Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ki-rơ-gia-li

của Aleksandr Pushkin

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.599 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ki-rơ-gia-li vốn là người Bun-ga-ri. Trong tiếng Thổ, Ki-rơ-gia-li…
  2. 3:56Nhưng hôm sau, quân Thổ tấn công nghĩa quân…
  3. 7:06Nói xong, Ki-rơ-gia-li im lặng, bình thản chờ đợi…
  4. 9:43Một viên chức, một ông già mặt đỏ gay,…
  5. 11:32Ki-rơ-gia-li bị giải về I-a-xi, đưa ra trước viên…
  6. 12:54Đêm xuống. Những người Thổ tháo xiềng chân cho…
  7. 13:39Cái lũ này, hắn nói. Đến đào đất cũng…
  8. 14:54Ki-rơ-gia-li thế đấy, các bạn thấy sao?

Ki-rơ-gia-li vốn là người Bun-ga-ri. Trong tiếng Thổ, Ki-rơ-gia-li có nghĩa là hiệp sĩ, là trang hảo hán. Tên thật của hắn thì tôi không biết.

Ki-rơ-gia-li cướp bóc gieo kinh hoàng khắp xứ Môn-đa-vi. Để các bạn hình dung được phần nào về hắn, tôi xin kể một chiến công của hắn. Một đêm, hắn và gã lính Ác-nao Mi-khai-la-ki, chỉ có hai người, tấn công một làng Bun-ga-ri. Chúng đốt làng từ hai đầu, rồi đi từ túp nhà này sang túp nhà khác. Ki-rơ-gia-li chém giết, còn Mi-khai-la-ki thì vác của cướp được. Cả hai cùng hét: "Ki-rơ-gia-li! Ki-rơ-gia-li!" Cả làng chạy tán loạn.

Khi An-ếch-xan-đrơ Íp-xi-lan-ti tuyên bố khởi nghĩa và bắt đầu chiêu mộ quân, Ki-rơ-gia-li dẫn đến cho ông mấy người bạn cũ. Mục đích thật sự của hội kín Hê-tê-ri thì bọn họ chẳng hiểu mấy. Nhưng chiến tranh là dịp để làm giàu trên lưng bọn Thổ, mà có khi cả trên lưng dân Môn-đa-vi nữa, và điều ấy thì họ thấy rõ như ban ngày.

An-ếch-xan-đrơ Íp-xi-lan-ti bản thân là người can đảm, nhưng không có những phẩm chất cần thiết cho cái vai mà ông đã nhận lấy một cách nồng nhiệt và thiếu thận trọng đến thế. Ông không biết cách thu phục những con người mà ông buộc phải chỉ huy. Họ chẳng kính nể, cũng chẳng tin cậy ông. Sau một trận đánh không may, nơi tinh hoa của thanh niên Hy Lạp ngã xuống, I-oóc-đa-ki Ô-lim-bi-ô-ti khuyên ông rút lui, rồi tự mình thay vào chỗ ông. Íp-xi-lan-ti phi ngựa sang biên giới nước Áo, và từ đó gửi lời nguyền rủa những người mà ông gọi là quân bất tuân, quân hèn nhát, quân vô lại. Những kẻ hèn nhát và vô lại ấy phần lớn đã ngã xuống trong những bức tường tu viện Xê-cu hoặc trên bờ sông Prút, liều chết chống trả một kẻ thù mạnh hơn gấp mười lần.

Ki-rơ-gia-li ở trong toán quân của Ghê-oóc-ghi Can-ta-cu-din, người mà về ông ta có thể nhắc lại y những gì đã nói về Íp-xi-lan-ti. Hôm trước trận đánh ở Xcu-li-a-ni, Can-ta-cu-din xin chỉ huy quân Nga cho mình được vào khu cách ly của ta. Toán quân bị bỏ lại không người chỉ huy. Nhưng Ki-rơ-gia-li, Xa-phi-a-nốt, Can-ta-gô-ni và những người khác chẳng thấy cần gì người chỉ huy.

Trận đánh ở Xcu-li-a-ni, hình như chưa ai tả lại với tất cả sự thật cảm động của nó. Các bạn hãy hình dung bảy trăm con người, lính Ác-nao, người An-ba-ni, người Hy Lạp, người Bun-ga-ri và đủ hạng ô hợp, chẳng biết gì về binh pháp, đang rút lui trước mắt mười lăm nghìn kỵ binh Thổ. Toán quân ấy dồn sát vào bờ sông Prút, đặt trước mặt hai khẩu pháo bé tí, tìm được trong sân phủ vương công ở I-a-xi, những khẩu pháo ngày xưa người ta vẫn bắn trong các bữa tiệc mừng ngày lễ thánh bổn mạng.

Quân Thổ rất muốn bắn đạn chùm, nhưng không dám khi chưa được chỉ huy quân Nga cho phép, vì đạn chùm thế nào cũng bay sang bờ bên ta. Viên chỉ huy khu cách ly, nay đã qua đời, phục vụ trong quân ngũ bốn mươi năm mà chưa bao giờ nghe tiếng đạn rít, nay được Chúa cho nghe. Vài viên đạn vèo vèo bay qua tai ông. Ông già nổi giận ghê gớm, mắng cho viên thiếu tá trung đoàn bộ binh Ô-khốt đang đóng ở khu cách ly một trận. Viên thiếu tá chẳng biết làm gì, chạy ra bờ sông, nơi bọn kỵ binh cảm tử Thổ đang phóng ngựa khoe tài bên kia, rồi giơ ngón tay ra doạ chúng. Thấy thế, bọn kỵ binh cảm tử quay ngựa phóng đi, và cả đội quân Thổ cũng rút theo. Viên thiếu tá giơ ngón tay doạ ấy tên là Khoóc-chép-xki. Tôi không biết rồi ông ta ra sao.

Nhưng hôm sau, quân Thổ tấn công nghĩa quân Hê-tê-ri. Không dám dùng đạn chùm hay đạn tròn, chúng quyết định, trái với thói quen của mình, đánh giáp lá cà. Trận đánh vô cùng ác liệt. Người ta chém nhau bằng mã tấu. Bên phía quân Thổ thấy có cả giáo, thứ trước giờ họ không dùng. Những ngọn giáo ấy là giáo Nga: người Cô-dắc Nê-cra-xốp đánh trong hàng ngũ của họ.

Được Hoàng đế ta cho phép, nghĩa quân Hê-tê-ri có thể vượt sông Prút, ẩn vào khu cách ly của ta. Họ bắt đầu sang sông. Can-ta-gô-ni và Xa-phi-a-nốt ở lại cuối cùng trên bờ bên Thổ. Ki-rơ-gia-li bị thương từ hôm trước, đã nằm trong khu cách ly. Xa-phi-a-nốt tử trận. Can-ta-gô-ni, một người rất béo, bị một ngọn giáo đâm vào bụng. Ông một tay giơ gươm lên, một tay nắm lấy ngọn giáo của kẻ thù, tự đâm nó sâu hơn vào người mình, và nhờ thế với tới được kẻ giết mình bằng thanh gươm, rồi cùng ngã xuống với hắn.

Thế là hết. Quân Thổ thắng trận. Môn-đa-vi bị quét sạch. Chừng sáu trăm lính Ác-nao tản mác khắp xứ Bê-xa-ra-bi-a. Chẳng biết lấy gì mà sống, nhưng họ vẫn biết ơn nước Nga đã che chở. Họ sống nhàn rỗi, nhưng không hư hỏng. Lúc nào cũng có thể thấy họ trong các quán cà phê của xứ Bê-xa-ra-bi-a nửa Thổ, miệng ngậm tẩu cán dài, nhấp từng ngụm cà phê đặc quánh trong những chiếc chén con. Những chiếc áo chẽn thêu hoa và đôi giày đỏ mũi nhọn của họ đã bắt đầu sờn rách, nhưng chiếc mũ chỏm có tua vẫn đội lệch, và mã tấu, súng ngắn vẫn giắt sau những chiếc thắt lưng rộng bản. Chẳng ai phàn nàn gì về họ. Không ai ngờ rằng những người nghèo hiền lành ấy lại là những tay thảo khấu khét tiếng nhất Môn-đa-vi, đồng bọn của Ki-rơ-gia-li đáng sợ, và chính hắn cũng đang ở giữa họ.

Viên pa-sa cai quản I-a-xi biết được chuyện ấy, liền căn cứ vào các hiệp ước hoà bình mà đòi chỉ huy quân Nga giao nộp tên cướp.

Cảnh sát bắt đầu truy tìm. Họ biết được Ki-rơ-gia-li quả thật đang ở Ki-si-nhốp. Người ta bắt được hắn trong nhà một thầy tu bỏ trốn, vào một buổi tối khi hắn đang ngồi ăn trong bóng tối cùng bảy người bạn.

Ki-rơ-gia-li bị tống giam. Hắn không giấu giếm sự thật, nhận mình là Ki-rơ-gia-li.

– Nhưng mà, hắn nói thêm, từ khi tôi sang bên này sông Prút, tôi không đụng đến một sợi tóc của cải người khác, không xúc phạm đến cả một gã Di-gan hèn mọn nhất. Với người Thổ, người Môn-đa-vi, người Va-la-khi, tất nhiên tôi là kẻ cướp. Nhưng với người Nga, tôi là khách. Khi Xa-phi-a-nốt bắn hết đạn chùm, đến khu cách ly chỗ chúng tôi, đi xin những người bị thương khuy áo, đinh, dây xích, cả núm chuôi mã tấu để làm những phát đạn cuối cùng, tôi đã đưa cho anh ấy hai mươi đồng bê-sơ-lích, và chẳng còn đồng nào. Có Chúa chứng giám, tôi, Ki-rơ-gia-li, đã phải sống nhờ của bố thí! Thế sao giờ người Nga lại nộp tôi cho kẻ thù của tôi?

Nói xong, Ki-rơ-gia-li im lặng, bình thản chờ đợi số phận của mình được định đoạt.

Hắn không phải chờ lâu. Giới chức, vốn chẳng có nghĩa vụ nhìn bọn cướp từ phía lãng mạn của chúng, lại tin chắc lời yêu cầu kia là chính đáng, đã ra lệnh giải Ki-rơ-gia-li về I-a-xi.

Một người có trí tuệ và có tâm, hồi ấy là một viên chức trẻ vô danh, nay đã giữ một chức vụ quan trọng, đã tả lại cho tôi rất sinh động cảnh Ki-rơ-gia-li ra đi.

Trước cổng nhà lao có một chiếc xe ca-ru-xa của trạm thư… Có lẽ các bạn không biết ca-ru-xa là gì. Đó là một chiếc xe thấp, đan bằng mây, cho đến mới đây người ta vẫn thường thắng vào đó sáu hay tám con ngựa còm. Một người Môn-đa-vi để ria, đội mũ lông cừu, ngồi trên lưng một con, chốc chốc lại hét lên và quất roi đen đét, thế là đàn ngựa còm chạy nước kiệu khá nhanh. Nếu có con nào bắt đầu đuối sức, anh ta tháo nó ra kèm theo những lời nguyền rủa khủng khiếp, rồi bỏ nó lại giữa đường, chẳng thèm bận tâm nó sẽ ra sao. Trên đường về, anh ta tin chắc sẽ tìm thấy nó ở đúng chỗ cũ, đang thong thả gặm cỏ trên thảo nguyên xanh. Không hiếm khi một khách đi đường rời trạm này với tám con ngựa, đến trạm kia chỉ còn có hai. Đó là chuyện mười lăm năm trước. Ngày nay ở xứ Bê-xa-ra-bi-a đã Nga hoá, người ta đã bắt chước lối thắng ngựa Nga và chiếc xe Nga.

Một chiếc ca-ru-xa như thế đứng trước cổng nhà lao vào một trong những ngày cuối tháng chín năm một nghìn tám trăm hai mươi mốt. Những người đàn bà Do Thái buông thõng tay áo, lẹp xẹp đôi dép. Những người lính Ác-nao trong bộ quần áo rách rưới mà đẹp như tranh. Những cô gái Môn-đa-vi dáng thon thả bế những đứa con mắt đen. Tất cả vây quanh chiếc xe. Đàn ông thì im lặng, còn đàn bà thì nôn nóng chờ đợi điều gì.

Cổng mở, mấy viên sĩ quan cảnh sát đi ra phố. Theo sau họ, hai người lính dẫn Ki-rơ-gia-li đang bị xiềng.

Hắn trông chừng ba mươi tuổi. Những đường nét trên khuôn mặt ngăm đen của hắn cân đối và nghiêm khắc. Hắn cao lớn, vai rộng, và nói chung toát ra một sức mạnh thể chất phi thường. Một chiếc khăn quấn sặc sỡ đội lệch trên đầu, một chiếc thắt lưng rộng bó lấy cái eo thon. Một chiếc áo chẽn dạ dày màu xanh, những nếp áo sơ mi rộng buông xuống trên đầu gối, và đôi giày đẹp làm thành phần còn lại của bộ trang phục. Dáng vẻ hắn kiêu hãnh và bình thản.

Một viên chức, một ông già mặt đỏ gay, mặc bộ đồng phục bạc màu lủng lẳng ba chiếc khuy, kẹp cặp kính gọng thiếc lên cái u đỏ tía thay cho cái mũi, mở một tờ giấy ra, bắt đầu đọc bằng tiếng Môn-đa-vi, giọng mũi ề à. Thỉnh thoảng ông ta lại ngạo nghễ liếc nhìn Ki-rơ-gia-li đang bị xiềng, người mà tờ giấy hình như nói đến. Ki-rơ-gia-li chăm chú lắng nghe. Viên chức đọc xong, gấp tờ giấy lại, quát nạt đám đông dạt ra, rồi ra lệnh đưa xe lại gần.

Bấy giờ Ki-rơ-gia-li quay sang ông ta, nói vài lời bằng tiếng Môn-đa-vi. Giọng hắn run run, nét mặt biến đổi. Hắn bật khóc, rồi sụp xuống chân viên chức cảnh sát, xiềng xích kêu loảng xoảng. Viên chức cảnh sát hoảng sợ nhảy lùi lại. Lính toan đỡ Ki-rơ-gia-li dậy, nhưng hắn tự đứng lên, nhặt xiềng xích lên, bước lên xe, hét: "Đi thôi!" Một người hiến binh ngồi cạnh hắn, người Môn-đa-vi quất roi, và chiếc xe lăn bánh.

– Ki-rơ-gia-li nói gì với ông thế? Viên chức trẻ hỏi người cảnh sát.

– Hắn ấy à, người cảnh sát vừa cười vừa đáp, hắn xin tôi chăm sóc giùm vợ con hắn, đang sống ở một làng Bun-ga-ri gần Ki-li-a. Hắn sợ vợ con cũng vì hắn mà bị liên luỵ. Dân ngu ấy mà.

Câu chuyện của viên chức trẻ khiến tôi xúc động lắm. Tôi thương Ki-rơ-gia-li tội nghiệp. Suốt một thời gian dài tôi chẳng biết gì về số phận hắn. Mấy năm sau tôi tình cờ gặp lại viên chức trẻ. Chúng tôi chuyện trò về những ngày đã qua.

– Thế ông bạn Ki-rơ-gia-li của ông ra sao rồi? Tôi hỏi. Ông có biết rồi hắn ra sao không?

– Biết chứ, anh ta đáp, rồi kể cho tôi nghe chuyện sau đây.

Ki-rơ-gia-li bị giải về I-a-xi, đưa ra trước viên pa-sa, và ông ta xử hắn tội chết cọc. Cuộc hành hình được hoãn lại đến một ngày lễ nào đó. Trong khi chờ, người ta giam hắn vào ngục.

Có bảy người Thổ canh giữ tù nhân. Họ là những người chất phác, trong thâm tâm cũng là những kẻ cướp chẳng kém gì Ki-rơ-gia-li. Họ kính nể hắn, và với lòng ham thích chung của cả phương Đông, họ say sưa nghe những câu chuyện kỳ lạ hắn kể.

Giữa những người lính gác và tù nhân nảy sinh một mối thân tình gắn bó. Một hôm Ki-rơ-gia-li nói với họ:

– Anh em ơi! Giờ của tôi đã gần kề. Chẳng ai tránh được số phận của mình. Sắp tới tôi sẽ phải chia tay anh em. Tôi muốn để lại cho anh em một chút gì làm kỷ niệm.

Những người Thổ vểnh tai lên.

– Anh em ạ, Ki-rơ-gia-li nói tiếp, ba năm trước, hồi tôi đi cướp với Mi-khai-la-ki quá cố, chúng tôi đã chôn trên thảo nguyên gần I-a-xi một cái nồi đầy tiền vàng. Xem chừng cả tôi lẫn anh ấy đều chẳng được hưởng kho báu ấy. Thôi thì thế này: anh em lấy mà chia nhau cho vui vẻ.

Những người Thổ suýt nữa phát điên. Họ bàn tán xem làm sao tìm ra được chỗ ấy. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng họ quyết định để chính Ki-rơ-gia-li dẫn đường.

Đêm xuống. Những người Thổ tháo xiềng chân cho tù nhân, lấy dây trói tay hắn lại, rồi cùng hắn ra khỏi thành, đi về phía thảo nguyên.

Ki-rơ-gia-li dẫn họ đi, giữ đúng một hướng, từ gò đất này sang gò đất khác. Họ đi rất lâu. Cuối cùng Ki-rơ-gia-li dừng lại gần một tảng đá rộng, đếm mười hai bước về phía nam, giậm chân, nói:

– Đây.

Những người Thổ phân công nhau. Bốn người rút mã tấu ra bắt đầu đào đất. Ba người đứng canh. Ki-rơ-gia-li ngồi trên tảng đá, nhìn họ làm.

– Sao? Sắp chưa? Hắn hỏi. Đào tới chưa?

– Chưa đâu, những người Thổ đáp, ra sức đào đến mồ hôi đổ như mưa.

Ki-rơ-gia-li bắt đầu tỏ ra sốt ruột.

– Cái lũ này, hắn nói. Đến đào đất cũng không biết đào cho ra hồn. Để tôi thì hai phút là xong. Các con ơi! Cởi trói tay cho ta, đưa ta cái mã tấu.

Những người Thổ ngẫm nghĩ, rồi bàn nhau.

– Thì sao? Họ quyết định. Cởi trói tay cho hắn, đưa mã tấu cho hắn. Có hề gì? Hắn có một, mình những bảy.

Thế là những người Thổ cởi trói tay cho hắn, đưa cho hắn một thanh mã tấu.

Cuối cùng Ki-rơ-gia-li đã được tự do, lại có vũ khí trong tay. Hẳn lúc ấy hắn phải cảm thấy điều gì đó!… Hắn bắt đầu đào thoăn thoắt, những người lính gác cũng giúp hắn… Bỗng hắn đâm thanh mã tấu vào một người trong bọn, để nguyên lưỡi thép trong ngực người ấy, rồi giật lấy hai khẩu súng ngắn giắt sau thắt lưng y.

Sáu người còn lại thấy Ki-rơ-gia-li cầm trong tay hai khẩu súng ngắn, bỏ chạy tán loạn.

Bây giờ Ki-rơ-gia-li lại đi ăn cướp quanh vùng I-a-xi. Mới đây hắn còn viết thư cho vương công, đòi năm nghìn đồng lê-va, doạ rằng nếu không trả đủ, hắn sẽ đốt thành I-a-xi và tìm đến tận vương công. Năm nghìn đồng lê-va đã được đưa đến cho hắn.

Ki-rơ-gia-li thế đấy, các bạn thấy sao?

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAleksandr Pushkin (1799 – 1837)
Năm mất1837
Xuất bản lần đầu1834
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Кирджали, 1834
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →