Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Kẻ mạo danh

của O. Henry

⏱ 27 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 23.306 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Rắc rối bắt đầu ở La-rê-đô. Đó là lỗi…
  2. 6:46Đang tính mua cái vịnh kia đấy à, anh…
  3. 9:22Được rồi, anh bạn, ông thuyền trưởng nói. Mong…
  4. 11:36Anh nói được tiếng Tây Ban Nha à? Thách-cơ…
  5. 13:11Trong ngôi nhà kia, Thách-cơ nói, có một quý…
  6. 17:12Cảm ơn, ông lãnh sự nói. Lâu lắm rồi…
  7. 20:20Bà nhìn chàng trai rất lâu, bằng ánh mắt…
  8. 24:05Thế ra cậu định phản tôi đấy à? Ông…

Rắc rối bắt đầu ở La-rê-đô. Đó là lỗi của Thằng Nhóc Gia-nô, vì lẽ ra hắn phải giới hạn cái thói giết người của mình vào đám dân Mê-hi-cô thôi. Nhưng Thằng Nhóc đã ngoài hai mươi tuổi, mà hai mươi tuổi đầu mới chỉ hạ được dân Mê-hi-cô thì ở vùng biên giới sông Ri-ô Gran-đê, đó là thứ thành tích chẳng ai thèm để mắt tới.

Chuyện xảy ra ở sòng bạc của lão Gút-xtô Van-đốt. Có một ván bài pô-ke, những người ngồi chơi không phải ai cũng là bạn bè, như vẫn thường xảy ra ở những nơi dân từ xa phi ngựa tới để bắn thần Điên Rồ khi nàng đang phi nước đại. Có một cuộc cãi cọ chỉ vì một chuyện nhỏ như một đôi quân đầm. Và khi khói súng tan, người ta thấy Thằng Nhóc đã phạm một sự bất cẩn, còn đối thủ của hắn thì đã mắc một sai lầm. Bởi kẻ tham chiến kém may mắn kia không phải dân Mê-hi-cô, mà là một chàng trai dòng dõi từ các trại bò, trạc tuổi Thằng Nhóc, có bạn bè và những người sẵn sàng bênh vực. Cái sai lầm của chàng trai ấy, là khi rút súng ra đã bắn trượt tai phải Thằng Nhóc chỉ chừng hai li, cũng chẳng làm cho sự bất cẩn của tay súng giỏi hơn bớt nghiêm trọng đi.

Thằng Nhóc không có đoàn tuỳ tùng, cũng chẳng có nhiều người hâm mộ hay ủng hộ, vì cái tiếng tăm khá u ám của hắn, ngay cả so với vùng biên giới. Nên hắn cho rằng làm cái việc khôn ngoan mà người ta gọi là "cuốn gói chuồn thẳng" cũng chẳng trái gì với sự gan góc không ai chối cãi được của mình.

Những kẻ báo thù nhanh chóng tụ tập lại truy lùng hắn. Ba người đuổi kịp hắn khi hắn còn cách nhà ga vài bước. Thằng Nhóc quay lại, nhe răng nở cái nụ cười rạng rỡ mà chẳng có chút vui vẻ nào, cái nụ cười thường báo trước những hành động ngạo ngược và tàn bạo của hắn, và những kẻ đuổi theo lùi lại, chẳng cần hắn phải với tay tới súng.

Nhưng trong vụ này, Thằng Nhóc không thấy cơn khát giao chiến dữ dội vẫn thường thúc giục hắn lao vào trận đánh. Đó hoàn toàn là một cuộc cãi cọ tình cờ, sinh ra từ ván bài và vài câu chửi mà một người đàng hoàng không thể nuốt trôi, hai bên đã văng vào nhau. Thằng Nhóc khá thích cái chàng trai mảnh khảnh, kiêu hãnh, mặt rám nắng, mà viên đạn của hắn đã cắt ngang giữa niềm kiêu hãnh đầu đời của tuổi trưởng thành. Và giờ hắn chẳng muốn đổ máu thêm nữa. Hắn muốn đi thật xa, đánh một giấc thật dài ở đâu đó dưới nắng trên đám cỏ, chiếc khăn tay phủ lên mặt. Lúc tâm trạng hắn như thế, thì ngay cả một người Mê-hi-cô cũng có thể đi ngang qua mặt hắn mà an toàn.

Thằng Nhóc công khai lên chuyến tàu khách đi về phía bắc, khởi hành năm phút sau. Nhưng tới ga Oép, cách đó vài dặm, nơi tàu dừng lại đón một hành khách, hắn bỏ cách trốn chạy ấy. Phía trước còn có những trạm điện báo, mà Thằng Nhóc thì vốn nghi ngại điện và hơi nước. Yên ngựa và đinh thúc ngựa mới là chỗ dựa an toàn của hắn.

Người bị hắn bắn là một người lạ. Nhưng Thằng Nhóc biết anh ta thuộc toán chăn bò Cô-ra-li-tốt ở Hi-đan-gô, và biết rằng đám chăn bò của trại ấy hễ một người trong bọn bị oan ức hay bị hại, thì còn tàn nhẫn và thù dai hơn cả những gia tộc báo thù truyền kiếp. Vì vậy, với cái khôn ngoan đặc trưng của nhiều tay chiến binh lừng danh, Thằng Nhóc quyết định chất càng nhiều dặm bụi gai và xương rồng càng tốt giữa hắn với cuộc trả thù của bọn Cô-ra-li-tốt.

Gần nhà ga có một cửa hàng. Gần cửa hàng, rải rác giữa những cây gai và cây du, là những con ngựa thắng yên của khách. Phần lớn chúng đứng chờ, nửa ngủ nửa thức, chân chùng, đầu rũ. Nhưng có một con ngựa lông đỏ chân dài, cổ cong, khịt mũi và cào đất. Thằng Nhóc nhảy lên con ngựa ấy, kẹp chặt hai đầu gối, rồi quất nhẹ nó bằng chính chiếc roi của người chủ.

Nếu việc giết chết tay đánh bài liều lĩnh kia đã phủ một đám mây lên địa vị công dân tốt và trung thực của Thằng Nhóc, thì hành động sau cùng này đã che phủ hình bóng hắn trong cái bóng tối tăm nhất của sự ô danh. Ở vùng biên giới Ri-ô Gran-đê, nếu anh lấy mạng một người, đôi khi anh chỉ lấy đi một thứ bỏ đi. Nhưng nếu anh lấy ngựa của người ta, là anh lấy đi một thứ mà mất nó thì người ta nghèo xơ nghèo xác, mà chẳng làm anh giàu thêm, nếu anh bị bắt. Đối với Thằng Nhóc, giờ đây chẳng còn đường quay lại nữa.

Với con ngựa đỏ khoẻ khoắn dưới yên, hắn chẳng mấy bận tâm hay lo lắng. Sau một chặng phi nước đại năm dặm, hắn ghìm ngựa lại theo nước kiệu nhỏ của dân đồng bằng, đi về phía đông bắc, tới vùng đất trũng sông Nu-ê-xét. Hắn biết rõ vùng này, những con đường mòn quanh co, khuất nẻo nhất xuyên qua cả một vùng hoang dã mênh mông bụi rậm và xương rồng, những khu trại và những trang trại hẻo lánh nơi người ta có thể được tiếp đãi an toàn. Hắn luôn đi về phía đông, vì Thằng Nhóc chưa bao giờ thấy biển, và hắn có một ý thích muốn đặt bàn tay lên bờm của vịnh lớn, con ngựa non tinh nghịch của những vùng nước còn lớn hơn.

Vậy là sau ba ngày, hắn đứng trên bờ biển ở Coóc-pớt Crít-ti, nhìn ra những gợn sóng hiền hoà của mặt biển lặng.

Thuyền trưởng Bun của chiếc thuyền buồm Bay Đi đứng gần chiếc xuồng nhỏ của mình, một thuỷ thủ đang canh nó giữa sóng. Lúc sắp nhổ neo, ông phát hiện ra một trong những thứ thiết yếu của cuộc sống, dưới dạng những bánh thuốc lá nhai hình bình hành, đã bị bỏ quên. Một thuỷ thủ đã được phái đi lấy món hàng còn thiếu. Trong lúc đó ông thuyền trưởng đi tới đi lui trên bãi cát, vừa nhai số thuốc còn trong túi vừa chửi rủa.

Một chàng trai gầy gò, rắn rỏi, đi đôi ủng gót cao, bước xuống mép nước. Gương mặt anh ta còn trẻ con, nhưng có một vẻ nghiêm khắc quá sớm, gợi đến kinh nghiệm của một người đàn ông. Nước da anh ta vốn ngăm đen, nắng gió của cuộc sống ngoài trời đã nung nó thành màu cà phê. Tóc anh ta đen và thẳng như tóc người da đỏ. Gương mặt anh ta chưa từng phải ngửa lên chịu nỗi nhục của lưỡi dao cạo. Đôi mắt anh ta xanh, lạnh và kiên định. Anh ta để cánh tay trái hơi cách xa người, vì những khẩu súng cỡ bốn mươi lăm báng xà cừ thì không được các viên cảnh sát trưởng thị trấn ưa, và hơi cồng kềnh khi giắt vào nách trái áo gi-lê. Anh ta nhìn vượt qua thuyền trưởng Bun ra vịnh biển, với vẻ uy nghiêm vô cảm, không biểu lộ gì của một hoàng đế Trung Hoa.

— Đang tính mua cái vịnh kia đấy à, anh bạn? Ông thuyền trưởng hỏi, giọng mỉa mai vì suýt nữa phải làm một chuyến đi biển không có thuốc lá.

— Ồ, không, Thằng Nhóc nhẹ nhàng nói. Tôi nghĩ là không. Tôi chưa từng thấy nó bao giờ. Tôi chỉ đang ngắm nó thôi. Ông không định bán nó đấy chứ?

— Chuyến này thì không, ông thuyền trưởng nói. Khi nào về tới Buê-nát Ti-ê-rát tôi sẽ gửi nó cho anh, nhận hàng rồi trả tiền. Thằng chân to như cái tời kia mang thuốc nhai về rồi kìa. Lẽ ra tôi phải nhổ neo từ một tiếng trước rồi.

— Ngoài kia là tàu của ông à? Thằng Nhóc hỏi.

— Ờ phải, ông thuyền trưởng đáp, nếu anh muốn gọi một chiếc thuyền buồm là tàu, và tôi chẳng ngại nói dối. Nhưng tốt hơn anh nên nói chủ tàu là Mi-lơ và Gôn-da-lét, còn thuyền trưởng là lão già Xa-mu-en Ca. Bun quèn chẳng ra gì.

— Ông đi đâu? Kẻ đang chạy trốn hỏi.

— Buê-nát Ti-ê-rát, bờ biển Nam Mĩ. Tôi quên mất lần trước tới đó người ta gọi cái nước ấy là gì rồi. Hàng chở là gỗ xẻ, tôn múi và dao rựa.

— Xứ ấy thế nào? Thằng Nhóc hỏi. Nóng hay lạnh?

— Âm ấm, anh bạn, ông thuyền trưởng nói. Nhưng đúng là một Thiên đường đã mất về phong cảnh thanh lịch và địa lí xinh đẹp. Sáng nào anh cũng được đánh thức bằng tiếng hót ngọt ngào của những con chim đỏ có bảy cái đuôi màu tím, và tiếng gió thở dài qua những khóm hoa, những bụi hồng. Dân ở đó chẳng bao giờ làm việc, vì chẳng cần ra khỏi giường họ cũng với tay hái được cả giỏ hoa quả ngon nhất. Ở đó chẳng có Chủ nhật, chẳng có nước đá, chẳng có tiền nhà, chẳng có phiền muộn, chẳng có ích lợi, chẳng có gì hết. Đó là một xứ tuyệt vời để người ta đi ngủ, và chờ xem có chuyện gì xảy ra. Chuối, cam, bão với dứa mà anh ăn là từ đó tới đấy.

— Nghe được đấy! Thằng Nhóc nói, cuối cùng cũng lộ ra vẻ quan tâm. Ông lấy bao nhiêu để chở tôi tới đó cùng ông?

— Hai mươi bốn đô-la, thuyền trưởng Bun nói, cả ăn lẫn chở. Khoang hạng hai. Tôi chẳng có khoang hạng nhất.

— Ông có bạn đồng hành rồi đấy, Thằng Nhóc nói, rút ra một cái túi da hoẵng.

Hắn đã mang ba trăm đô-la tới La-rê-đô để làm một chầu ăn chơi thường lệ. Cuộc đấu súng ở sòng Van-đốt đã cắt ngang mùa vui của hắn, nhưng còn để lại cho hắn gần hai trăm đô-la để giúp vào cuộc trốn chạy mà nó buộc hắn phải làm.

— Được rồi, anh bạn, ông thuyền trưởng nói. Mong là mẹ anh không trách tôi vì cái trò bỏ nhà đi chơi trẻ con này của anh.

Ông vẫy một thuỷ thủ trên xuồng.

— Để Xan-chết bế anh ra xuồng cho khỏi ướt chân.

Thách-cơ, lãnh sự Hoa Kì ở Buê-nát Ti-ê-rát, chưa say. Mới mười một giờ, mà ông ta chẳng bao giờ đạt tới cái trạng thái cực lạc mong muốn, trạng thái ông hát những bài hát phòng trà cổ lỗ ủy mị và ném vỏ chuối vào con vẹt đang kêu thét, trước giữa buổi chiều. Vậy nên khi nghe một tiếng ho khẽ, ông ngẩng lên từ chiếc võng và thấy Thằng Nhóc đứng ở cửa toà lãnh sự, ông vẫn còn đủ tỉnh táo để tỏ lòng hiếu khách và phép lịch sự mà người đại diện của một quốc gia lớn phải có.

— Ông cứ nằm yên, Thằng Nhóc nói, thoải mái. Tôi chỉ ghé qua thôi. Người ta bảo tôi theo lệ thì phải dừng chân ở trại của ông trước khi đi lùa cả thị trấn. Tôi vừa đi tàu từ Tếch-dát tới.

— Rất mừng được gặp anh, anh... ông lãnh sự nói.

Thằng Nhóc bật cười.

— Xpra-gơ Đôn-tơn, hắn nói. Tôi nghe cái tên ấy thấy buồn cười. Ở vùng sông Ri-ô Gran-đê người ta gọi tôi là Thằng Nhóc Gia-nô.

— Tôi là Thách-cơ, ông lãnh sự nói. Anh ngồi cái ghế mây kia đi. Nếu anh tới đây để đầu tư, thì anh cần có người khuyên bảo. Đám dân bản xứ này sẽ lừa lấy cả vàng bọc răng của anh nếu anh không hiểu tính nết của chúng. Hút xì gà nhé?

— Cảm ơn nhiều, Thằng Nhóc nói, nhưng nếu không có giấy bẹ ngô với cái túi nhỏ trong túi quần sau thì tôi chẳng sống nổi một phút.

Hắn lấy đồ nghề ra và vấn một điếu thuốc.

— Ở đây người ta nói tiếng Tây Ban Nha, ông lãnh sự nói. Anh sẽ cần một người phiên dịch. Có việc gì tôi giúp được thì tôi rất vui lòng. Nếu anh mua đất trồng cây ăn quả hay tìm một giấy phép khai thác gì đó, anh sẽ cần một người thạo đường đi nước bước trông nom cho anh.

— Tôi nói tiếng Tây Ban Nha, Thằng Nhóc nói, giỏi gấp chín lần tiếng Anh. Ở vùng đồng cỏ quê tôi ai cũng nói thứ tiếng ấy. Mà tôi chẳng định mua gì cả.

— Anh nói được tiếng Tây Ban Nha à? Thách-cơ trầm ngâm nói.

Ông chăm chú nhìn Thằng Nhóc.

— Trông anh cũng giống người Tây Ban Nha nữa, ông nói tiếp. Mà anh lại từ Tếch-dát tới. Mà anh không thể quá hai mươi, hai mươi mốt tuổi. Không biết anh có gan không nhỉ.

— Ông có vụ làm ăn gì cần làm à? Chàng trai Tếch-dát hỏi, với một sự tinh khôn không ngờ.

— Anh có sẵn lòng nghe một lời đề nghị không? Thách-cơ nói.

— Chối làm gì? Thằng Nhóc nói. Tôi dính vào một trận đùa súng nhỏ ở La-rê-đô, và hạ một gã da trắng. Lúc ấy chẳng có tay Mê-hi-cô nào ở gần. Rồi tôi xuống cái vùng đất vẹt và khỉ của ông, chỉ để ngửi hoa bìm bìm với hoa cúc vạn thọ. Giờ ông hiểu chưa?

Thách-cơ đứng dậy đóng cửa lại.

— Cho tôi xem bàn tay anh, ông nói.

Ông cầm bàn tay trái của Thằng Nhóc, xem xét kĩ mu bàn tay.

— Tôi làm được, ông nói, giọng kích động. Da thịt anh rắn như gỗ, mà lành như da trẻ con. Một tuần là lành.

— Nếu ông định đặt tiền vào tôi trong một trận đấu tay không, Thằng Nhóc nói, thì khoan hẵng xuống tiền. Đấu súng thì tôi theo ông. Chứ đánh nhau tay không như các bà trong tiệc trà thì tôi chịu.

— Dễ hơn thế nhiều, Thách-cơ nói. Anh lại đây một chút được không?

Qua cửa sổ, ông chỉ một ngôi nhà hai tầng trát vữa trắng, có những hàng hiên rộng, nhô lên giữa đám lá cây nhiệt đới xanh thẫm trên một ngọn đồi cây cối um tùm, dốc thoai thoải từ bờ biển lên.

— Trong ngôi nhà kia, Thách-cơ nói, có một quý ông già người Ca-xti-a tử tế và bà vợ của ông ta, đang khao khát được ôm anh vào lòng và nhét đầy tiền vào túi anh. Lão Xan-tốt U-ri-kê sống ở đó. Lão sở hữu một nửa số mỏ vàng trong nước.

— Ông không ăn phải cỏ điên đấy chứ? Thằng Nhóc hỏi.

— Ngồi xuống đi, Thách-cơ nói, rồi tôi kể anh nghe. Mười hai năm trước, họ mất một đứa con trai. Không, nó không chết, tuy phần đông trẻ con ở đây đều chết vì uống nước mặt. Nó là một thằng quỷ con nghịch ngợm, dù mới tám tuổi. Ai cũng biết chuyện này. Có mấy người Mĩ qua đây thăm dò vàng, mang thư giới thiệu tới ông U-ri-kê, và thằng bé được họ cưng lắm. Họ nhồi vào đầu nó đủ thứ chuyện lớn lao về nước Mĩ. Rồi khoảng một tháng sau khi họ đi, thằng bé cũng biến mất. Người ta cho là nó đã trốn vào giữa những buồng chuối trên một chiếc tàu chở hoa quả, rồi sang Niu Oóc-lin. Có lần người ta tưởng đã thấy nó ở Tếch-dát, nhưng rồi chẳng bao giờ nghe thêm tin gì về nó nữa. Lão U-ri-kê đã tiêu hàng nghìn đô-la thuê người tìm nó. Bà vợ là người suy sụp nhất. Thằng bé là cả cuộc đời bà. Tới giờ bà vẫn để tang. Nhưng người ta bảo bà tin rằng một ngày nào đó nó sẽ trở về với bà, và chưa bao giờ bà mất hi vọng. Trên mu bàn tay trái thằng bé có xăm hình một con đại bàng đang bay, móng quặp một ngọn giáo. Đó là huy hiệu của dòng họ lão U-ri-kê, hay thứ gì đó lão được thừa hưởng từ bên Tây Ban Nha.

Thằng Nhóc chậm rãi giơ bàn tay trái lên, tò mò nhìn nó.

— Đúng thế đấy, Thách-cơ nói, với tay ra sau bàn giấy công vụ lấy chai rượu mạnh nhập lậu. Anh cũng không chậm hiểu lắm. Tôi làm được. Hồi trước tôi làm lãnh sự ở Xan-đa-can để làm gì nhỉ? Tới giờ tôi mới biết. Một tuần nữa tôi sẽ xăm con chim đại bàng với ngọn giáo lên tay anh, khéo đến nỗi anh sẽ tưởng là anh sinh ra đã có nó. Tôi mang theo một bộ kim với mực, chính vì tôi biết chắc thế nào cũng có ngày anh ghé tới, anh Đôn-tơn ạ.

— Ôi, quỷ tha ma bắt, Thằng Nhóc nói. Tôi tưởng tôi đã bảo ông tên tôi rồi chứ!

— Thôi được, thế thì gọi là "Nhóc". Cũng chẳng gọi thế được lâu đâu. Đổi gió thành Cậu chủ U-ri-kê thì nghe thế nào?

— Tôi chẳng nhớ đã bao giờ đóng vai con cái ai, Thằng Nhóc nói. Nếu tôi có cha mẹ nào đáng kể, thì họ đã sang bên kia dốc núi vào khoảng lúc tôi cất tiếng be be đầu tiên. Kế hoạch lùa bò của ông thế nào?

Thách-cơ ngả lưng vào tường, giơ cốc rượu lên trước ánh sáng.

— Giờ ta tới cái câu hỏi, ông nói, là trong một việc nhỏ kiểu này, anh sẵn sàng đi xa tới đâu.

— Tôi đã bảo ông vì sao tôi tới đây rồi, Thằng Nhóc nói đơn giản.

— Một câu trả lời hay, ông lãnh sự nói. Nhưng anh sẽ không phải đi xa tới thế đâu. Kế hoạch thế này. Sau khi xăm xong dấu hiệu lên tay anh, tôi sẽ báo cho lão U-ri-kê. Trong khi chờ, tôi sẽ cung cấp cho anh mọi chuyện gia đình mà tôi tìm hiểu được, để anh học thuộc những điểm cần nói. Anh có diện mạo, anh nói tiếng Tây Ban Nha, anh biết sự việc, anh kể được về Tếch-dát, anh có hình xăm. Khi tôi báo cho họ biết người thừa kế hợp pháp đã trở về, và đang chờ xem có được đón nhận và tha thứ không, thì sẽ ra sao? Họ sẽ đơn giản lao xuống đây, ôm chầm lấy cổ anh, rồi màn hạ, mời mọi người đi giải khát và dạo chơi ngoài tiền sảnh.

— Tôi đang chờ đây, Thằng Nhóc nói. Tôi chưa tháo yên ngựa ở trại ông được bao lâu, ông bạn, mà tôi cũng chưa từng gặp ông. Nhưng nếu ông định dừng lại ở lời chúc phúc của cha mẹ, thì tôi đã nhìn nhầm người, thế thôi.

— Cảm ơn, ông lãnh sự nói. Lâu lắm rồi tôi mới gặp một người theo kịp câu chuyện giỏi như anh. Phần còn lại thì đơn giản. Nếu họ nhận anh vào nhà, dù chỉ ít lâu, cũng đủ rồi. Đừng cho họ thời gian đi tìm cái vết bớt hình quả dâu trên vai trái anh. Lão U-ri-kê lúc nào cũng giữ trong nhà từ năm vạn tới mười vạn đô-la, trong một cái két nhỏ mà anh dùng cái móc cài khuy giày cũng mở được. Lấy nó. Tài xăm hình của tôi đáng giá một nửa chiến lợi phẩm. Ta chia đôi, rồi đáp một chiếc tàu hàng lang thang nào đó đi Ri-ô đơ Gia-nê-rô. Cứ để nước Mĩ tan nát nếu nó không sống nổi khi thiếu sự phục vụ của tôi. Ngài thấy sao, thưa ngài?

— Nghe được đấy! Thằng Nhóc nói, gật đầu. Tôi đi kiếm vàng mà.

— Thế thì được, Thách-cơ nói. Anh sẽ phải ở kín cho tới khi ta xăm xong con chim lên tay anh. Anh có thể ở căn phòng phía sau này. Tôi tự nấu ăn, và tôi sẽ lo cho anh thoải mái hết mức mà một chính phủ keo kiệt cho phép.

Thách-cơ đã định thời hạn là một tuần, nhưng phải tới hai tuần thì hình vẽ ông kiên nhẫn xăm lên tay Thằng Nhóc mới vừa ý ông. Bấy giờ Thách-cơ gọi một cậu bé tới, sai mang bức thư này tới nạn nhân đã định:

"Kính gửi ngài Đôn Xan-tốt U-ri-kê,
Ngôi Nhà Trắng.

Thưa ngài,

Tôi xin phép được báo tin để ngài biết rằng hiện đang có một chàng trai trẻ tạm thời làm khách tại nhà tôi. Chàng trai từ Hoa Kì tới Buê-nát Ti-ê-rát mấy hôm trước. Không muốn khơi lên những hi vọng có thể không thành hiện thực, nhưng tôi nghĩ có khả năng đó chính là người con trai đã xa cách lâu ngày của ngài. Có lẽ ngài nên tới gặp cậu ấy. Nếu đúng là cậu ấy, thì theo ý tôi, cậu ấy đã có ý định trở về nhà, nhưng tới đây rồi thì lại mất can đảm, vì không biết mình sẽ được đón nhận ra sao.

Kẻ tôi tớ trung thành của ngài,

Thôm-xơn Thách-cơ."

Nửa giờ sau, một khoảng thời gian rất nhanh so với Buê-nát Ti-ê-rát, cỗ xe ngựa mui gập cổ lỗ của ông U-ri-kê đã tới trước cửa toà lãnh sự, người đánh xe chân đất vừa quất vừa hò hét đôi ngựa béo vụng về.

Một người đàn ông cao lớn, ria mép bạc trắng, bước xuống, rồi đỡ một bà mặc toàn đồ đen, mạng đen, xuống đất.

Hai người vội vã đi vào, được Thách-cơ đón bằng cái cúi chào ngoại giao đẹp nhất của ông. Bên bàn giấy của ông là một chàng trai trẻ mảnh khảnh, nét mặt sắc sảo, rám nắng, mái tóc đen chải mượt.

Bà U-ri-kê hất tấm mạng đen ra sau bằng một cử chỉ nhanh. Bà đã quá tuổi trung niên, tóc bắt đầu điểm bạc, nhưng thân hình đầy đặn, kiêu hãnh và làn da màu ô liu trong trẻo của bà vẫn còn giữ dấu vết của vẻ đẹp riêng có của xứ Ba-xcơ. Nhưng một khi đã nhìn thấy đôi mắt bà, và hiểu nỗi buồn lớn lao hiện ra trong những bóng tối sâu thẳm và vẻ tuyệt vọng của chúng, thì người ta thấy rằng người đàn bà này chỉ sống trong một kỉ niệm nào đó.

Bà nhìn chàng trai rất lâu, bằng ánh mắt dò hỏi đau đớn tột cùng. Rồi đôi mắt đen to của bà chuyển xuống, và cái nhìn của bà dừng lại trên bàn tay trái của anh. Và rồi, với một tiếng nấc, không to, nhưng dường như làm rung chuyển cả căn phòng, bà kêu lên: "Con của mẹ!" và ôm chặt Thằng Nhóc Gia-nô vào lòng.

Một tháng sau, Thằng Nhóc tới toà lãnh sự theo lời nhắn của Thách-cơ.

Trông hắn đã ra dáng một công tử Tây Ban Nha. Quần áo của hắn là hàng nhập khẩu, và mánh lới của các ông thợ kim hoàn đã không uổng công với hắn. Một viên kim cương đáng kể sáng lấp lánh trên ngón tay hắn khi hắn vấn một điếu thuốc bẹ ngô.

— Có chuyện gì thế? Thách-cơ hỏi.

— Chẳng có gì lắm, Thằng Nhóc điềm tĩnh nói. Hôm nay tôi ăn món bít tết kì nhông lần đầu tiên. Là cái loài thằn lằn to ấy, ông biết đấy? Có điều tôi nghĩ đậu hầm với thịt ba chỉ thì cũng ngon chẳng kém. Ông có thích kì nhông không, Thách-cơ?

— Không, mà cả vài loài bò sát khác tôi cũng không ưa, Thách-cơ nói.

Lúc ấy là ba giờ chiều, và một tiếng nữa ông sẽ ở trong trạng thái cực lạc của mình.

— Đến lúc cậu phải làm tròn phần việc rồi đấy, nhóc ạ, ông nói tiếp, bộ mặt đỏ gay lộ vẻ hằn học. Cậu không chơi sòng phẳng với tôi. Cậu làm đứa con hoang đàng trở về đã bốn tuần nay rồi, muốn thì bữa nào cậu cũng có thể được ăn thịt bê béo trên đĩa vàng. Này, ngài Nhóc, cậu có nghĩ để tôi gặm vỏ đậu lâu như thế là phải không? Có chuyện gì? Cậu, với con mắt hiếu thảo của cậu, không thấy thứ gì giống tiền trong Ngôi Nhà Trắng à? Đừng có bảo tôi là không. Ai cũng biết lão U-ri-kê cất của ở đâu. Mà lại là tiền Mĩ nữa, lão chẳng nhận thứ gì khác. Thế nào? Lần này đừng có nói "chẳng có gì".

— À, có chứ, Thằng Nhóc nói, ngắm viên kim cương của mình, trên nhà ấy có khối tiền. Tôi chẳng sành đánh giá tiền theo bó, nhưng tôi dám nói là tôi đã thấy có lúc hơn năm vạn đô-la trong cái hộp sắt đựng đồ ăn mà ông bố nuôi của tôi gọi là két sắt. Mà thỉnh thoảng ông ấy còn để tôi giữ chìa khoá, chỉ để tỏ cho tôi thấy rằng ông ấy biết tôi đúng là thằng Phran-xít-cô bé bỏng đã lạc đàn từ lâu lắm.

— Thế thì cậu còn chờ gì nữa? Thách-cơ giận dữ hỏi. Đừng quên là tôi có thể lật đổ xe táo của cậu bất cứ lúc nào tôi muốn. Nếu lão U-ri-kê biết cậu là kẻ mạo danh, thì cậu sẽ gặp phải những chuyện gì? Ồ, cậu chẳng biết gì về cái xứ này đâu, ngài Nhóc Tếch-dát ạ. Luật ở đây có phết mù tạt ở giữa. Dân ở đây sẽ kéo căng cậu ra như con ếch bị giẫm bẹp, rồi đánh cậu chừng năm chục gậy ở mỗi góc quảng trường. Mà gậy nào cũng đánh tới mòn. Phần còn lại của cậu thì chúng cho cá sấu ăn.

— Tôi nói luôn với ông bây giờ cũng được, ông bạn ạ, Thằng Nhóc nói, trượt người nằm thấp xuống chiếc ghế xếp, rằng mọi chuyện sẽ cứ giữ nguyên như bây giờ. Bây giờ thế là vừa phải rồi.

— Cậu nói thế là có ý gì? Thách-cơ hỏi, gõ đáy cốc lách cách xuống bàn.

— Kế hoạch huỷ rồi, Thằng Nhóc nói. Và lần sau, bất cứ khi nào ông có hân hạnh nói chuyện với tôi, thì hãy gọi tôi là Đôn Phran-xít-cô U-ri-kê. Tôi bảo đảm là tôi sẽ thưa. Ta sẽ để ông đại tá U-ri-kê giữ tiền của ông ấy. Đối với ông với tôi, cái két sắt tây nhỏ của ông ấy cũng chắc chắn như két khoá hẹn giờ của Ngân hàng Quốc gia Thứ nhất ở La-rê-đô.

— Thế ra cậu định phản tôi đấy à? Ông lãnh sự nói.

— Chắc chắn rồi, Thằng Nhóc vui vẻ nói. Phản ông. Đúng thế đấy. Và giờ tôi sẽ nói ông nghe tại sao. Đêm đầu tiên tôi ở trên nhà ông đại tá, họ dẫn tôi tới một phòng ngủ. Chẳng phải trải chăn dưới đất, mà là một căn phòng thật, có giường và đủ thứ trong đó. Rồi trước khi tôi ngủ, bà mẹ giả của tôi đi vào, giắt chăn cho tôi. "Pan-chi-tô", bà nói, "đứa con bé bỏng đã lạc mất của mẹ, Chúa đã mang con về với mẹ. Mẹ chúc tụng danh Người mãi mãi." Bà nói thế, hay đại loại như thế. Rồi có một hai giọt mưa rơi xuống, trúng vào mũi tôi. Và tất cả những cái đó cứ bám lấy tôi, ông Thách-cơ ạ. Từ đó tới giờ vẫn thế. Và nó phải giữ nguyên như thế. Mà ông cũng đừng nghĩ tôi nói thế là vì tôi được lợi gì trong đó. Nếu ông có ý nghĩ ấy thì giữ lấy cho riêng ông. Cả đời tôi chẳng dây dưa mấy với đàn bà, cũng chẳng có người mẹ nào đáng kể, nhưng đây là một người đàn bà mà chúng ta phải tiếp tục lừa. Một lần bà ấy đã chịu đựng được. Lần thứ hai thì bà ấy không chịu nổi đâu. Tôi là một con sói hèn hạ, và có thể chính quỷ dữ chứ không phải Chúa đã đưa tôi tới con đường này, nhưng tôi sẽ đi tới tận cùng. Và giờ thì ông đừng quên, bất cứ khi nào ông tình cờ nhắc tới tên tôi, tôi là Đôn Phran-xít-cô U-ri-kê.

— Hôm nay tôi sẽ vạch mặt cậu, đồ... đồ phản bội trắng trợn, Thách-cơ lắp bắp.

Thằng Nhóc đứng dậy, chẳng chút bạo lực, đưa bàn tay cứng như thép ra bóp lấy cổ Thách-cơ, rồi từ từ đẩy ông ta vào góc nhà. Rồi hắn rút từ dưới nách trái ra khẩu súng cỡ bốn mươi lăm báng xà cừ, dí cái họng súng lạnh ngắt vào miệng ông lãnh sự.

— Tôi đã bảo ông vì sao tôi tới đây, hắn nói, với nụ cười lạnh băng ngày trước. Nếu tôi rời khỏi đây, thì ông sẽ là lí do. Đừng bao giờ quên điều đó, ông bạn. Giờ thì, tên tôi là gì?

— Ờ... Đôn Phran-xít-cô U-ri-kê, Thách-cơ thở hổn hển.

Từ bên ngoài vọng vào tiếng bánh xe, tiếng ai đó hò hét, và tiếng cán roi gỗ quất chan chát lên lưng những con ngựa béo.

Thằng Nhóc cất súng, đi về phía cửa. Nhưng hắn lại quay người, trở lại chỗ Thách-cơ đang run rẩy, và giơ bàn tay trái lên, mu bàn tay hướng về phía ông lãnh sự.

— Còn một lí do nữa, hắn chậm rãi nói, khiến mọi chuyện phải giữ nguyên như thế. Cái gã tôi giết ở La-rê-đô cũng có một hình xăm y hệt thế này trên bàn tay trái.

Bên ngoài, cỗ xe ngựa mui gập cổ lỗ của Đôn Xan-tốt U-ri-kê lọc cọc tới trước cửa. Người đánh xe thôi hò hét. Bà U-ri-kê, trong bộ áo dài ren trắng rộng thướt tha, ruy băng bay phấp phới, nghiêng người ra, đôi mắt to dịu dàng ánh lên vẻ hạnh phúc.

— Con có trong đó không, con yêu? Bà gọi bằng thứ tiếng Tây Ban Nha êm như suối chảy.

— Mẹ ơi, con ra đây, chàng Đôn Phran-xít-cô U-ri-kê trẻ tuổi đáp.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Double-Dyed Deceiver, O. Henry, in trong tuyển tập Roads of Destiny
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →