Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Khách trọ chốn đào nguyên

của O. Henry

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 12.082 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trên đường Brốt-uê có một khách sạn đã thoát…
  2. 2:11Tháng Bảy năm ấy có một vị khách tới…
  3. 4:43Vào ngày thứ ba bà Bô-mông ở khách sạn,…
  4. 7:00Ngay cả trên biển, Pha-ring-tơn buồn bã nhận xét,…
  5. 8:06Tôi cũng phải đi vào thứ Hai, anh nói,…
  6. 8:48Bà Bô-mông mặc chiếc áo dạ hội đẹp đẽ…
  7. 11:05Ha-rôn Pha-ring-tơn nghe vị khách đáng yêu nhất của…
  8. 12:30Tới cửa thang máy, Pha-ring-tơn chào từ biệt, và…

Trên đường Brốt-uê có một khách sạn đã thoát được con mắt của những kẻ đi quảng cáo chốn nghỉ mát mùa hè. Nó sâu, rộng và mát. Các phòng được ốp gỗ sồi sẫm màu, mát lạnh. Gió nhà làm ra cùng những bụi cây xanh thẫm đem lại cho nó mọi thú vui của miền núi rừng mà không có những điều phiền toái. Người ta có thể bước lên những cầu thang rộng của nó, hay mơ màng lướt lên trong những chiếc thang máy trên không, có những người dẫn đường mặc áo khuy đồng đi kèm, với một niềm vui thanh thản mà những nhà leo núi trên dãy An-pơ chưa bao giờ đạt tới. Trong bếp có một ông đầu bếp sẽ nấu cho bạn món cá hồi suối ngon hơn bất cứ món nào vùng núi Trắng từng dọn ra, những món hải sản khiến cả khu nghỉ mát ven biển sang trọng nhất cũng phải tái xanh vì ghen tị, và món thịt nai miền Mên làm tan chảy cả trái tim công vụ của ông kiểm lâm.

Một số ít người đã tìm ra ốc đảo này giữa sa mạc tháng Bảy của Man-hát-tan. Trong tháng ấy, bạn sẽ thấy đám khách thưa thớt của khách sạn ngồi rải rác một cách sang trọng trong ánh hoàng hôn mát dịu của gian phòng ăn trần cao, nhìn nhau qua cả một vùng hoang mạc trắng muốt những chiếc bàn bỏ trống, thầm chúc mừng nhau không thành tiếng.

Những người hầu bàn thừa thãi, tinh mắt, đi lại êm như có đệm hơi, lượn lờ gần đó, đáp ứng mọi nhu cầu trước cả khi nó được nói ra. Nhiệt độ lúc nào cũng như tháng Tư. Trần nhà được vẽ màu nước giả làm bầu trời mùa hạ, trên đó những đám mây mỏng manh trôi qua mà không tan biến đi như mây thật khiến ta tiếc nuối.

Tiếng ầm ì xa xa dễ chịu của đường Brốt-uê, trong trí tưởng tượng của những vị khách hạnh phúc, đã biến thành tiếng thác đổ, tràn ngập rừng cây bằng thứ âm thanh êm ả của nó. Mỗi khi nghe một bước chân lạ, khách lại lo lắng nghiêng tai, sợ chốn ẩn cư của mình bị phát hiện và bị xâm chiếm bởi đám người đi tìm thú vui không biết mỏi, những kẻ cứ săn đuổi thiên nhiên tới tận những hang ổ sâu kín nhất của nó.

Vậy là trong cái lữ quán vắng vẻ ấy, nhóm nhỏ những người sành điệu ghen tuông giấu mình suốt mùa nóng nực, tận hưởng tới tận cùng những thú vui của núi rừng và biển cả mà nghệ thuật và tài khéo đã gom lại dọn ra cho họ.

Tháng Bảy năm ấy có một vị khách tới khách sạn. Trên tấm danh thiếp bà gửi cho viên thư kí để ghi tên vào sổ có dòng chữ: "Bà Ê-lô-i-dơ Đác-xi Bô-mông".

Bà Bô-mông đúng là loại khách mà khách sạn Sen Vàng hằng yêu thích. Bà có cái phong thái thanh lịch của giới thượng lưu, được làm dịu đi và thêm ngọt ngào bởi một vẻ niềm nở hoà nhã, khiến nhân viên khách sạn đều thành nô lệ của bà. Các cậu bé phục vụ tranh nhau cái vinh dự được chạy tới khi bà rung chuông. Các viên thư kí, giá không vướng chuyện ai là chủ, hẳn đã làm giấy chuyển nhượng cho bà cả khách sạn lẫn mọi thứ trong đó. Còn những vị khách khác thì coi bà là nét chấm phá cuối cùng của vẻ đẹp và sự cao sang nữ tính, làm cho khung cảnh trở nên hoàn hảo.

Vị khách tuyệt hảo này hiếm khi ra khỏi khách sạn. Thói quen của bà hợp với lề lối của những khách quen sành điệu của khách sạn Sen Vàng. Muốn tận hưởng cái lữ quán tuyệt diệu ấy, người ta phải từ bỏ thành phố như thể nó ở xa hàng trăm dặm. Ban đêm thì có thể làm một chuyến dạo ngắn lên những vườn trên sân thượng gần đó. Nhưng suốt ban ngày nóng như thiêu, người ta ở yên trong những thành trì rợp bóng của Sen Vàng, như con cá hồi đứng lơ lửng trong chốn thâm nghiêm trong vắt của vũng nước ưa thích.

Tuy ở một mình trong khách sạn Sen Vàng, bà Bô-mông vẫn giữ phong thái của một bà hoàng chỉ cô đơn vì địa vị. Bà ăn sáng lúc mười giờ, một sinh vật mát mẻ, ngọt ngào, thong thả, thanh tú, toả sáng dịu dàng trong bóng mờ như bông hoa nhài lúc chạng vạng.

Nhưng tới bữa tối thì vẻ huy hoàng của bà mới lên tới tột đỉnh. Bà mặc một chiếc áo dài đẹp và mờ ảo như làn sương bốc lên từ một thác nước khuất trong khe núi. Tên gọi của chiếc áo ấy thì kẻ chép truyện này không đoán nổi. Lúc nào trên ngực áo viền đăng-ten cũng cài mấy bông hồng đỏ nhạt. Đó là chiếc áo mà ông trưởng bồi bàn nhìn bằng con mắt kính cẩn và ra tận cửa đón. Nhìn thấy nó, bạn nghĩ tới Pa-ri, có lẽ tới những bà bá tước bí ẩn, và chắc chắn tới cung điện Véc-xay, tới những thanh kiếm dài, tới các nữ minh tinh sân khấu và những bàn đỏ đen. Trong khách sạn Sen Vàng có một tin đồn không rõ từ đâu, rằng bà là một công dân thế giới, và rằng bằng đôi bàn tay trắng muốt thon thả, bà đang giật những sợi dây nào đó giữa các quốc gia, có lợi cho nước Nga. Là công dân của những con đường êm ả nhất thế giới, thì chẳng lạ gì khi bà nhanh chóng nhận ra rằng chốn tao nhã của khách sạn Sen Vàng là nơi đáng mong muốn nhất nước Mĩ để nghỉ ngơi trong cái nóng giữa hè.

Vào ngày thứ ba bà Bô-mông ở khách sạn, một chàng trai trẻ bước vào và ghi tên làm khách trọ. Quần áo của anh, để nói về anh theo đúng thứ tự được công nhận, hợp mốt một cách kín đáo. Nét mặt anh đẹp và cân đối. Vẻ mặt anh là vẻ của một người đàn ông từng trải, điềm tĩnh và sành sỏi. Anh báo với viên thư kí rằng anh sẽ ở lại ba bốn ngày, hỏi lịch tàu thuỷ đi châu Âu, rồi chìm vào trạng thái lười nhác sung sướng của khách sạn có một không hai này, với vẻ mãn nguyện của một lữ khách ở quán trọ ưa thích của mình.

Chàng trai trẻ ấy, chẳng có lí gì nghi ngờ sự trung thực của cuốn sổ đăng kí, là Ha-rôn Pha-ring-tơn. Anh trôi vào dòng đời yên ả, khép kín của Sen Vàng một cách tế nhị và lặng lẽ, tới mức không một gợn sóng nào làm kinh động những người cùng tìm sự nghỉ ngơi. Anh ăn ở Sen Vàng, như những người đi biển ngày xưa ăn trái sen thần, rồi được ru vào chốn bình yên sung sướng cùng những thuỷ thủ may mắn khác. Chỉ trong một ngày, anh đã có bàn ăn riêng, người hầu bàn riêng, và cả nỗi lo sợ rằng đám người hổn hển đuổi theo sự nghỉ ngơi đang làm nóng đường Brốt-uê sẽ ập tới phá huỷ cái bến đỗ sát vách mà kín đáo này.

Sau bữa tối ngày hôm sau khi Ha-rôn Pha-ring-tơn tới, bà Bô-mông đánh rơi chiếc khăn tay khi đi ra. Ông Pha-ring-tơn nhặt lên trả lại bà, không chút sỗ sàng của một kẻ muốn làm quen.

Có lẽ giữa những vị khách sành điệu của Sen Vàng có một mối đồng cảm thầm kín như của một hội kín. Có lẽ họ bị hút về phía nhau bởi cái may mắn chung là đã khám phá ra chốn nghỉ mát tuyệt đỉnh trong một khách sạn trên đường Brốt-uê. Giữa hai người trao đổi vài lời tế nhị về phép lịch sự, dè dặt rời bỏ lối khách sáo. Và như trong bầu không khí tiện lợi của một nơi nghỉ mát thật sự, một mối quen biết nảy mầm, nở hoa và kết trái ngay tại chỗ, như cái cây thần kì trong tay nhà ảo thuật. Họ đứng một lúc trên chiếc ban công ở cuối hành lang, tung qua tung lại quả cầu lông nhẹ tênh của câu chuyện.

— Người ta chán những chốn nghỉ mát cũ rồi, bà Bô-mông nói, với một nụ cười thoáng nhẹ mà ngọt ngào. Bay lên núi hay ra biển để trốn tiếng ồn và bụi bặm thì có ích gì, khi chính những người tạo ra cả hai thứ ấy lại theo ta tới tận đó?

— Ngay cả trên biển, Pha-ring-tơn buồn bã nhận xét, đám người phàm tục cũng bám theo. Những con tàu sang trọng nhất cũng sắp chẳng hơn gì phà chở khách. Lạy trời phù hộ chúng ta, khi đám người đi nghỉ hè phát hiện ra rằng Sen Vàng còn xa đường Brốt-uê hơn cả những hòn đảo nghỉ mát xa xôi nhất.

— Tôi mong bí mật của chúng ta ít nhất cũng giữ được một tuần, bà Bô-mông nói, vừa thở dài vừa mỉm cười. Tôi chẳng biết sẽ đi đâu nếu họ ập xuống Sen Vàng thân yêu. Tôi chỉ biết có một nơi mùa hè cũng tuyệt vời như thế, là lâu đài của bá tước Pô-lin-xki trên dãy núi U-ran.

— Tôi nghe nói mùa này các khu nghỉ mát nổi tiếng bên châu Âu gần như vắng tanh, Pha-ring-tơn nói. Năm này qua năm khác, những chốn nghỉ mát cũ mất dần tiếng tăm. Có lẽ nhiều người khác, cũng như chúng ta, đang đi tìm những góc yên tĩnh mà phần đông thiên hạ bỏ qua.

— Tôi tự hứa với mình còn ba ngày nữa được nghỉ ngơi tuyệt diệu thế này, bà Bô-mông nói. Thứ Hai này tàu Xê-đríc nhổ neo.

Đôi mắt Ha-rôn Pha-ring-tơn lộ rõ vẻ tiếc nuối.

— Tôi cũng phải đi vào thứ Hai, anh nói, nhưng tôi không ra nước ngoài.

Bà Bô-mông nhún một bên vai tròn trịa theo một điệu bộ ngoại quốc.

— Người ta không thể trốn ở đây mãi được, dù nơi này có quyến rũ đến đâu. Toà lâu đài đã được chuẩn bị đón tôi hơn một tháng nay rồi. Những bữa tiệc tại gia mà mình phải mở ấy, phiền phức làm sao! Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên tuần lễ của tôi ở khách sạn Sen Vàng.

— Tôi cũng vậy, Pha-ring-tơn khẽ nói. Và tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho con tàu Xê-đríc.

Tối Chủ nhật, ba ngày sau, hai người ngồi bên một chiếc bàn nhỏ trên chính chiếc ban công ấy. Một người hầu bàn kín đáo mang tới kem và mấy ly rượu vang pha nhỏ.

Bà Bô-mông mặc chiếc áo dạ hội đẹp đẽ mà ngày nào bà cũng mặc trong bữa tối. Trông bà có vẻ trầm ngâm. Cạnh tay bà trên bàn là một chiếc ví nhỏ đeo thắt lưng. Ăn kem xong, bà mở ví, lấy ra một tờ một đô-la.

— Ông Pha-ring-tơn, bà nói, với nụ cười đã chinh phục cả khách sạn Sen Vàng, tôi muốn nói với ông điều này. Sáng mai tôi sẽ đi trước bữa sáng, vì tôi phải quay về với công việc. Tôi đứng quầy bán tất ở Cửa hàng Khổng lồ của Kê-xi, và kì nghỉ của tôi hết vào tám giờ sáng mai. Tờ đô-la giấy này là đồng xu cuối cùng tôi có, cho tới khi tôi lĩnh tám đô-la tiền lương vào tối thứ Bảy tới. Ông là một quý ông thực thụ, ông đã tốt với tôi, nên tôi muốn nói với ông trước khi đi.

Cô nói tiếp:

— Tôi đã dành dụm từ tiền lương suốt một năm, chỉ để có kì nghỉ này. Tôi muốn được sống một tuần như một quý bà, dù cả đời chẳng bao giờ được thế lần nữa. Tôi muốn được dậy lúc nào tuỳ thích, thay vì sáng nào cũng phải bò ra khỏi giường lúc bảy giờ. Tôi muốn được ăn những thứ ngon nhất, được người ta hầu hạ, được rung chuông gọi người mang đồ tới, y như nhà giàu. Giờ thì tôi đã được thế, và tôi đã có những ngày hạnh phúc nhất mà tôi từng mong có được trong đời. Tôi sẽ quay về với công việc và căn phòng ngủ nhỏ ở hành lang của mình, mãn nguyện cho thêm một năm nữa. Tôi muốn kể với ông, ông Pha-ring-tơn ạ, vì tôi... tôi nghĩ là ông có vẻ hơi thích tôi, và tôi... tôi cũng thích ông. Nhưng ôi, tới tận bây giờ tôi vẫn không thể không lừa dối ông, vì với tôi tất cả chuyện này cứ như trong truyện cổ tích. Thế nên tôi đã nói về châu Âu, về những điều tôi đọc được về những xứ sở khác, và làm cho ông tưởng tôi là một bà lớn.

— Chiếc áo tôi đang mặc đây, chiếc duy nhất tôi có còn đáng mặc, tôi mua trả góp ở hiệu Ô Đao và Lê-vin-xki. Giá bảy mươi lăm đô-la, may đo hẳn hoi. Tôi đã trả trước mười đô-la, rồi mỗi tuần họ tới thu một đô-la cho tới khi trả hết. Tôi chỉ có chừng ấy điều muốn nói thôi, ông Pha-ring-tơn, ngoài chuyện tên tôi là Mây-mi Xi-vi-tơ chứ không phải bà Bô-mông, và tôi cảm ơn ông đã ân cần với tôi. Đồng đô-la này để trả kì góp tiền áo đến hạn ngày mai. Giờ tôi xin phép lên phòng.

Ha-rôn Pha-ring-tơn nghe vị khách đáng yêu nhất của Sen Vàng kể chuyện với vẻ mặt điềm nhiên. Khi cô nói xong, anh rút trong túi áo khoác ra một cuốn sổ nhỏ trông như cuốn séc. Anh dùng một mẩu bút chì viết lên một tờ mẫu trong đó, xé ra, ném sang cho người bạn đồng hành, rồi cầm lấy tờ đô-la giấy.

— Sáng mai tôi cũng phải đi làm, anh nói, nên bắt đầu luôn từ bây giờ cũng được. Biên nhận kì góp một đô-la đây. Tôi làm người đi thu tiền cho hiệu Ô Đao và Lê-vin-xki đã ba năm nay. Buồn cười nhỉ, cô với tôi lại có cùng một ý định về cách tiêu kì nghỉ của mình? Xưa nay tôi vẫn ao ước được ở một khách sạn sang trọng, nên tôi đã dành dụm từ hai mươi đô-la lương mỗi tuần, và tôi đã làm được. Này, Mây-mi, tối thứ Bảy đi tàu ra Cô-ni Ai-lân chơi một chuyến nhé, sao nào?

Gương mặt của bà Ê-lô-i-dơ Đác-xi Bô-mông giả hiệu bừng sáng.

— Ôi, nhất định là em đi, anh Pha-ring-tơn. Thứ Bảy cửa hàng đóng cửa lúc mười hai giờ trưa. Em nghĩ Cô-ni cũng vui chán, dù chúng mình đã sống một tuần với giới thượng lưu.

Bên dưới ban công, thành phố oi bức gầm gừ, rì rầm trong đêm tháng Bảy. Bên trong khách sạn Sen Vàng, những bóng râm mát mẻ dịu dàng ngự trị, và người hầu bàn ân cần đi lại nhè nhẹ gần những ô cửa sổ thấp, sẵn sàng chỉ cần một cái gật đầu là tới phục vụ bà và người cùng đi.

Tới cửa thang máy, Pha-ring-tơn chào từ biệt, và bà Bô-mông đi lên lần cuối. Nhưng trước khi họ tới chiếc buồng thang lặng lẽ, anh nói:

— Cô quên cái tên "Ha-rôn Pha-ring-tơn" ấy đi nhé. Tên tôi là Mác-ma-nớt, Giêm Mác-ma-nớt. Có người gọi tôi là Gim-mi.

— Chúc ngủ ngon, Gim-mi, bà nói.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Transients in Arcadia, O. Henry, in trong tuyển tập The Voice of the City
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →