ngôi nhà của ông thủ quỹ già ở ngân hàng. Ông lôi từ trên xe xuống một bao tải, vác lên vai, loạng choạng bước qua khoảng sân nhỏ, rồi gõ cửa. Một giọng đàn bà bảo: “Mời vào.” Ông bước vào, đặt bao tải ra sau cái lò sưởi trong phòng khách, rồi lễ phép nói với bà cụ đang ngồi đọc tờ báo truyền giáo bên ngọn đèn:

“Xin bà cứ ngồi yên, tôi không dám làm phiền đâu. Đấy, giờ thì giấu khá kỹ rồi, khó ai biết là có cái bao ở đó. Thưa bà, tôi có thể gặp ông nhà một lát được không?”

Không được, ông ấy đi Brích-xtơn rồi, có lẽ sáng mai mới về.

“Vâng, thưa bà, cũng chẳng sao. Tôi chỉ định gửi cái bao này cho ông ấy giữ hộ, để trao cho người chủ đích thực khi nào tìm ra người ấy. Tôi là người lạ, ông nhà không biết tôi đâu. Đêm nay tôi chỉ đi ngang qua thị trấn để làm cho xong một việc tôi ấp ủ đã lâu. Bây giờ việc của tôi đã xong, tôi ra đi, lòng vui và có chút tự hào, và bà sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa. Có một tờ giấy buộc vào bao, trong đó giải thích hết mọi điều. Chúc bà ngủ ngon.”

Bà cụ sợ người lạ to lớn bí ẩn kia, nên thấy ông ta đi thì mừng. Nhưng tính tò mò đã nổi lên, bà đi thẳng tới cái bao, gỡ lấy tờ giấy. Nó mở đầu như sau:

“Xin đăng lên báo, hoặc dò hỏi riêng để tìm cho ra người xứng đáng, cách nào cũng được. Bao tải này đựng tiền vàng, nặng một trăm sáu mươi pao bốn lạng...”

“Lạy Chúa tôi, mà cửa lại không khoá!”

Bà Ri-sớt run lẩy bẩy, chạy vội ra khoá cửa, rồi kéo rèm cửa sổ xuống. Bà đứng đó, sợ hãi, lo lắng, tự hỏi còn làm được gì nữa để cho mình và số tiền được an toàn hơn. Bà nghe ngóng một lúc xem có kẻ trộm nào không, rồi đầu hàng trước tính tò mò, quay lại bên ngọn đèn đọc nốt tờ giấy:

“Tôi là người nước ngoài, sắp trở về nước tôi, và sẽ ở lại đó luôn. Tôi biết ơn nước Mỹ về những gì tôi đã nhận được trong thời gian dài sống dưới lá cờ của nước này. Và tôi đặc biệt biết ơn một công dân của nước Mỹ, một công dân Hát-li-bớc, vì một ân huệ lớn mà người ấy đã làm cho tôi một hai năm trước. Thật ra là hai ân huệ lớn. Tôi xin giải thích.

Tôi đã từng là dân cờ bạc. Tôi nói là đã từng. Một con bạc khánh kiệt. Tôi tới thị trấn này vào ban đêm, đói lả, không một xu dính túi. Tôi xin người ta giúp đỡ, trong bóng tối, vì tôi xấu hổ không dám ăn xin giữa ban ngày. Tôi đã xin đúng người. Người ấy cho tôi hai mươi đô la, nghĩa là, theo tôi nghĩ, người ấy đã cho tôi cả mạng sống. Người ấy còn cho tôi cả một gia tài, vì từ số tiền ấy tôi đã làm giàu trên chiếu bạc. Và sau cùng, một câu người ấy nói với tôi đã theo tôi cho tới tận hôm nay, và cuối cùng đã chinh phục được tôi. Chinh phục tôi, nó đã cứu lấy chút đạo đức còn sót lại trong tôi: tôi sẽ không bao giờ đánh bạc nữa.

Giờ đây tôi không biết người ấy là ai, nhưng tôi muốn tìm ra người ấy, và tôi muốn người ấy nhận số tiền này, muốn cho đi, vứt đi hay giữ lại tuỳ ý. Đó chỉ là cách tôi bày tỏ lòng biết ơn. Nếu tôi ở lại được, tôi sẽ tự mình đi tìm. Nhưng không sao, người ấy sẽ được tìm ra. Đây là một thị trấn lương thiện, một thị trấn không ai mua chuộc nổi, tôi biết mình có thể tin cậy mà không chút lo ngại. Người ấy có thể được nhận ra nhờ câu nói đã nói với tôi. Tôi tin chắc người ấy vẫn còn nhớ.

Và đây là cách tôi đề nghị. Nếu quý vị muốn dò hỏi riêng, xin cứ làm. Hãy kể nội dung lá thư này cho bất cứ ai có thể là người xứng đáng. Nếu người ấy đáp: ‘Tôi chính là người đó, câu tôi nói là như thế này, như thế này’, thì xin hãy thử như sau: mở bao ra, bên trong có một phong bì niêm phong, đựng câu nói ấy. Nếu câu người kia nói khớp với câu trong phong bì, xin trao tiền cho người ấy, đừng hỏi thêm gì nữa, vì chắc chắn đó là người xứng đáng.

Còn nếu quý vị muốn dò hỏi công khai, thì xin đăng lá thư này lên tờ báo địa phương, kèm thêm lời dặn sau: ba mươi ngày kể từ hôm nay, người tự nhận là ân nhân hãy tới toà thị chính lúc tám giờ tối, ngày thứ Sáu, trao câu nói của mình trong một phong bì niêm phong cho mục sư Bớc-xơ, nếu ông ấy vui lòng nhận việc này. Rồi ông Bớc-xơ ngay tại chỗ sẽ bóc niêm phong bao tải, mở ra, xem câu nói có đúng không. Nếu đúng, xin trao số tiền, cùng với lòng biết ơn chân thành của tôi, cho ân nhân của tôi đã được nhận ra như thế.”

Bà Ri-sớt ngồi xuống, run nhè nhẹ vì xúc động, và chẳng mấy chốc chìm vào dòng suy nghĩ, đại loại thế này: “Lạ lùng làm sao! Người tốt bụng kia gieo chút bánh mì xuống dòng nước, nay được cả một gia tài! Giá mà người ấy là chồng mình! Vì hai vợ chồng mình nghèo quá, già mà lại nghèo!” Rồi bà thở dài: “Nhưng không phải Ê-đu-át nhà mình đâu. Không, ông ấy đâu có cho người lạ hai mươi đô la. Tiếc thật, giờ mình mới thấy.” Rồi bà rùng mình: “Nhưng đây là tiền của dân cờ bạc! Đồng tiền tội lỗi. Mình không nhận được, không đụng vào được. Mình không thích ngồi gần nó, cứ như là ô uế.” Bà dời sang một chiếc ghế xa hơn. “Ước gì Ê-đu-át về mà đem nó đến ngân hàng. Kẻ trộm có thể tới bất cứ lúc nào. Một mình ngồi đây với nó thật đáng sợ.”

Mười một giờ ông Ri-sớt về. Trong khi vợ ông nói: “Ông về rồi, tôi mừng quá!”, thì ông nói: “Mệt quá, mệt rã rời. Nghèo thật là khổ, già thế này rồi mà còn phải lặn lội những chuyến đi buồn tẻ ấy. Lúc nào cũng cày, cày, cày, ăn đồng lương, làm nô lệ cho người khác, trong khi hắn ngồi nhà đi dép lê, giàu có, sung sướng.”

“Tôi thương ông lắm, Ê-đu-át, ông biết mà. Nhưng ông cứ yên lòng. Mình vẫn có cái ăn cái mặc, mình vẫn có tiếng tốt...”

“Phải, Mê-ri, mà thế là quý nhất rồi. Bà đừng để ý tôi nói lung tung. Chỉ là bực mình một lát thôi, chẳng có ý gì đâu. Hôn tôi đi nào. Đấy, hết rồi, tôi không than vãn nữa. Bà có cái gì thế? Trong bao có gì vậy?”

Thế là bà vợ kể cho ông nghe điều bí mật lớn. Ông sững sờ một lát, rồi nói:

“Nặng một trăm sáu mươi pao à? Trời ơi, Mê-ri, thế là bốn mươi nghìn đô la! Bà thử nghĩ xem, cả một gia tài! Cả làng này chưa chắc có mười người giàu được ngần ấy. Đưa tôi tờ giấy.”

Ông đọc lướt qua, rồi nói:

“Đúng là một cuộc phiêu lưu! Cứ như tiểu thuyết ấy, như những chuyện không thể có mà người ta chỉ đọc trong sách, chứ ngoài đời chẳng bao giờ thấy.” Lúc này ông đã phấn chấn hẳn lên, vui vẻ, thậm chí hớn hở. Ông vỗ nhẹ vào má bà vợ già, nói đùa: “Này, mình giàu rồi, Mê-ri, giàu to rồi. Chỉ cần đem chôn số tiền này đi, đốt giấy tờ đi là xong. Nếu tay cờ bạc kia có quay lại hỏi, mình chỉ việc nhìn hắn lạnh lùng mà bảo: ‘Ông nói cái chuyện vớ vẩn gì thế? Chúng tôi chưa từng nghe nói tới ông, cũng chẳng biết bao vàng nào của ông cả.’ Thế là hắn ngớ người ra, và...”

“Trong lúc ông còn mải nói đùa thì số tiền vẫn nằm đây, mà sắp tới giờ kẻ trộm đi làm ăn rồi đấy.”

“Đúng thế. Được rồi, mình làm thế nào đây? Dò hỏi riêng à? Không, không được. Thế thì mất hết cả hay. Cách công khai tốt hơn. Bà nghĩ xem nó sẽ gây ồn ào thế nào! Lại làm các thị trấn khác ghen tị nữa, vì chẳng người lạ nào dám gửi gắm một việc như thế cho thị trấn nào khác ngoài Hát-li-bớc, mà họ biết điều đó. Đây là một quân bài lớn cho mình. Tôi phải tới nhà in ngay, kẻo muộn mất.”

“Ơ khoan, khoan đã! Đừng bỏ tôi ở đây một mình với nó, Ê-đu-át!”

Nhưng ông đã đi rồi. Có điều, chỉ đi một lát thôi. Cách nhà không xa, ông gặp ông chủ kiêm chủ bút tờ báo, đưa cho ông ta lá thư, và nói: “Có cái hay cho ông đây, ông Cốc. Đăng lên đi.”

“Có lẽ muộn rồi, ông Ri-sớt ạ, nhưng để tôi xem.”

Về tới nhà, hai vợ chồng ngồi bàn bạc về điều bí ẩn thú vị ấy. Cả hai chẳng còn bụng dạ nào mà ngủ. Câu hỏi đầu tiên là: người công dân đã cho kẻ lạ hai mươi đô la ấy có thể là ai? Câu hỏi có vẻ dễ. Cả hai cùng đáp một lúc:

“Bác-cli Gút-sơn.”

Ông Ri-sớt nói: “Phải, ông ấy có thể làm thế, mà làm thế mới đúng là ông ấy. Nhưng ngoài ông ấy ra thì cả thị trấn này chẳng còn ai.”

“Ai cũng phải công nhận điều đó, Ê-đu-át ạ, ít ra là công nhận thầm trong bụng. Sáu tháng nay, kể từ khi ông ấy mất, cái làng này lại trở về đúng bản chất của nó: lương thiện, hẹp hòi, tự cho mình là đạo đức, và keo kiệt.”

“Ông ấy vẫn gọi nó như thế cho tới tận ngày chết, mà còn nói thẳng ra giữa thiên hạ nữa.”

“Phải, và vì thế mà người ta ghét ông ấy.”

“Ồ, dĩ nhiên rồi, nhưng ông ấy đâu có thèm để ý. Tôi nghĩ ông ấy là người bị ghét nhất trong cả bọn mình, chỉ trừ mục sư Bớc-xơ.”

“Ừ, thì Bớc-xơ đáng bị ghét. Ông ta đừng hòng có lại giáo đoàn nào ở đây nữa. Thị trấn này hèn hạ thật, nhưng nó biết đánh giá ông ta. Ê-đu-át này, ông không thấy lạ sao, người lạ kia lại chọn Bớc-xơ trao tiền?”

“Ừ, ừ, lạ thật. Nghĩa là, nghĩa là...”

“Sao cứ nghĩa là, nghĩa là mãi thế? Ông mà là người lạ thì ông có chọn ông ta không?”

“Mê-ri ạ, có khi người lạ kia biết ông ấy rõ hơn cả cái làng này.”

“Thế thì cũng chẳng giúp gì được cho Bớc-xơ!”

Ông chồng có vẻ lúng túng không biết đáp sao. Bà vợ nhìn chòng chọc vào ông, chờ đợi. Cuối cùng ông Ri-sớt nói, ngập ngừng như người sắp nói một điều chắc sẽ bị nghi ngờ:

“Mê-ri, Bớc-xơ không phải là người xấu.”

Bà vợ ngạc nhiên thật sự.

Bà kêu lên: “Nói nhảm!”

“Ông ấy không phải người xấu. Tôi biết. Ông ấy bị ghét hoàn toàn chỉ vì một chuyện ấy thôi, cái chuyện từng ầm ĩ một thời.”

“Chỉ một chuyện ấy thôi! Cứ làm như một chuyện ấy chưa đủ ấy!”

“Đủ chứ. Đủ lắm. Có điều ông ấy không có tội trong chuyện đó.”

“Ông nói gì lạ thế! Không có tội! Ai cũng biết là ông ta có tội.”

“Mê-ri, tôi lấy danh dự mà thề với bà, ông ấy vô tội.”

“Tôi không thể tin, mà tôi cũng không tin. Sao ông biết?”

“Đây là một lời thú tội. Tôi xấu hổ lắm, nhưng tôi sẽ nói ra. Tôi là người duy nhất biết ông ấy vô tội. Lẽ ra tôi đã cứu được ông ấy, nhưng, nhưng mà... bà biết cả thị trấn hồi ấy sôi sục thế nào rồi đấy. Tôi không đủ can đảm. Làm thế thì mọi người sẽ quay ra chống lại tôi. Tôi thấy mình hèn, hèn lắm, nhưng tôi không dám. Tôi không đủ khí phách để đương đầu với chuyện đó.”

Bà Mê-ri có vẻ băn khoăn, lặng đi một lúc. Rồi bà ấp úng nói:

“Tôi, tôi nghĩ ông mà làm thế thì cũng không ổn đâu. Người ta không được, ờ, dư luận ấy mà, người ta phải hết sức cẩn thận, phải...” Con đường này khó đi quá, bà sa lầy giữa chừng. Nhưng một lát sau bà lại tìm được lối. “Thật đáng tiếc, nhưng mà... Mình không làm thế được đâu, Ê-đu-át. Thật sự không được. Ôi, có cho tôi gì thì tôi cũng không muốn ông làm thế!”

“Làm thế thì mình mất lòng biết bao nhiêu người, Mê-ri ạ. Rồi thì, rồi thì...”

“Điều làm tôi lo bây giờ là ông ấy nghĩ gì về mình, Ê-đu-át ạ.”

“Ông ấy à? Ông ấy đâu có ngờ là tôi có thể cứu ông ấy.”

Bà vợ thở phào: “Ồ, thế thì tôi mừng. Chừng nào ông ấy còn không biết ông có thể cứu ông ấy, thì ông ấy, ông ấy... ừ, thế thì đỡ hơn nhiều. Đáng lẽ tôi phải đoán ra là ông ấy không biết, vì ông ấy lúc nào cũng tìm cách thân thiện với mình, dù mình chẳng mấy khi tỏ ra niềm nở. Đã hơn một lần người ta lấy chuyện ấy ra chế nhạo tôi. Này nhé, nhà Uyl-xơn, nhà Uyl-cốc, nhà Hác-cơ-nét, họ thích thú một cách hèn hạ khi gọi ‘ông bạn Bớc-xơ của bà’, vì họ biết thế là chọc tức tôi. Ước gì ông ấy đừng cứ khăng khăng quý mến nhà mình như thế. Tôi chẳng hiểu sao ông ấy cứ quý mãi.”

“Tôi giải thích được. Đây lại là một lời thú tội nữa. Hồi chuyện ấy còn mới, còn nóng hổi, cả thị trấn tính trói ông ấy lên một cây sào mà khiêng đi bêu riếu khắp phố. Lương tâm tôi cắn rứt đến mức không chịu nổi, tôi bèn lén đi báo trước cho ông ấy. Thế là ông ấy trốn khỏi thị trấn, ở ngoài đó cho tới khi quay về được an toàn.”

“Ê-đu-át! Nếu thị trấn mà biết được...”

“Đừng! Tới giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ. Làm xong là tôi hối hận ngay. Tôi còn sợ không dám kể với bà, sợ nét mặt bà để lộ ra với ai đó. Đêm ấy tôi không ngủ được chút nào, vì lo. Nhưng mấy hôm sau, tôi thấy chẳng ai ngờ tới tôi, và từ đó tôi bắt đầu thấy mừng vì đã làm thế. Đến giờ tôi vẫn mừng, Mê-ri ạ, mừng từ tận đáy lòng.”

“Giờ thì tôi cũng mừng. Vì đối xử với ông ấy như thế thì kinh khủng quá. Phải, tôi mừng, vì thật ra ông cũng nợ ông ấy điều đó, ông biết mà. Nhưng Ê-đu-át ơi, lỡ một ngày nào đó chuyện vỡ lở ra thì sao!”

“Không vỡ lở đâu.”

“Sao vậy?”

“Vì ai cũng tưởng đó là Gút-sơn.”

“Dĩ nhiên rồi!”

“Chắc chắn thế. Mà dĩ nhiên ông ấy chẳng thèm bận tâm. Người ta xúi lão Xôn-xbe-ri tội nghiệp tới buộc tội ông ấy. Lão hùng hổ kéo tới đó mà buộc tội thật. Gút-sơn nhìn lão từ đầu tới chân, như đang tìm xem chỗ nào trên người lão là đáng khinh nhất, rồi ông bảo: ‘Vậy ra ông là Uỷ ban Điều tra đấy à?’ Xôn-xbe-ri bảo đại khái đúng là thế. ‘Hừm. Họ cần chi tiết, hay ông nghĩ một câu trả lời chung chung là đủ?’ ‘Nếu họ cần chi tiết, tôi sẽ quay lại, thưa ông Gút-sơn. Trước hết tôi xin câu trả lời chung chung đã.’ ‘Được thôi. Thế thì bảo họ cút xuống địa ngục hết đi. Tôi nghĩ thế là đủ chung chung rồi. Còn tôi khuyên ông thế này, Xôn-xbe-ri: khi nào ông quay lại hỏi chi tiết, nhớ mang theo một cái giỏ, để đựng những gì còn sót lại của ông mà mang về nhà.’”

“Đúng là Gút-sơn. Có đủ cả dấu vết. Ông ấy chỉ có một thói kiêu ngạo thôi: ông ấy tưởng mình khuyên răn người khác giỏi hơn bất cứ ai.”

“Thế là chuyện chấm dứt, và mình được cứu, Mê-ri ạ. Không ai nhắc tới nữa.”

“Trời ơi, tôi đâu có nghi ngờ chuyện đó.”

— Hết chương 1 —

Mục lục Kẻ làm bại hoại Hát-li-bớc

  1. 1Phần một: Bao tải vàng của người lạ17 phút
  2. 2Phần một (tiếp): Câu nói đáng giá bốn mươi nghìn đô laĐang thu âm
  3. 3Phần hai: Mười chín lá thưĐang thu âm
  4. 4Phần ba: Đêm ở toà thị chínhĐang thu âm
  5. 5Phần ba (tiếp): Những biểu tượng của sự liêm khiếtĐang thu âm
  6. 6Phần ba (hết): Lời nhắn sau cùng của người lạĐang thu âm
  7. 7Phần bốn: Người lương thiện cuối cùngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1899
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Man That Corrupted Hadleyburg, Mark Twain, 1899, in trong tập The Man That Corrupted Hadleyburg and Other Stories (Project Gutenberg số 3251)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →