Thế là hết. Xu-biên-cốp đã đi một con đường dài đầy cay đắng và kinh hoàng, như con chim bồ câu tìm đường về tổ, hướng về những kinh đô châu Âu. Vậy mà ở đây, xa hơn bao giờ hết, giữa xứ Nga thuộc châu Mỹ, con đường ấy dừng lại. Hắn ngồi trên tuyết, hai tay bị trói quặt sau lưng, chờ bị tra tấn. Hắn tò mò nhìn chằm chằm về phía trước, nơi một gã Cô-dắc to lớn nằm sấp trên tuyết, rên rỉ vì đau. Đám đàn ông đã xong phần mình với gã khổng lồ, và giao gã cho đám đàn bà. Đám đàn bà còn tàn ác hơn đám đàn ông, tiếng kêu của gã đã chứng minh điều ấy.
Xu-biên-cốp nhìn, và rùng mình. Hắn không sợ chết. Hắn đã đặt mạng sống trên lòng bàn tay quá lâu, suốt con đường mỏi mệt từ Vác-sa-va tới Nu-la-tô, nên chẳng còn rùng mình trước cái chết đơn thuần. Nhưng hắn không chấp nhận bị tra tấn. Nó xúc phạm tâm hồn hắn. Và sự xúc phạm ấy, đến lượt nó, không phải vì nỗi đau thể xác hắn sẽ phải chịu, mà vì cái bộ dạng thảm hại mà nỗi đau sẽ biến hắn thành. Hắn biết hắn sẽ cầu khẩn, sẽ van xin, sẽ nài nỉ, y như I-van To Xác và những kẻ đã đi trước. Như thế chẳng đẹp đẽ gì. Ra đi can đảm và sạch sẽ, với một nụ cười và một câu đùa, à, đó mới là cách. Nhưng mất tự chủ, để linh hồn bị những cơn đau xác thịt đảo lộn, để rú rít và lảm nhảm như con khỉ, để thành một con thú đích thực, à, đó mới là điều khủng khiếp.
Đã không có cơ hội nào để trốn. Ngay từ đầu, từ khi hắn mơ giấc mơ rực lửa về nền độc lập của Ba Lan, hắn đã thành con rối trong tay Định mệnh. Ngay từ đầu, ở Vác-sa-va, ở Xanh Pê-téc-bua, trong những hầm mỏ Xi-bê-ri, ở Cam-chát-ca, trên những con tàu điên rồ của bọn cướp da lông thú, Định mệnh đã lùa hắn tới cái kết này. Hẳn từ thuở dựng nên trời đất, cái kết này đã được khắc sẵn cho hắn. Cho hắn, một con người tinh tế và nhạy cảm đến thế, dây thần kinh như nằm ngay dưới lớp da, một kẻ mơ mộng, một nhà thơ, một nghệ sĩ. Từ trước khi hắn ra đời, số phận đã định rằng cái khối nhạy cảm run rẩy làm nên con người hắn sẽ phải sống giữa cảnh man rợ trần trụi và gào thét, rồi chết ở xứ đêm dài xa xôi này, ở nơi tối tăm này, bên kia những biên giới cuối cùng của thế giới.
Hắn thở dài. Vậy ra cái vật trước mặt hắn là I-van To Xác. I-van To Xác, gã khổng lồ, kẻ không có thần kinh, người sắt, tên Cô-dắc trở thành cướp biển, lì lợm như con bò, hệ thần kinh thô tới nỗi cái làm người thường đau đớn thì với gã chỉ như gãi ngứa. Thôi thì, cứ tin bọn Anh-điêng Nu-la-tô này sẽ tìm ra được thần kinh của I-van To Xác, lần theo chúng tới tận gốc rễ linh hồn đang run rẩy của gã. Chúng đang làm đúng như vậy. Không thể tưởng tượng nổi một con người có thể chịu đau đến thế mà vẫn còn sống. I-van To Xác đang phải trả giá cho bộ thần kinh thô thiển của mình. Gã đã cầm cự lâu gấp đôi bất kỳ ai khác.
Xu-biên-cốp cảm thấy mình không chịu đựng thêm được bao lâu nữa cảnh tên Cô-dắc bị hành hạ. Sao I-van không chết đi? Hắn sẽ phát điên nếu tiếng gào ấy không dứt. Nhưng khi nó dứt, sẽ tới lượt hắn. Và Gia-ca-ga cũng đang chờ hắn, ngay lúc này đã nhe răng cười với hắn trong niềm háo hức. Gia-ca-ga, kẻ mới tuần trước thôi bị hắn đá ra khỏi đồn, và bị hắn quất roi chó vào mặt. Gia-ca-ga sẽ lo phần hắn. Chắc chắn Gia-ca-ga đang dành cho hắn những cực hình tinh vi hơn, những cách hành hạ thần kinh khéo léo hơn. À, cái vừa rồi hẳn phải đặc biệt lắm, nghe tiếng I-van gào thì biết. Đám đàn bà đang cúi xuống gã lùi lại, cười rộ và vỗ tay. Xu-biên-cốp nhìn thấy cái điều quái gở vừa được làm ra, và hắn bắt đầu cười, cười như lên cơn. Bọn Anh-điêng ngạc nhiên nhìn hắn, không hiểu sao hắn lại cười. Nhưng Xu-biên-cốp không dừng lại được.
Thế này thì không được. Hắn tự kiềm chế, những cơn co giật chậm chạp tắt dần. Hắn cố nghĩ sang chuyện khác, và bắt đầu đọc ngược lại cuộc đời mình. Hắn nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ con ngựa con lông đốm, nhớ ông thầy người Pháp đã dạy hắn khiêu vũ và lén đưa cho hắn một cuốn Vôn-te cũ sờn. Hắn lại thấy Pa-ri, thấy Luân Đôn ảm đạm, Viên tươi vui, và Rô-ma. Và hắn lại thấy nhóm thanh niên cuồng nhiệt, những kẻ đã cùng hắn mơ giấc mơ về một nước Ba Lan độc lập, với một vị vua Ba Lan ngồi trên ngai vàng ở Vác-sa-va. À, chính từ đó con đường dài đã bắt đầu. Thôi thì, hắn là kẻ trụ lại lâu nhất. Từng người một, bắt đầu từ hai người bị xử tử ở Xanh Pê-téc-bua, hắn đếm lại sự ra đi của những linh hồn quả cảm ấy. Người này bị cai ngục đánh tới chết. Người kia gục ngã dọc con đường đẫm máu của những kẻ lưu đày, nơi họ đã lê bước suốt những tháng ngày dài vô tận, bị lính Cô-dắc áp giải đánh đập hành hạ. Lúc nào cũng là sự man rợ, man rợ tàn bạo, man rợ như thú vật. Họ đã chết, vì sốt, trong hầm mỏ, dưới roi da. Hai người cuối cùng chết sau cuộc vượt ngục, trong trận giao chiến với lính Cô-dắc. Còn mình hắn tới được Cam-chát-ca, với giấy tờ ăn cắp và tiền của một người lữ khách mà hắn đã bỏ lại nằm trên tuyết.
Chẳng có gì ngoài sự man rợ. Suốt bao năm, trong khi trái tim hắn vẫn ở những xưởng vẽ, những nhà hát, những cung đình, hắn bị sự man rợ vây kín. Hắn đã mua mạng sống bằng máu. Ai cũng đã giết người. Hắn đã giết người lữ khách kia để lấy hộ chiếu. Hắn đã chứng tỏ mình là người có bản lĩnh bằng cách đấu súng với hai sĩ quan Nga trong cùng một ngày. Hắn phải chứng tỏ bản thân để giành được một chỗ trong đám cướp da lông thú. Hắn buộc phải giành được chỗ ấy. Sau lưng hắn là con đường dài như nghìn năm, băng qua cả Xi-bê-ri và nước Nga. Hắn không thể trốn theo lối ấy. Lối duy nhất là đi tới, băng qua vùng biển Bê-rinh tối tăm giá lạnh, sang A-lát-xca. Con đường ấy dẫn từ man rợ tới man rợ sâu hơn. Trên những con tàu mục ruỗng vì bệnh hoại huyết của bọn cướp da lông thú, cạn lương thực, cạn nước, bị vùi dập bởi những cơn bão không dứt của vùng biển dữ, con người đã thành thú vật. Ba lần hắn giong buồm về phía đông từ Cam-chát-ca. Và ba lần, sau đủ mọi gian khổ, những kẻ sống sót lại quay về Cam-chát-ca. Không có lối thoát nào, mà hắn cũng không thể quay lại con đường đã đi, vì hầm mỏ và roi da đang chờ hắn.
Lần thứ tư, cũng là lần cuối, hắn lại giong buồm về phía đông. Hắn ở trong số những người đầu tiên tìm ra quần đảo Hải Cẩu huyền thoại. Nhưng hắn không quay về cùng họ để chia nhau của cải da lông thú trong những cuộc truy hoan điên cuồng ở Cam-chát-ca. Hắn đã thề không bao giờ quay lại. Hắn biết, muốn tới được những kinh đô yêu dấu của châu Âu, hắn phải đi tiếp. Vì thế hắn đổi tàu, ở lại vùng đất mới tối tăm. Bạn đồng hành của hắn là những thợ săn người Xla-vơ, những kẻ phiêu lưu người Nga, người Mông Cổ, người Tác-ta và thổ dân Xi-bê-ri. Họ đã mở một con đường máu xuyên qua những người bản xứ của tân thế giới. Họ tàn sát cả những làng không chịu nộp cống da lông thú. Rồi đến lượt họ, cả đoàn thuỷ thủ bị tàn sát. Có lần, hắn và một người Phần Lan là hai kẻ sống sót duy nhất của một đoàn như thế. Họ đã sống một mùa đông cô độc và đói khát trên một hòn đảo hoang thuộc quần đảo A-lê-út, và việc được một con tàu da lông thú khác cứu vào mùa xuân là một cơ may nghìn lần có một.
Nhưng lúc nào sự man rợ khủng khiếp cũng vây kín hắn. Chuyển từ tàu này sang tàu khác, và luôn từ chối quay về, hắn tới được con tàu đi thám hiểm về phương nam. Suốt dọc bờ biển A-lát-xca, họ chẳng gặp gì ngoài vô số thổ dân. Mỗi lần thả neo giữa những hòn đảo dựng đứng, hay dưới chân những vách đá cau có của đất liền, là một trận đánh hoặc một trận bão. Hoặc là bão gió nổi lên đe doạ đánh đắm, hoặc là những chiếc xuồng chiến ra khơi, chở đầy thổ dân gào thét, mặt vẽ sơn chiến, kéo tới để nếm thử sức mạnh đẫm máu của thuốc súng bọn cướp biển. Họ cứ men theo bờ biển về nam, về nam mãi, tới tận xứ Ca-li-pho-ni-a huyền thoại. Người ta đồn ở đó có những kẻ phiêu lưu người Tây Ban Nha đã đánh chiếm đường từ Mê-hi-cô lên. Hắn từng đặt hy vọng vào những kẻ phiêu lưu Tây Ban Nha ấy. Trốn được tới chỗ họ thì phần còn lại sẽ dễ dàng. Một năm, hai năm, nhiều hơn hay ít hơn thì có hề gì. Hắn sẽ tới được Mê-hi-cô, rồi một con tàu, và châu Âu sẽ là của hắn. Nhưng họ không gặp người Tây Ban Nha nào. Họ chỉ gặp lại bức tường man rợ không sao xuyên thủng ấy. Những cư dân ở tận cùng thế giới, mặt vẽ sơn chiến, đã đánh đuổi họ khỏi bờ. Cuối cùng, khi một chiếc xuồng bị cô lập và mọi người trên đó bị giết sạch, viên chỉ huy bỏ cuộc tìm kiếm và quay tàu về phương bắc.
Năm tháng trôi qua. Hắn đã phục vụ dưới quyền Tê-ben-cốp khi đồn Mi-khai-lốp-xki được dựng lên. Hắn đã ở hai năm trong vùng Cút-xcô-quim. Hai mùa hè liền, vào tháng sáu, hắn tìm cách có mặt ở đầu vịnh Cốt-xê-bu. Ở đây, vào mùa này, các bộ lạc tụ họp để trao đổi hàng hoá. Ở đây có da tuần lộc lông đốm từ Xi-bê-ri, ngà từ quần đảo Đi-ô-mít, da hải mã từ bờ Bắc Băng Dương, những chiếc đèn đá lạ lùng truyền tay từ bộ lạc này sang bộ lạc khác, chẳng ai biết từ đâu tới. Và một lần, có cả một con dao săn do người Anh làm. Và ở đây, Xu-biên-cốp biết, là trường học để học địa lý. Vì hắn gặp những người Ét-ki-mô từ vịnh Noóc-tơn, từ đảo Vua và đảo Xanh Lô-ren-xơ, từ mũi Hoàng Tử Xứ Uên, từ mũi Ba-rô. Những nơi ấy có những cái tên khác, và khoảng cách đo bằng số ngày đi.
Những người bản xứ đến đây trao đổi hàng hoá từ một vùng mênh mông, và những chiếc đèn đá cùng con dao thép kia, qua bao lần trao tay, đã tới từ một vùng còn mênh mông hơn nữa. Xu-biên-cốp doạ nạt, dỗ dành, và đút lót. Bất cứ ai từng đi xa, bất cứ người lạ nào thuộc bộ lạc khác, đều bị đưa tới trước mặt hắn. Người ta kể về những hiểm nguy không thể lường, không thể tưởng, về thú dữ, bộ lạc thù địch, rừng rậm không lối vào, những dãy núi hùng vĩ. Nhưng lúc nào cũng thế, từ phía bên kia vọng về tin đồn và câu chuyện về những người da trắng, mắt xanh tóc vàng, đánh nhau như quỷ và luôn đi tìm da lông thú. Họ ở phía đông, xa, xa lắm về phía đông. Chưa ai thấy họ. Đó chỉ là lời truyền từ miệng người này sang miệng người khác.
Đó là một trường học khắc nghiệt. Người ta không thể học địa lý cho ra hồn qua những thổ ngữ xa lạ, từ những đầu óc mù mờ trộn lẫn thực với hư, đo khoảng cách bằng "giấc ngủ", mà giấc ngủ thì dài ngắn tuỳ đường đi khó dễ. Nhưng cuối cùng tới một lời thì thầm khiến Xu-biên-cốp vững dạ. Ở phía đông có một con sông lớn, nơi có những người mắt xanh ấy. Con sông tên là Y-u-cơn. Phía nam đồn Mi-khai-lốp-xki có một con sông lớn khác đổ ra biển, người Nga gọi là Quích-pác. Lời thì thầm nói rằng hai con sông ấy là một.
Xu-biên-cốp trở về Mi-khai-lốp-xki. Suốt một năm hắn thúc giục tổ chức một chuyến thám hiểm ngược sông Quích-pác. Rồi Ma-la-cốp, một kẻ lai Nga, đứng ra cầm đầu đám liều mạng hoang dã và hung tợn nhất trong cái nồi canh địa ngục gồm đủ hạng phiêu lưu tạp chủng đã vượt biển từ Cam-chát-ca sang. Xu-biên-cốp là phó của hắn. Họ len lỏi qua mê cung châu thổ mênh mông của sông Quích-pác, tới dãy đồi thấp đầu tiên ở bờ bắc, rồi suốt năm trăm dặm, trên những chiếc xuồng da chất đầy hàng trao đổi và đạn dược tới mép mạn, họ chiến đấu ngược dòng nước chảy xiết, trên một con sông rộng từ hai tới mười dặm, lòng sâu hàng chục sải. Ma-la-cốp quyết định xây đồn ở Nu-la-tô. Xu-biên-cốp thúc giục đi xa hơn. Nhưng rồi hắn nhanh chóng chấp nhận Nu-la-tô. Mùa đông dài đang tới. Chờ đợi thì hơn. Đầu mùa hè năm sau, khi băng tan, hắn sẽ biến mất ngược dòng Quích-pác, tìm đường tới các trạm buôn của Công ty Vịnh Hớt-xơn. Ma-la-cốp chưa bao giờ nghe lời thì thầm rằng sông Quích-pác chính là sông Y-u-cơn, và Xu-biên-cốp không nói cho hắn biết.
Rồi tới việc xây đồn. Đó là lao động cưỡng bức. Những bức tường gỗ cao tầng tầng lớp lớp mọc lên giữa những tiếng thở dài và rên rỉ của người Anh-điêng Nu-la-tô. Roi quất lên lưng họ, và kẻ cầm roi là bàn tay sắt của bọn cướp biển. Có những người Anh-điêng bỏ trốn. Khi bị bắt lại, họ bị lôi về, căng tay căng chân trước cổng đồn, nơi họ và cả bộ lạc được học thế nào là sức mạnh của roi da. Hai người chết dưới roi. Những người khác bị thương tật suốt đời. Số còn lại ghi lòng bài học và không trốn nữa. Tuyết đã bay trước khi đồn xây xong, và rồi tới mùa da lông thú. Một khoản cống nặng nề đổ lên đầu bộ lạc. Đòn roi vẫn tiếp diễn, và để buộc họ nộp đủ cống, đàn bà trẻ con bị giữ làm con tin, bị đối xử với sự dã man mà chỉ bọn cướp da lông thú mới biết.
Thôi thì, đó là một mùa gieo máu, và giờ đã tới mùa gặt. Đồn đã không còn. Dưới ánh lửa thiêu rụi nó, một nửa bọn cướp da lông thú đã bị chém ngã. Nửa kia bị đem ra tra tấn. Chỉ còn Xu-biên-cốp, hay Xu-biên-cốp và I-van To Xác, nếu cái vật đang rên ư ử trên tuyết kia còn có thể gọi là I-van To Xác. Xu-biên-cốp bắt gặp Gia-ca-ga đang nhe răng cười với hắn. Không thể trách Gia-ca-ga được. Vết roi vẫn còn trên mặt gã. Rốt cuộc, Xu-biên-cốp không trách gã, nhưng hắn không thích nghĩ tới những gì Gia-ca-ga sẽ làm với hắn. Hắn nghĩ tới chuyện kêu xin Ma-ca-múc, tù trưởng. Nhưng lý trí bảo hắn kêu xin như thế là vô ích. Rồi hắn lại nghĩ tới chuyện bứt dây trói mà chết trong lúc chiến đấu. Kết cục như thế sẽ nhanh. Nhưng hắn không bứt nổi dây trói. Dây da tuần lộc khoẻ hơn hắn. Đang tính kế thì một ý nghĩ khác đến với hắn. Hắn ra hiệu gọi Ma-ca-múc, và xin cho gọi một người thông ngôn biết thổ ngữ miền biển.
— Này, Ma-ca-múc, hắn nói. Ta không có ý định chết. Ta là một người vĩ đại, ta mà chết thì thật ngu ngốc. Thật ra, ta sẽ không chết. Ta không giống mấy cái xác thối kia.
Hắn nhìn cái vật đang rên rỉ, từng là I-van To Xác, rồi khinh bỉ lấy mũi chân hẩy nó.
— Ta quá khôn ngoan để chết. Này, ta có một phép thuốc lớn. Chỉ mình ta biết phép thuốc này. Vì ta sẽ không chết, ta sẽ đổi phép thuốc này cho ngươi.
— Phép thuốc gì? Ma-ca-múc hỏi.
— Một phép thuốc lạ lắm.
Xu-biên-cốp đắn đo một lúc, như tiếc rẻ không muốn để lộ bí mật.
— Ta sẽ nói cho ngươi biết. Chỉ cần xoa một chút thuốc này lên da là da sẽ cứng như đá, cứng như sắt, không vũ khí sắc bén nào cắt được. Nhát chém mạnh nhất của vũ khí sắc bén cũng chẳng làm gì nổi. Dao xương sẽ thành như mẩu bùn. Ngay cả lưỡi dao sắt mà bọn ta đem tới đây cũng bị quằn. Ngươi sẽ cho ta gì để đổi lấy bí mật của phép thuốc?
— Ta sẽ cho ngươi mạng sống, Ma-ca-múc trả lời qua người thông ngôn.
Xu-biên-cốp cười khinh bỉ.
— Và ngươi sẽ làm nô lệ trong nhà ta cho tới chết.
Người Ba Lan càng cười khinh bỉ hơn.
— Cởi trói tay chân cho ta rồi hẵng nói chuyện, hắn bảo.
Tù trưởng ra hiệu. Được cởi trói rồi, Xu-biên-cốp vấn một điếu thuốc lá, châm lửa.
— Toàn chuyện ngớ ngẩn, Ma-ca-múc nói. Làm gì có phép thuốc như thế. Không thể có được. Lưỡi sắc mạnh hơn bất cứ phép thuốc nào.
Tù trưởng không tin, nhưng ông ta vẫn dao động. Ông đã thấy quá nhiều trò ma quỷ của bọn cướp da lông thú mà linh nghiệm. Ông không thể hoàn toàn nghi ngờ.
— Ta sẽ cho ngươi mạng sống, nhưng ngươi sẽ không phải làm nô lệ, ông tuyên bố.
— Hơn thế nữa.
Xu-biên-cốp chơi ván bài của mình điềm tĩnh như đang mặc cả một tấm da cáo.
— Đây là một phép thuốc rất lớn. Nó đã cứu mạng ta nhiều lần. Ta muốn một cỗ xe trượt và một đàn chó, cùng sáu thợ săn của ngươi đi theo ta xuôi sông, bảo đảm an toàn cho ta tới chỗ chỉ còn cách đồn Mi-khai-lốp-xki một giấc ngủ.
— Ngươi phải sống ở đây, dạy cho bọn ta mọi trò ma quỷ của ngươi, tù trưởng đáp.
Xu-biên-cốp nhún vai, im lặng. Hắn phả khói thuốc vào bầu không khí giá lạnh, tò mò nhìn những gì còn sót lại của gã Cô-dắc to lớn.
— Cái sẹo kia! Ma-ca-múc chợt nói, chỉ vào cổ người Ba Lan, nơi một vết thâm tím cho thấy đã từng có một nhát dao trong một cuộc ẩu đả ở Cam-chát-ca. Phép thuốc không tốt. Lưỡi sắc đã mạnh hơn phép thuốc.
— Kẻ chém nhát ấy là một người rất khoẻ, Xu-biên-cốp đáp, sau khi ngẫm nghĩ. Khoẻ hơn ngươi, khoẻ hơn người thợ săn khoẻ nhất của ngươi, khoẻ hơn cả gã này.
Một lần nữa hắn lấy mũi giày chạm vào tên Cô-dắc, một cảnh tượng ghê rợn, đã bất tỉnh, nhưng trong thân thể không còn nguyên vẹn ấy, sự sống bị đọa đày vẫn bám lấy, chưa chịu lìa đi.
— Vả lại, lúc đó phép thuốc yếu. Vì ở chỗ đó không có một thứ quả mọng, mà ta thấy xứ này của ngươi có rất nhiều. Phép thuốc ở đây sẽ mạnh.
— Ta sẽ cho ngươi xuôi sông, Ma-ca-múc nói. Cỗ xe trượt, đàn chó và sáu thợ săn bảo vệ ngươi sẽ là của ngươi.
— Ngươi chậm chạp lắm, người kia điềm tĩnh đáp. Ngươi đã xúc phạm phép thuốc của ta vì không chấp nhận ngay điều kiện của ta. Này, giờ ta đòi nhiều hơn. Ta muốn một trăm tấm da hải ly.
Ma-ca-múc cười khẩy.
— Ta muốn năm chục cân cá khô.
Ma-ca-múc gật đầu, vì cá thì nhiều và rẻ.
— Ta muốn hai cỗ xe trượt, một cho ta, một chở da lông và cá. Và phải trả lại khẩu súng trường cho ta. Nếu ngươi không ưng cái giá này, chút nữa giá sẽ còn tăng.
Gia-ca-ga thì thầm với tù trưởng.
— Nhưng làm sao ta biết phép thuốc của ngươi là phép thuốc thật? Ma-ca-múc hỏi.
— Dễ lắm. Trước hết, ta sẽ vào rừng...
Gia-ca-ga lại thì thầm với Ma-ca-múc, và ông ta tỏ ý không đồng ý, đầy nghi ngờ.
— Ngươi có thể cho hai mươi thợ săn đi theo ta, Xu-biên-cốp nói tiếp. Ngươi thấy đấy, ta phải đi hái quả và đào rễ để làm thuốc. Rồi khi ngươi đã mang hai cỗ xe trượt tới, chất cá, da hải ly và khẩu súng lên, khi ngươi đã chọn ra sáu thợ săn sẽ đi cùng ta, khi mọi thứ đã sẵn sàng, ta sẽ xoa thuốc lên cổ, thế này, rồi đặt cổ lên khúc gỗ kia. Rồi người thợ săn khoẻ nhất của ngươi có thể cầm rìu chém ba nhát vào cổ ta. Chính ngươi cũng có thể chém ba nhát ấy.
Ma-ca-múc đứng há hốc miệng, nuốt lấy từng lời về phép thuật mới nhất và kỳ diệu nhất của bọn cướp da lông thú.
— Nhưng trước tiên, người Ba Lan vội nói thêm, sau mỗi nhát chém ta phải xoa thuốc mới. Rìu thì nặng và sắc, ta không muốn có sơ suất nào.
— Mọi thứ ngươi đòi sẽ là của ngươi, Ma-ca-múc kêu lên, chấp nhận ngay tắp lự. Làm thuốc đi.
Xu-biên-cốp giấu niềm vui sướng. Hắn đang chơi một ván bài liều mạng, không được có sơ suất nào. Hắn nói giọng ngạo mạn:
— Ngươi đã chậm chạp. Phép thuốc của ta đã bị xúc phạm. Để rửa sạch sự xúc phạm ấy, ngươi phải gả con gái cho ta.
Hắn chỉ vào cô gái, một sinh vật trông chẳng lành lặn gì, mắt lác một bên, một chiếc răng nanh như răng sói chìa ra. Ma-ca-múc nổi giận, nhưng người Ba Lan vẫn thản nhiên, vấn và châm thêm một điếu thuốc nữa.
— Nhanh lên, hắn doạ. Nếu ngươi không nhanh, ta sẽ còn đòi thêm nữa.
Trong im lặng sau đó, cảnh phương Bắc ảm đạm mờ đi trước mắt hắn, và hắn lại thấy quê hương, thấy nước Pháp. Và một lần, khi liếc nhìn cô gái răng sói, hắn nhớ tới một cô gái khác, một ca sĩ kiêm vũ nữ mà hắn từng quen khi lần đầu tới Pa-ri, lúc còn là chàng trai trẻ.
— Ngươi muốn con bé làm gì? Ma-ca-múc hỏi.
— Để xuôi sông với ta.
Xu-biên-cốp nhìn cô gái từ đầu tới chân, vẻ soi xét.
— Nó sẽ là một người vợ tốt. Được kết thân với dòng máu của ngươi là vinh dự xứng đáng với phép thuốc của ta.
Hắn lại nhớ tới cô ca sĩ vũ nữ, và ngân nga thành tiếng một bài hát cô đã dạy hắn. Hắn sống lại cuộc đời xưa, nhưng một cách tách rời, dửng dưng, ngắm những bức tranh ký ức của đời mình như ngắm tranh trong một cuốn sách về đời một ai đó. Giọng tù trưởng đột ngột phá tan im lặng làm hắn giật mình.
— Được, Ma-ca-múc nói. Con bé sẽ xuôi sông với ngươi. Nhưng phải hiểu rằng chính ta sẽ chém ba nhát rìu vào cổ ngươi.
— Nhưng mỗi lần ta đều phải xoa thuốc, Xu-biên-cốp đáp, ra vẻ lo lắng mà giấu không khéo.
— Ngươi sẽ xoa thuốc sau mỗi nhát chém. Đây là những thợ săn sẽ canh để ngươi không trốn. Vào rừng hái thuốc đi.
Chính sự tham lam của người Ba Lan đã khiến Ma-ca-múc tin vào giá trị của phép thuốc. Hẳn phải là phép thuốc lớn nhất mới khiến một kẻ đứng dưới bóng tử thần mà còn dám đứng lên mặc cả kỳ kèo như bà già đi chợ.
— Vả lại, Gia-ca-ga thì thầm, khi người Ba Lan cùng toán canh gác đã khuất sau những cây vân sam, khi ông đã học được phép thuốc rồi thì giết hắn dễ thôi.
— Nhưng làm sao ta giết hắn được? Ma-ca-múc cãi. Phép thuốc của hắn sẽ không cho ta giết hắn.
— Sẽ có chỗ nào đó hắn không xoa thuốc, Gia-ca-ga đáp. Ta sẽ giết hắn qua chỗ đó. Có thể là tai hắn. Được lắm, ta sẽ đâm một ngọn giáo từ tai này xuyên qua tai kia. Hoặc có thể là mắt hắn. Chắc chắn phép thuốc quá mạnh, không thể xoa lên mắt được.
Tù trưởng gật đầu.
— Ngươi khôn ngoan lắm, Gia-ca-ga. Nếu hắn không còn trò ma quỷ nào khác, ta sẽ giết hắn.
Xu-biên-cốp không phí thời gian chọn nguyên liệu làm thuốc. Gặp gì hắn lấy nấy: lá kim vân sam, lớp vỏ trong của cây liễu, một dải vỏ bạch dương, và một nắm quả việt quất rêu mà hắn bắt đám thợ săn đào lên từ dưới tuyết. Thêm vài cái rễ đông cứng là đủ, và hắn dẫn đầu đoàn người trở về trại.
Ma-ca-múc và Gia-ca-ga ngồi xổm bên cạnh hắn, ghi nhớ số lượng và từng loại nguyên liệu hắn thả vào nồi nước sôi.
— Phải cẩn thận cho quả việt quất vào trước, hắn giải thích. Và, à phải rồi, còn một thứ nữa: ngón tay của một người. Này, Gia-ca-ga, để ta chặt một ngón tay của ngươi.
Nhưng Gia-ca-ga giấu hai tay ra sau lưng, cau có.
— Chỉ một ngón út thôi mà, Xu-biên-cốp nài.
— Gia-ca-ga, đưa ngón tay cho hắn, Ma-ca-múc ra lệnh.
— Ngón tay vương vãi đầy ra đấy, Gia-ca-ga càu nhàu, chỉ vào đống xác người trên tuyết của hai chục kẻ đã bị tra tấn tới chết.
— Phải là ngón tay của người sống, người Ba Lan phản đối.
— Thế thì ngươi sẽ có ngón tay của người sống.
Gia-ca-ga sải bước tới chỗ gã Cô-dắc, xẻo một ngón tay.
— Hắn chưa chết đâu, gã tuyên bố, ném chiến lợi phẩm đẫm máu xuống tuyết dưới chân người Ba Lan. Mà đây là ngón tay tốt, vì nó to.
Xu-biên-cốp thả nó vào đống lửa dưới nồi, rồi bắt đầu hát. Đó là một bài tình ca Pháp mà hắn hát vào nồi thuốc với vẻ hết sức trang nghiêm.
— Không có những lời ta đọc vào đây thì thuốc chẳng có giá trị gì, hắn giải thích. Sức mạnh chính của thuốc nằm ở những lời này. Đây, thuốc xong rồi.
— Đọc những lời ấy chậm lại để ta biết, Ma-ca-múc ra lệnh.
— Chưa được, phải sau khi thử đã. Khi lưỡi rìu bật khỏi cổ ta ba lần, ta sẽ trao cho ngươi bí mật của những lời ấy.
— Nhưng nếu thuốc không phải thuốc tốt thì sao? Ma-ca-múc lo lắng hỏi.
Xu-biên-cốp quay sang ông ta, giận dữ.
— Thuốc của ta lúc nào cũng tốt. Còn nếu nó không tốt, thì cứ làm với ta như các ngươi đã làm với những kẻ khác. Cứ xẻo ta ra từng mẩu, như các ngươi đã xẻo hắn.
Hắn chỉ vào gã Cô-dắc.
— Thuốc nguội rồi. Giờ ta xoa nó lên cổ, vừa xoa vừa đọc thêm câu thần chú này.
Hết sức trịnh trọng, hắn chậm rãi ngâm một câu trong bài Mác-xây-e, đồng thời xoa kỹ thứ nước thuốc kinh tởm lên cổ.
Một tiếng kêu thét cắt ngang màn kịch của hắn. Gã Cô-dắc khổng lồ, với chút sinh lực phi thường cuối cùng trỗi dậy, đã nhổm lên quỳ được trên hai gối. Tiếng cười, tiếng kêu ngạc nhiên và tiếng vỗ tay vang lên trong đám người Nu-la-tô, khi I-van To Xác bắt đầu quằn quại vật vã trên tuyết.
Xu-biên-cốp buồn nôn vì cảnh ấy, nhưng hắn nén cơn buồn nôn, làm ra vẻ tức giận.
— Thế này không được, hắn nói. Kết liễu hắn đi, rồi chúng ta thử thuốc. Này, Gia-ca-ga, lo cho hắn im đi.
Trong khi việc ấy được làm, Xu-biên-cốp quay sang Ma-ca-múc.
— Và nhớ đấy, ngươi phải chém thật mạnh. Đây không phải trò trẻ con. Này, cầm rìu chém vào khúc gỗ xem, để ta thấy ngươi chém ra dáng đàn ông.
Ma-ca-múc vâng lời, chém hai nhát, chuẩn xác và mạnh mẽ, phạt ra một mảnh gỗ lớn.
— Tốt lắm.
Xu-biên-cốp nhìn quanh vòng người với những khuôn mặt man dại, những khuôn mặt dường như tượng trưng cho bức tường man rợ đã vây kín hắn từ khi cảnh sát của Nga hoàng bắt hắn lần đầu ở Vác-sa-va.
— Cầm rìu lên, Ma-ca-múc, đứng thế này. Ta sẽ nằm xuống. Khi ta giơ tay lên thì chém, chém hết sức. Và cẩn thận đừng để ai đứng sau lưng ngươi. Thuốc tốt lắm, lưỡi rìu có thể bật khỏi cổ ta mà văng khỏi tay ngươi đấy.
Hắn nhìn hai cỗ xe trượt, chó đã thắng yên cương, chất đầy da lông và cá. Khẩu súng trường của hắn nằm trên đống da hải ly. Sáu thợ săn sẽ làm hộ vệ cho hắn đứng cạnh xe.
— Con bé đâu? người Ba Lan hỏi. Đưa nó tới chỗ xe trượt trước khi thử thuốc.
Khi việc ấy đã xong, Xu-biên-cốp nằm xuống tuyết, gối đầu lên khúc gỗ như một đứa trẻ mệt mỏi sắp ngủ. Hắn đã sống bao nhiêu năm ảm đạm tới mức hắn mệt thật.
— Ta cười vào mặt ngươi và sức mạnh của ngươi, hỡi Ma-ca-múc, hắn nói. Chém đi, chém thật mạnh vào.
Hắn giơ tay lên. Ma-ca-múc vung rìu, một chiếc rìu bản to dùng để đẽo vuông gỗ. Lưỡi thép sáng loáng loé lên trong không khí giá buốt, dừng lại trên đầu Ma-ca-múc trong một thoáng có thể nhận ra, rồi bổ xuống chiếc cổ trần của Xu-biên-cốp. Nó cắt ngọt qua thịt và xương, cắm sâu vào khúc gỗ bên dưới. Những người bản xứ sững sờ nhìn cái đầu nảy ra xa gần một mét khỏi cái thân đang phun máu.
Một sự bàng hoàng và im lặng bao trùm, trong khi trong đầu họ từ từ vỡ lẽ rằng chẳng có phép thuốc nào cả. Tên cướp da lông thú đã lừa họ. Một mình hắn, trong tất cả những kẻ bị bắt, đã thoát được cực hình. Đó chính là cái giá hắn đã đặt cược trong ván bài này. Một tràng cười lớn vang lên. Ma-ca-múc cúi đầu xấu hổ. Tên cướp da lông thú đã lừa ông. Ông đã mất mặt trước toàn thể dân mình. Họ vẫn cứ cười ầm ầm. Ma-ca-múc quay đi, cúi đầu bước đi. Ông biết từ nay trở đi, người ta sẽ không gọi ông là Ma-ca-múc nữa. Ông sẽ là Kẻ Mất Mặt. Vết nhục của ông sẽ theo ông cho tới chết. Và mỗi khi các bộ lạc tụ họp vào mùa xuân đánh cá hồi, hay vào mùa hè trao đổi hàng hoá, câu chuyện sẽ truyền qua lại bên những đống lửa trại, về chuyện tên cướp da lông thú đã chết êm ả thế nào, chỉ bằng một nhát rìu, dưới tay Kẻ Mất Mặt.
Ông đã nghe trước được, rằng một gã trai trẻ hỗn hào nào đó sẽ hỏi:
— Kẻ Mất Mặt là ai thế?
Và sẽ có người đáp:
— À, Kẻ Mất Mặt ấy à, là người từng tên là Ma-ca-múc, hồi trước khi ông ta chặt đầu tên cướp da lông thú.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn