Chương 1: Đạo sĩ Trương Bì Tước
Ông già cửa ải được ngựa chưa hẳn là lành, nhà họ Tống hai cha con mù chưa hẳn là dữ. Hoạ phúc tiền đồ tối như sơn, chỉ cần giữ tấc lòng ngay thẳng mà đáp ông trời.
Chuyện kể rằng trong thành phủ Tô Châu có quán Huyền Đô, dựng từ đời nhà Lương. Thứ sử đời Đường là Lưu Vũ Tích có câu thơ "Trong quán Huyền Đô nghìn cây đào", chính là chốn này, còn gọi là quán Huyền Diệu. Quán nằm giữa thành quận, là thắng cảnh của đất Cô Tô. Nền đất rộng rãi, miếu mạo cao lớn, trên thì có điện Tam Thanh, dưới có mười điện Diêm vương, không thiếu thứ gì. Đạo sĩ mũ vàng các phòng chẳng phải chỉ mấy trăm người.
Trong đó có điện Bắc Cực Chân Vũ, tục gọi là điện Tổ Sư. Đạo sĩ phòng này đời đời truyền đạo Chính Nhất, giỏi viết bùa sai tướng, đoán hoạ phúc nhân gian. Trong số ấy xin kể riêng một đạo sĩ, họ tục là Trương, tay hay mân mê một con chim sẻ bằng da, nên người ta gọi là Trương Bì Tước. Người này hơi quái gở. Ăn mặn uống rượu thì khỏi nói, lại riêng thích ăn một món. Món gì? Sủa trăng nơi làng hoang, chạy gió giữa ngày tuyết. Rõ ràng một chữ Thái, dời dấu chấm sang bên. Ấy là chữ Khuyển, ông thích ăn thịt chó.
Các hàng mổ chó coi ông là khách sộp. Hễ đánh được con chó nào béo, ắt đến báo ông sang ăn. Ăn đến lúc khoái, người ta đưa tiền đến, ông đưa cả cho họ, chẳng tính toán. Có nhà bị ma quỷ quấy phá, đến xin bùa trấn nhà, gặp lúc ông đang ăn thịt chó, ông lấy đũa chấm nước thịt chó viết một đạo bùa, bảo người ta dán lên cổng. Hàng xóm thường đêm thấy chỗ dán bùa như có thần tướng qua lại, ma quỷ lập tức hết quấy.
Có nhà đại hộ họ Kiểu mở tiệm cầm đồ nhiều năm kiếm được lời, muốn lập một đàn chay tạ ơn trời đất, đã mời đạo sĩ họ Chu ở quán Thanh Chân làm chủ đàn. Đạo sĩ Chu khen Trương Bì Tước giỏi lắm, Kiểu công cũng mến danh, sai quản sự đi mời ngay.
Nhà họ Kiểu nuôi một con chó giữ nhà, rất béo khoẻ, Trương Bì Tước xưa nay vẫn để mắt. Nay thấy được mời, ông bảo:
— Muốn ta đến thì phải đánh con chó ấy mời ta. Đợi thịt chó ninh nhừ, rượu cũng hâm nóng, ta mới đến nhà.
Quản sự về báo Kiểu công. Kiểu công biết ông là người quái gở, đành nhận lời. Quả nhiên rượu hâm nóng, thịt chó ninh nhừ thì Trương Bì Tước đến cửa. Chủ nhà đón vào nhà giữa, nói ý muốn mời. Trong nhà hương đèn nến bày chỉnh tề, thờ cả một nhà thần, các đạo sĩ đã dâng hương rồi. Trương Bì Tước nghênh ngang bước vào, chẳng lạy thần, chẳng vái các đạo sĩ, miệng chỉ kêu:
— Mau đem thịt chó nhừ ra ăn, rượu phải nóng vào!
Kiểu công nghĩ: "Hãy xem ông ăn uống xong làm gì."
Thịt chó bày đĩa lớn, rượu đựng bình to, dọn ra trước mặt Trương Bì Tước. Ông tha hồ ăn uống, ăn đến đĩa không còn xương, rượu không còn giọt, no say lắm, kêu "ôi khoái". Ăn khoái rồi, mồm cũng chẳng lau, cứ thế lăn ra ngủ trên tấm thảm lạy thần, ngáy như sấm. Từ giờ dậu ngủ thẳng đến nửa đêm. Các đạo sĩ làm xong lễ, ông vẫn chưa tỉnh, mà chẳng ai dám động vào. Kiểu công chờ đến sốt ruột, quay ra trách đạo sĩ Chu. Đạo sĩ Chu tự thấy mất mặt, không dám cãi, nghĩ: "Trương Bì Tước thường say một giấc hai ba ngày mới dậy, lần này chẳng biết bao giờ tỉnh?" Đành đốt tờ biểu, tạ thần tiễn tướng, dọn đàn.
Đến canh năm, các đạo sĩ ăn uống xong, thì thấy Trương Bì Tước trên tấm thảm nhảy bật dậy, xoay một vòng, kêu loạn:
— Mười ngày, mười ngày! Năm ngày, năm ngày!
Kiểu công và các đạo sĩ thấy ông như phát điên, đều xúm lại xem. Đạo sĩ Chu bạo gan, bước lên ôm lấy, gọi cho tỉnh, miệng ông vẫn kêu:
— Năm ngày, năm ngày.
Đạo sĩ Chu hỏi duyên cớ. Trương Bì Tước hỏi:
— Tờ biểu vừa rồi ai viết?
— Là tiểu đạo tự tay chép.
— Giữa có sót một chữ, sai hai chữ.
Kiểu công nói:
— Học trò cũng tự đọc mấy lượt, không sót không sai gì, làm gì có chuyện ấy?
Trương Bì Tước sột soạt trong tay áo, rút ra một tờ giấy vàng:
— Chẳng phải tờ biểu đây sao?
Mọi người trông thấy, ai nấy kinh hãi:
— Tờ biểu đã đốt rồi, sao lại ở trong tay áo ông, đến góc giấy cũng chẳng sứt mảy may?
Đọc kỹ lại một lượt, đến chỗ bảo hiệu của Thiên Tôn quả sót một chữ, nhưng không nhận ra chỗ sai. Trương Bì Tước chỉ ra một cặp câu trong đó: "Chịu thiệt chịu khổ, làm ra được gấp đôi tiền. Nhẫn ngắn nhẫn dài, chỉ thành con nhà nghìn vàng." Ông giảng rằng trong hai câu ấy có hai chữ bị viết nhầm sang chữ khác cùng âm mà khác nghĩa, đọc lên nghĩa đi lệch hẳn.
— Các người ức hiếp Thượng Đế không biết chữ sao? Nay Thượng Đế nổi giận, khiến ta cũng khó xử.
Kiểu công và các đạo sĩ thấy tờ biểu, không dám không tin, cùng van xin:
— Nay viết lại biểu tấu, lập lại đàn chay, không biết có được không?
Trương Bì Tước nói:
— Vô ích, vô ích! Sai sót chữ trong tờ biểu còn là chuyện nhỏ. Vì có tờ tấu này mà Thượng Đế tra sổ ghi hằng ngày ở thiên tào xem thiện ác của ông. Ông tự mở tiệm cầm đồ, làm giàu mà bất nhân. Cân ra thì nhẹ, cân vào thì nặng. Đưa ra bạc pha, thu vào bạc ròng. Lại đem châu báu người ta cầm, chọn cái tốt đổi lấy dùng riêng. Lại hễ đồ cầm nào đáng giá, vừa đủ năm hạn là giả vờ bảo đã bán rồi, không cho chuộc. Bóc lột nhà nghèo như thế mà béo lên. Trong tờ tấu chẳng có lời nào hối tội, toàn lời tự khoe. Thượng Đế đã sai bộ Lôi ngay mấy ngày tới đốt nhà ông, quét sạch gia sản ông. Ta chỉ vì cảm ơn một con chó của ông mà xin hoãn đến mười ngày. Thượng Đế không chịu, ta năn nỉ mãi, đã chuẩn cho năm ngày. Ông có thể ra một tờ cáo thị: "Ai trong năm ngày đến chuộc đồ thì miễn lãi, chỉ thu tiền vốn." Còn những thứ trước nay dối lòng, đổi châu báu của người, quỵt đồ cầm của người, tuy khó mà trả lại, thì phát tâm vui lòng bố thí, bán đi làm tiền sửa cầu đắp đường. Có việc thiện ấy, Thượng Đế ắt nguôi giận, có khi thu bộ Lôi về cũng chưa biết chừng.
Kiểu công lúc đầu còn có ý tin theo, nghe đến câu "có khi thu bộ Lôi về cũng chưa biết chừng" thì sinh nghi: "Lão đạo sĩ điên này ắt mượn cớ để bắt ta bố thí của cải. Lẽ nào bộ Lôi dễ thu dễ thả thế?" Huống hồ người giữ của chỉ biết tính vốn tính lãi, sao chịu buông tay. Miệng ông nhận lời, trong lòng không cho là phải. Trương Bì Tước và các đạo sĩ từ biệt ra về. Kiểu công gác chuyện ấy đi không làm.
Đến ngày thứ năm, tiệm cầm đồ bốc cháy, nhà trước sảnh sau cháy thành đất trắng. Ngày thứ hai sau đó, các nhà cầm đồ kéo đến đòi đồ. Ông lại không chịu đền, thành ra kiện tụng, bán cả ruộng đất, đại hộ họ Kiểu nghèo xơ xác. Có người biết Trương Bì Tước từng báo trước ngày sét đánh lửa cháy, từ đó càng kính sợ ông.
Trương Bì Tước ở quán Huyền Đô hơn năm mươi năm. Về sau vì qua sông Tiền Đường gặp gió ngược khó đi, ông sai thiên tướng kéo dây thuyền, thuyền đi như bay. Bì Tước cười ha hả, chạm giận thiên tướng, bị đánh chết. Về sau có người cầu cơ ở nhà một lái buôn Huy Châu, Bì Tước giáng bút, tự xưng: "Vốn là Cẩu nguyên soái trên trời, duyên trần đã mãn, các tướng mời lên trời về ban, chứ chẳng phải bị đánh chết." Lái buôn Huy Châu nghe điện Chân Vũ linh thiêng, bố thí nghìn vàng, đắp một hòn non bộ bằng đá trước điện cho thêm tráng lệ. Hòn non bộ ấy tuy đẹp, lại phá mất phong thuỷ, từ đó đạo hữu phòng này chẳng còn ai đắc đạo. Thơ rằng:
Sét lửa từng thiêu kho cầm đồ, bùa sai ma quỷ quả là thật. Trương Bì Tước trong quán Huyền Đô, chớ bảo không thần mà có thần.
Vì sao kể chuyện Trương Bì Tước này? Chỉ vì cũng có một nhà tin bùa chú gọi tướng, suýt nữa làm oan mạng người. Người ấy họ Kim tên Mãn, cũng là người huyện Côn Sơn, phủ Tô Châu.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám