Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Kim Ngọc Nô đánh chàng bạc tình

của Kim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 24.987 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Người xưa có câu ví: người đàn bà theo…
  2. 3:08Mãi Thần nói:
  3. 5:45Chuyện ấy là vợ bỏ chồng. Bây giờ xin…
  4. 9:38Cậu tú chỉ cần ưng thuận, một tờ giấy…
  5. 13:35Chẳng bao lâu, Mạc Kê đi nhận bổ dụng,…
  6. 17:08Người ấy ta cũng để ý lâu rồi. Nhưng…
  7. 18:53Người tiến sĩ trẻ ông nhà nói chính là…
  8. 21:15Việc này chẳng liên quan gì đến hạ quan,…

Người xưa có câu ví: người đàn bà theo chồng cũng như bông hoa bám trên cành. Cành mất hoa thì sang xuân lại nở, còn hoa đã lìa cành thì không sao gắn lại được nữa. Câu ấy khuyên đàn bà trên đời thờ chồng cho trọn đạo, đồng cam cộng khổ, theo một người đến cùng, chớ ham giàu chê nghèo, hai lòng ba dạ mà về sau tự chuốc lấy ân hận.

Hãy kể chuyện một vị danh thần đời Hán. Lúc ông còn hàn vi, người vợ có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, bỏ ông mà đi, về sau hối thì không kịp nữa.

Vị danh thần ấy là người phương nào, tên họ là gì? Ông họ Chu, tên Mãi Thần, tự là Ông Tử, người quận Cối Kê. Nhà nghèo, chưa gặp thời, hai vợ chồng ở trong một ngõ hẻm, cửa che bằng phên cỏ. Ngày ngày Mãi Thần lên núi đốn củi, gánh ra chợ bán lấy tiền mà sống. Ông tính thích đọc sách, tay không rời quyển. Vai tuy gánh củi, tay vẫn cầm sách đọc to, nghiền ngẫm, vừa đi vừa ngâm nga. Người ngoài chợ nghe quen rồi, hễ thấy tiếng đọc sách là biết Mãi Thần gánh củi tới. Thương ông là kẻ học trò, ai cũng mua giúp. Lại thêm Mãi Thần chẳng mặc cả, người ta trả bao nhiêu thì bán bấy nhiêu, nên củi của ông bán chạy hơn của người khác. Cũng có bọn thanh niên khinh bạc và lũ trẻ con thấy ông vừa gánh củi vừa đọc sách, kéo nhau từng tốp năm tốp ba chế giễu trêu chọc, Mãi Thần chẳng để tâm chút nào.

Một hôm, vợ ông ra ngoài gánh nước, thấy một đám trẻ đi theo gánh củi của chồng mình, vỗ tay cười ầm, lấy làm xấu hổ lắm. Mãi Thần bán củi về, vợ khuyên:

— Ông muốn đọc sách thì thôi đừng bán củi, muốn bán củi thì thôi đừng đọc sách. Tuổi đã lớn chừng ấy, chẳng ngây chẳng dại, mà làm cái trò ấy cho trẻ con cười, chẳng xấu hổ chết đi được sao!

Mãi Thần đáp:

— Ta bán củi để cứu cái nghèo, đọc sách để cầu giàu sang, hai việc chẳng ngăn trở gì nhau. Mặc chúng nó cười.

Người vợ cười nói:

— Ông mà được giàu sang thì đã chẳng phải đi bán củi. Từ xưa đến nay, có thấy người bán củi nào làm quan bao giờ? Toàn nói những câu không biết ngượng!

Mãi Thần nói:

— Giàu sang nghèo hèn đều có thời của nó. Có người xem số cho ta, bảo năm năm mươi tuổi nhất định phát đạt. Người ta vẫn nói nước biển không lấy đấu mà đong được, bà đừng đoán bừa về ta.

Người vợ nói:

— Ông thầy bói thấy ông ngây ngây dại dại, nên cố ý trêu ông đấy, ông đừng tin. Đến năm mươi tuổi, đến gánh củi ông cũng không gánh nổi, chết đói là cái chắc, còn mong làm quan? Trừ phi trên điện Diêm Vương thiếu một ông phán quan, chờ ông xuống làm!

Mãi Thần nói:

— Khương Thái Công tám mươi tuổi còn ngồi câu cá bên sông Vị. Gặp được Chu Văn Vương, vua cho xe chở về, tôn làm thầy. Ngay đời nay, thừa tướng Công Tôn Hoằng năm mươi chín tuổi còn chăn lợn ở Đông Hải, tròn sáu mươi mới được nhà vua trọng dụng, phong tướng phong hầu. Ta năm mươi tuổi phát đạt, tuy muộn hơn người khác, nhưng so với hai ông ấy thì còn sớm chán. Bà phải chịu khó chờ.

Người vợ nói:

— Ông đừng có kể chuyện xưa chuyện nay. Ông câu cá, ông chăn lợn ấy trong bụng đều có tài học. Ông bây giờ đọc mấy câu sách chết, có đọc đến một trăm tuổi thì vẫn cái mặt ấy, làm nên trò trống gì? Xui xẻo mới làm vợ ông! Ông bị trẻ con cười, đến tôi cũng mất mặt lây. Ông không nghe lời tôi, vứt sách đi, thì tôi quyết không theo ông suốt đời. Mỗi người một ngả, đừng làm lỡ dở nhau.

Mãi Thần nói:

— Ta năm nay bốn mươi ba tuổi, bảy năm nữa là năm mươi. Đã chờ được ngần ấy năm rồi, bà chờ thêm cũng chẳng bao lâu. Bà bạc tình đến thế, bỏ ta mà đi, về sau ắt phải hối hận!

Người vợ nói:

— Trên đời thiếu gì đàn ông gánh củi, hối hận cái gì? Tôi mà chờ ông thêm bảy năm nữa, chẳng biết bộ xương này chết đói ở xó nào. Ông cứ cho tôi ra khỏi cửa, làm phúc cứu lấy cái mạng tôi.

Mãi Thần thấy vợ đã quyết đi, giữ không được, thở dài nói:

— Thôi, thôi! Chỉ mong bà lấy được người chồng hơn Chu Mãi Thần này là tốt.

Người vợ đáp:

— Dù sao cũng hơn được một chút.

Nói xong lạy hai lạy, hớn hở ra khỏi cửa mà đi, chẳng hề ngoảnh đầu lại. Mãi Thần buồn giận không thôi, đề lên vách bốn câu thơ, ý rằng: lấy chó thì theo chó, lấy gà thì theo gà, vợ đã bỏ ta, chứ ta không bỏ vợ.

Đến năm Mãi Thần năm mươi tuổi, gặp lúc vua Hán Vũ Đế xuống chiếu cầu người hiền. Mãi Thần lên kinh đô Trường An dâng thư, chờ lệnh. Người cùng làng là Nghiêm Trợ tiến cử tài của ông. Thiên tử biết Mãi Thần là người Cối Kê, ắt hiểu rõ dân tình lợi hại ở quê mình, bèn phong làm Thái thú Cối Kê, cho cưỡi ngựa trạm về nhận chức.

Quan lại ở Cối Kê nghe tin thái thú mới sắp đến, bắt dân phu đi sửa đường. Người chồng sau của vợ Mãi Thần cũng ở trong đám phu ấy. Người đàn bà đầu bù chân đất đi theo đưa cơm. Thấy quan thái thú tiền hô hậu ủng mà đến, mụ đứng bên đường nhìn trộm, thì ra chính là chồng cũ Chu Mãi Thần.

Mãi Thần ngồi trên xe nhìn qua một cái, vẫn nhận ra người vợ cũ, bèn sai người gọi lại, cho ngồi lên xe sau. Về đến phủ, người vợ cũ xấu hổ không còn chỗ nào giấu mặt, dập đầu tạ tội. Mãi Thần cho mời người chồng sau của mụ đến gặp. Chẳng bao lâu người ấy được gọi đến, phủ phục dưới đất, không dám ngẩng lên. Mãi Thần cười lớn, bảo người vợ cũ:

— Người như thế này, chưa thấy hơn được Chu Mãi Thần ta chỗ nào.

Người vợ cũ dập đầu tạ mãi, tự hối mình có mắt không tròng, xin được hạ làm tì thiếp, hầu hạ suốt đời. Mãi Thần sai múc một thùng nước hắt xuống thềm, rồi bảo người vợ cũ:

— Nếu nước đã hắt đi mà thu lại được, thì bà cũng hợp lại được với ta. Nghĩ tình kết tóc thuở trẻ, ta cho vợ chồng bà mảnh đất trống sau vườn mà cày cấy nuôi thân.

Người đàn bà theo chồng sau ra khỏi phủ, người đi đường đều chỉ trỏ nói: "Đây là phu nhân của quan thái thú mới đấy." Mụ xấu hổ quá, không còn mặt mũi nào, ra đến vườn sau thì nhảy xuống sông mà chết.

Người đời sau có thơ chê: bà giặt lụa bên sông còn biết thương kẻ sĩ đói, vậy mà vợ ruột lại nỡ bỏ chồng là học trò nghèo. Sớm biết nước đổ khó hốt, thì sao lúc trước không để chồng yên mà đọc sách. Lại có người nói: đời ai cũng nhìn thành bại mà định cao thấp, nào ai nhận ra rồng còn nằm trong bùn. Thói khinh nghèo trọng giàu là thói chung của thế gian, đâu chỉ riêng vợ Mãi Thần.

Chuyện ấy là vợ bỏ chồng. Bây giờ xin kể một chuyện chồng bỏ vợ. Cũng là khinh nghèo trọng giàu, bội nghĩa quên ơn, để rồi chuốc lấy cái tiếng bạc tình cho người đời bàn tán.

Đời Tống, khoảng năm Thiệu Hưng, Lâm An tuy là đất kinh đô, giàu có đông vui, nhưng ăn mày vẫn không ít. Trong đám ăn mày có một người đứng đầu, gọi là trùm phường, cai quản cả bọn. Ăn mày xin được thứ gì về thì trùm thu tiền hằng ngày. Gặp những hôm mưa tuyết không đi xin được thì trùm nấu cháo loãng nuôi cả bọn, áo rách quần rách cũng do trùm lo. Vì vậy cả bọn ăn mày khép nép nghe lời trùm như đầy tớ, chẳng dám làm trái.

Trùm phường ngồi không mà thu được món tiền lệ thường, lại cho chính bọn ăn mày vay lấy lãi. Nếu không cờ bạc trai gái thì cũng gây dựng được cơ nghiệp lớn. Ông ta sống nhờ nghề ấy, nhất thời cũng chẳng nghĩ đến chuyện đổi nghề. Chỉ có một điều: cái danh trùm phường nghe không hay. Dẫu anh có làm ra ruộng ra đất, mấy đời phát đạt, thì rốt cuộc vẫn là ông trùm ăn mày, chẳng sánh được với nhà dân thường. Ra ngoài chẳng ai kính nể, chỉ đóng cửa làm lớn trong nhà mình mà thôi.

Tuy vậy, nếu kể theo hai chữ sang hèn, người ta chỉ kể bốn hạng hèn là gái lầu xanh, phường chèo hát, kẻ hầu hạ và lính tráng, chứ không kể đến ăn mày. Xem ra ăn mày chỉ là không có tiền, chứ thân mình không có vết nhơ gì. Như thời Xuân Thu, Ngũ Tử Tư chạy nạn cũng từng thổi sáo xin ăn ở chợ nước Ngô; đời Đường, Trịnh Nguyên Hoà từng đi hát rong xin ăn, về sau giàu sang phát đạt, một tấm chăn gấm che lấp hết chuyện cũ. Đó đều là những người xuất sắc trong đám ăn mày. Đủ thấy hạng người này tuy bị người ta khinh, nhưng không giống bốn hạng kia.

Chuyện phiếm thôi không nhắc nữa. Nay hãy kể ở thành Hàng Châu có một ông trùm phường họ Kim, tên Lão Đại. Từ đời ông tổ đến đời ông đã bảy đời làm trùm phường. Ông gây dựng được một cơ nghiệp đầy đủ: nhà ở thì nhà đẹp, ruộng vườn thì ruộng tốt, mặc thì áo đẹp, ăn thì món ngon. Thật là kho đầy thóc, túi dư tiền, cho vay lấy lãi, có kẻ hầu người hạ. Tuy chưa phải giàu nhất, cũng là nhà giàu có tiếng.

Kim Lão Đại là người có chí, nhường chức trùm cho người trong họ là Kim Lại Tử, còn mình thì ngồi hưởng của sẵn, chẳng dây dưa với bọn ăn mày nữa. Dù vậy, người trong xóm quen miệng vẫn gọi là nhà trùm phường, cái tên không đổi được.

Kim Lão Đại ngoài năm mươi tuổi, vợ mất, không có con trai, chỉ có một cô con gái tên Ngọc Nô. Ngọc Nô xinh đẹp vô cùng, trắng trong như ngọc không tì vết, dáng vẻ khiến hoa cũng phải thẹn. Chỉ thiếu bộ áo cung đình, mặc vào thì chẳng khác gì một bà phi nổi tiếng thuở xưa.

Kim Lão Đại yêu con gái như báu vật, từ nhỏ đã cho học chữ. Đến mười lăm mười sáu tuổi, nàng thông thạo cả thơ lẫn phú, viết gì làm gì cũng thuận tay mà thành. Lại thêm kim chỉ khéo léo, biết gảy đàn thổi sáo, việc gì cũng lanh lợi. Kim Lão Đại cậy con gái tài sắc, quyết chí gả cho một người học trò. Nói cho đúng, ngay trong những nhà danh giá dòng dõi, muốn tìm được một người con gái như thế cũng chẳng dễ. Đáng giận là nàng sinh ra trong nhà trùm phường, chẳng ai đến hỏi. Còn những nhà buôn bán tầm thường, không có tiền đồ, thì Kim Lão Đại lại không muốn gả. Vì thế cao không tới, thấp không thông, nàng cứ lần lữa đến mười tám tuổi vẫn chưa hứa hôn với ai.

Tình cờ có một ông lão hàng xóm đến nói:

— Dưới cầu Thái Bình có một anh học trò họ Mạc, tên Kê, hai mươi tuổi, người khôi ngô, học rộng. Chỉ vì cha mẹ đều mất, nhà nghèo chưa lấy vợ. Gần đây thi đỗ, được vào Thái học, anh ta bằng lòng ở rể. Người này xứng với con gái ông lắm, sao không kén làm rể?

Kim Lão Đại nói:

— Vậy phiền cụ làm mối giúp, được không?

Ông lão nhận lời, đi thẳng đến dưới cầu Thái Bình, tìm anh tú tài họ Mạc, nói với anh:

— Thật chẳng giấu gì cậu, tổ tiên nhà ấy từng làm trùm phường ăn mày, nay thì thôi lâu rồi. Tôi chỉ quý nhà ấy có cô con gái đẹp, nhà lại giàu có. Cậu tú nếu không chê thì lão sẽ lo cho thành việc.

Mạc Kê ngoài miệng không nói, trong bụng nghĩ: "Ta bây giờ cơm áo không đủ, không có sức lấy vợ, sao không hạ mình ở rể nhà ấy, một công đôi việc? Cũng chẳng cần để ý người ta cười." Bèn nói với ông lão:

— Lời bác nói hay lắm, nhưng nhà cháu nghèo, không có lễ hỏi, biết làm sao?

Ông lão nói:

— Cậu tú chỉ cần ưng thuận, một tờ giấy cũng không phải tốn, mọi việc để lão lo.

Ông lão về báo lại với Kim Lão Đại. Chọn được ngày lành, nhà họ Kim lại gửi sang một bộ áo mới cho chàng mặc, rồi tú tài họ Mạc về nhà vợ thành thân.

Mạc Kê thấy Ngọc Nô tài sắc, mừng quá đỗi. Không tốn một đồng mà không dưng có được người vợ đẹp, lại ăn sung mặc sướng, việc gì cũng vừa lòng. Bạn bè chàng biết Mạc Kê nghèo khổ, ai cũng thông cảm, chẳng ai cười chàng.

Đến lễ đầy tháng, Kim Lão Đại bày tiệc lớn, bảo con rể mời các bạn học đến uống rượu cho rạng rỡ cửa nhà. Uống liền sáu bảy ngày, nào ngờ làm phật lòng người trong họ là Kim Lại Tử. Lại Tử cũng có cái lý của hắn. Hắn nói:

— Mày cũng là trùm phường, tao cũng là trùm phường, chỉ có mày làm nhiều đời hơn, kiếm được tiền nong trong tay. Nói đến dòng giống tổ tiên thì ai cũng như ai. Cháu gái Ngọc Nô kén rể, cũng phải mời tao một chén rượu mừng chứ. Bây giờ làm tiệc đầy tháng, mở tiệc sáu bảy ngày, mà chẳng có lấy một mảnh thiếp mời nào gửi đến tao. Con rể mày làm tú tài, chẳng lẽ đã làm thượng thư, tể tướng? Tao không phải ông chú ruột chắc? Không đáng ngồi một đầu ghế chắc? Coi người chẳng ra gì đến thế! Tao phải đến quấy cho một trận, cho cả nhà mất vui!

Hắn gọi năm sáu chục tên ăn mày, cùng kéo ùa đến nhà Kim Lão Đại. Mũ thủng lỗ, áo thắt nút, chiếu rách đi với thảm nát, gậy tre ngắn đi với bát mẻ. Ngoài cửa kêu cha gọi mẹ, gọi ông chủ ầm ĩ. Đứa thì múa rắn, đứa dắt chó, đứa dắt khỉ, mỗi đứa giở một trò. Đứa gõ phách hát nghêu ngao chói cả tai, đứa đập gạch vào ngực, bôi mặt nhem nhuốc, xấu xí ghê người. Cả một bầy quỷ dữ tụ lại, đến Chung Quỳ cũng không thu nổi.

Kim Lão Đại nghe ồn ào, mở cửa ra xem, Kim Lại Tử đã dẫn cả bọn ùa vào, la hét om sòm khắp nhà. Lại Tử xông thẳng tới bàn tiệc, nhặt rượu ngon đồ ngon mà ăn, miệng kêu:

— Mau bảo vợ chồng cháu rể ra lạy chào ông chú!

Các anh tú tài sợ quá đứng không vững, bỏ tiệc chạy hết. Cả Mạc Kê cũng theo bạn bè lánh đi. Kim Lão Đại không biết làm sao, đành năn nỉ mãi:

— Hôm nay là con rể tôi đãi khách, chẳng phải việc của tôi! Hôm khác tôi xin làm riêng một chén để tạ lỗi với chú.

Rồi đem bao nhiêu tiền chia thưởng cho bọn ăn mày, lại khiêng ra hai vò rượu ngon cùng mấy con gà con ngỗng sống, bảo bọn ăn mày đem về nhà Lại Tử, coi như bù bữa tiệc. Ồn ào mãi đến tối mịt, bọn chúng mới tản đi. Ngọc Nô ở trong phòng tức đến nước mắt giàn giụa.

Đêm ấy Mạc Kê ngủ nhờ nhà bạn, sáng hôm sau mới về. Kim Lão Đại gặp con rể, tự thấy mình xấu mặt, đầy mặt hổ thẹn. Trong lòng Mạc Kê không khỏi có ba phần không vui, có điều chẳng ai nói ra. Thật là người câm nếm cây hoàng bá, đắng thì tự mình biết lấy.

Lại nói Kim Ngọc Nô chỉ sợ gia phong nhà mình không tốt, muốn gắng vươn lên, bèn khuyên chồng chịu khó học hành. Sách vở xưa nay, nàng chẳng tiếc tiền, mua về cho chồng đọc. Lại không tiếc tiền chi dùng, mời người đến cùng chồng bình văn giảng sách. Lại bỏ tiền ra cho chồng giao du kết bạn, gây tiếng tăm. Nhờ vậy tài học của Mạc Kê ngày càng tiến, danh tiếng ngày càng nổi. Năm hai mươi ba tuổi, chàng đỗ đầu thi hương, rồi đỗ luôn tiến sĩ.

Hôm ấy, dự tiệc Quỳnh Lâm vua ban cho các tân khoa xong, chàng đội mũ ô sa, mặc áo bào, cưỡi ngựa về. Sắp đến nhà bố vợ, chợt thấy một đám trẻ con ngoài phố tranh nhau chạy ra xem, chỉ trỏ:

— Con rể nhà trùm phường Kim làm quan rồi kìa!

Mạc Kê ngồi trên ngựa nghe câu ấy, lại không tiện gây chuyện, đành nhịn. Gặp bố vợ, ngoài mặt tuy giữ đủ lễ, nhưng trong bụng chứa đầy tức giận, nghĩ thầm: "Sớm biết có ngày giàu sang hôm nay, thiếu gì nhà vương hầu quyền quý kén ta làm rể? Lại đi nhận một tên trùm ăn mày làm bố vợ, chẳng phải là vết nhơ suốt đời sao! Sinh con đẻ cái ra, vẫn là cháu ngoại trùm phường, bị người ta đem ra làm chuyện cười. Nay việc đã như thế, vợ lại hiền thục, chẳng phạm điều nào trong bảy điều được bỏ vợ, khó mà dứt được. Thật đúng là việc không nghĩ kỹ thì về sau phải hối."

Vì thế trong lòng chàng cứ ấm ức, chẳng vui. Ngọc Nô mấy lần hỏi mà chàng không đáp, nàng chẳng biết vì cớ gì. Nực cười cho Mạc Kê, chỉ nghĩ đến phú quý hôm nay, lại quên mất lúc nghèo hèn. Bao công vợ giúp mình thành danh, chàng coi như nước trôi xuôi. Ấy là chỗ lòng dạ chàng không ngay thẳng.

Chẳng bao lâu, Mạc Kê đi nhận bổ dụng, được làm Tư hộ, tức chức quan coi việc hộ tịch thuế má, ở quân Vô Vi. Bố vợ bày rượu tiễn đưa. Lần này bọn ăn mày chắc cũng chẳng dám đến cửa làm ồn nữa. Mừng nhất là từ Lâm An đến Vô Vi có đường thuỷ đi thẳng. Mạc Kê đem vợ xuống thuyền đi nhậm chức.

Đi được mấy ngày, đến bến sông Thái Thạch, thuyền buộc ở bờ bắc. Đêm ấy trăng sáng như ban ngày. Mạc Kê nằm không ngủ được, mặc áo dậy ra ngồi đầu thuyền ngắm trăng. Nhìn bốn phía không một bóng người, chàng lại nghĩ đến chuyện trùm phường, buồn bực không vui. Bỗng nhiên nảy ra một ý độc: "Trừ phi người đàn bà này chết đi, ta lấy người khác, thì mới tránh được nỗi nhục suốt đời."

Lòng sinh ra một kế, chàng đi vào khoang thuyền, dỗ Ngọc Nô dậy xem trăng. Ngọc Nô đã ngủ, Mạc Kê giục mãi bắt nàng dậy. Ngọc Nô khó lòng trái ý chồng, đành khoác áo ra cửa khoang, ngẩng đầu ngắm trăng. Mạc Kê bất ngờ kéo nàng ra mũi thuyền, đẩy xuống sông.

Rồi chàng lặng lẽ gọi người lái thuyền dậy, dặn:

— Mau nhổ neo đi ngay, ta thưởng hậu! Không được chậm trễ.

Người lái thuyền không hiểu chuyện gì, vội vàng chống sào khua mái, đưa thuyền đi xa mười dặm. Đậu thuyền xong xuôi, Mạc Kê mới nói:

— Vừa rồi bà nhà ngắm trăng sẩy chân rơi xuống nước, vớt không kịp nữa rồi.

Rồi thưởng cho người lái thuyền ba lạng bạc làm tiền rượu. Người lái thuyền hiểu ý, ai dám mở miệng? Trên thuyền tuy có mấy đứa hầu gái khờ khạo đi theo, chúng chỉ tưởng bà chủ thật sự rơi xuống nước, khóc lóc một trận rồi thôi. Chỉ vì cái danh trùm phường không thơm, mà lúc đắc ý nỡ bỏ người vợ thuở hàn vi. Nhưng duyên kết tóc trời định, rốt cuộc khó mà gỡ ra, chỉ chuốc lấy cái tên chàng bạc tình.

Ấy vậy mà sự đời thật khéo trùng hợp! Thuyền Mạc Kê vừa đi khỏi, thì vừa hay có quan Chuyển vận sứ Hoài Tây là Hứa Đức Hậu, cũng mới đi nhậm chức, buộc thuyền ở bờ bắc Thái Thạch, đúng ngay chỗ Mạc Kê vừa đẩy vợ xuống sông. Hứa Đức Hậu cùng phu nhân đang mở cửa sổ ngắm trăng, thong thả uống rượu, chưa đi ngủ. Bỗng nghe trên bờ có tiếng khóc, là tiếng đàn bà, nghe ai oán thảm thiết, ông không đành lòng. Ông vội gọi thuỷ thủ lên xem, quả có một người đàn bà ngồi một mình trên bờ sông. Ông bảo gọi lên thuyền, hỏi lai lịch.

Thì ra người ấy chính là vợ quan Tư hộ quân Vô Vi, Kim Ngọc Nô. Lúc mới rơi xuống nước, nàng hồn bay phách lạc, đã liều chắc là chết. Bỗng thấy dưới nước có vật gì đỡ lấy hai chân, theo sóng trôi đi, đưa nàng vào gần bờ. Ngọc Nô gắng gượng bò lên bờ, ngẩng nhìn thì nước sông mênh mông, chẳng còn thấy thuyền quan Tư hộ đâu nữa. Lúc ấy nàng mới hiểu ra chồng mình sang rồi quên lúc hèn, cố tình dìm chết vợ cũ để tìm đám khác. Nay tuy giữ được mạng sống, nhưng không còn nơi nương tựa, nghĩ đi nghĩ lại thấy khổ sở, vì thế mà khóc thảm.

Thấy Hứa công hỏi han, nàng đành kể lại đầu đuôi tỉ mỉ. Kể xong, khóc mãi không thôi, đến vợ chồng Hứa công cũng cảm động rơi nước mắt, khuyên:

— Con đừng khóc nữa. Con chịu làm con nuôi của ta, rồi sẽ tính.

Ngọc Nô lạy tạ. Hứa công bảo phu nhân lấy áo khô cho nàng thay, sắp xếp cho nàng ngủ riêng ở khoang sau. Ông dặn người nhà trai gái đều gọi nàng là tiểu thư, lại dặn người lái thuyền không được tiết lộ chuyện này.

Chẳng mấy ngày, ông đến Hoài Tây nhậm chức. Quân Vô Vi chính là đất thuộc quyền ông, Hứa công là quan trên của Mạc Tư hộ, nên Mạc Kê tất nhiên phải theo hàng đến ra mắt. Hứa công gặp Mạc Tư hộ, nghĩ bụng: "Tiếc thay một người khôi ngô tuấn tú, lại làm cái việc bạc tình đến thế."

Chừng mấy tháng sau, Hứa công nói với các quan dưới quyền:

— Hạ quan có một cô con gái, tài sắc cũng khá, tuổi đã đến thì lấy chồng, muốn kén một chàng rể giỏi về ở rể. Trong ý các vị, có ai được không?

Các quan đều đã nghe nói Mạc Tư hộ trẻ tuổi mà goá vợ, đồng thanh tiến cử chàng tài cao phẩm tốt, xứng đáng làm rể. Hứa công nói:

— Người ấy ta cũng để ý lâu rồi. Nhưng trẻ tuổi đỗ đạt, lòng cao vọng lớn, chưa chắc đã chịu ở rể nhà ta.

Các quan nói:

— Anh ta xuất thân nhà nghèo, được ngài nâng đỡ, khác nào cây lau được dựa cây ngọc, may mắn biết bao! Lẽ nào lại chê việc ở rể?

Hứa công nói:

— Các vị đã tính là được thì cứ nói với Mạc Tư hộ. Có điều chỉ nói là ý của các vị, để dò lòng anh ta. Đừng nhắc đến hạ quan, e có điều ngại.

Mọi người vâng lời, bèn đến nói với Mạc Kê chuyện ấy, muốn làm mối cho chàng. Mạc Kê đang muốn trèo cao, huống hồ được kết thông gia với quan trên, cầu còn chẳng được, bèn hớn hở đáp:

— Việc này hoàn toàn trông cậy các vị lo cho thành, tôi xin đền ơn đến chết cũng không quên.

Mọi người nói:

— Được thôi, được thôi.

Rồi về báo lại Hứa công. Hứa công nói:

— Tuy được Tư hộ không chê, nhưng vợ chồng hạ quan rất yêu đứa con gái này, nuông chiều quen rồi, nên không nỡ gả đi xa. Chỉ sợ Tư hộ trẻ tuổi nóng tính, không nhường nhịn nó. Nhỡ có chuyện xích mích nhỏ, lại làm vợ chồng hạ quan đau lòng. Phải nói trước cho rõ, mọi việc phải nhẫn nhịn một chút, thì mới dám nhận về ở rể.

Mọi người vâng lời, lại đến chỗ Tư hộ chuyển lời. Tư hộ điều gì cũng ưng. Lúc này Tư hộ không còn như thời làm tú tài nữa, cũng sắm hoa vàng, lụa màu làm lễ hỏi như ai. Chọn được ngày lành, chàng sướng rơn cả người, sửa soạn làm con rể quan Chuyển vận sứ.

Lại nói Hứa công trước hết bảo phu nhân nói với Ngọc Nô:

— Ông nhà thương con goá bụa, muốn gả con cho một tiến sĩ trẻ, con đừng từ chối.

Ngọc Nô đáp:

— Con tuy xuất thân nhà hèn, cũng biết chút lễ nghĩa. Đã kết tóc với Mạc lang thì theo một người đến trọn đời. Dẫu Mạc lang chê nghèo bỏ hèn, nhẫn tâm làm điều trái đạo, con cũng giữ trọn đạo của con, lẽ nào chịu tái giá mà hỏng tiết người vợ?

Nói xong, nước mắt tuôn như mưa. Phu nhân thấy nàng một lòng thành thật, mới nói thật:

— Người tiến sĩ trẻ ông nhà nói chính là Mạc lang. Ông giận nó bạc tình, nhất định muốn vợ chồng con đoàn tụ lại. Ông chỉ nói có con gái ruột muốn kén rể, rồi bảo các quan dưới quyền đi dạm hỏi Mạc lang. Mạc lang hớn hở nghe theo, đêm nay sẽ về ở rể nhà ta. Đợi lúc nó vào phòng, con cứ làm thế này, thế này, để trút cái cục tức cho con.

Ngọc Nô lúc ấy mới thôi khóc, đánh lại phấn, sửa lại trang phục, sửa soạn việc cưới.

Đến tối, Mạc Tư hộ mũ áo chỉnh tề, mũ cài hoa vàng, mình khoác gấm đỏ, cưỡi con tuấn mã yên chạm, hai hàng trống nhạc đi trước dẫn đường, các quan đều đến đưa rể. Dọc đường đi, ai mà chẳng trầm trồ. Trống nhạc rộn ràng, ngựa trắng tiến đến, chàng rể phong lưu thật là hiếm có! Nhà trùm phường đã đổi được thành nhà quyền quý, chuyện bến Thái Thạch có đáng gì mà buồn.

Đêm ấy, dinh Chuyển vận trải thảm, kết hoa, đánh trống thổi kèn rộn rã chờ chàng rể mới. Mạc Tư hộ đến cổng xuống ngựa, Hứa công mũ áo chỉnh tề ra đón, các quan đều chào về. Mạc Tư hộ đi thẳng vào nhà trong. Cô dâu trùm khăn đỏ trên đầu, hai bà vú dìu ra. Người chủ lễ đứng ngoài ngưỡng cửa xướng lễ, hai người cùng lạy trời đất, lạy bố vợ mẹ vợ, rồi lạy nhau. Lễ xong, đưa vào phòng hoa chúc.

Lúc ấy lòng Mạc Tư hộ như bay lên tận chín tầng mây, sung sướng không sao tả xiết. Chàng ngửa mặt, hiên ngang bước vào. Vừa bước qua cửa phòng, bỗng từ hai bên cánh cửa xông ra bảy tám bà già và a hoàn, người nào cũng cầm một cây gậy tre nhỏ, nhắm đầu nhắm mặt chàng mà đánh xuống. Đánh rơi cả mũ, gậy rơi trên vai trên lưng như mưa, đánh cho chàng kêu la không kịp, chẳng biết đâu mà lần. Mạc Tư hộ bị đánh, cuống cuồng ngã lăn ra một đống, chỉ còn biết kêu:

— Bố vợ, mẹ vợ ơi, cứu con với!

Chỉ nghe trong phòng có tiếng nói dịu dàng bảo:

— Đừng đánh chết thằng bạc tình, cứ lôi nó lại đây cho ta gặp.

Mọi người mới dừng tay. Bảy tám bà già, a hoàn, người kéo tai, người túm tay, xô chàng đi chân không chạm đất, đẩy đến trước mặt cô dâu. Miệng Tư hộ vẫn còn nói:

— Hạ quan có tội gì?

Mở mắt ra nhìn, đèn hoa chúc sáng rực, soi rõ người ngồi ngay ngắn bên trên là cô dâu mới, không ai khác, chính là người vợ cũ Kim Ngọc Nô. Mạc Kê lúc ấy hồn vía lên mây, la loạn lên:

— Có ma, có ma!

Mọi người đều bật cười. Chỉ thấy Hứa công từ ngoài bước vào, gọi:

— Con rể đừng ngờ. Đây là con gái nuôi ta nhận ở bến sông Thái Thạch, không phải ma đâu.

Tim Mạc Kê lúc ấy mới thôi đập loạn, vội quỳ xuống, chắp tay nói:

— Mạc Kê con biết tội rồi, xin đại nhân bao dung cho.

Hứa công nói:

— Việc này chẳng liên quan gì đến hạ quan, chỉ cần con gái ta không nói gì là xong.

Ngọc Nô nhổ vào mặt chàng, mắng:

— Đồ bạc tình! Ngươi không nhớ lời Tống Hoằng xưa sao: bạn lúc nghèo hèn thì không được quên, vợ thuở tấm cám thì không được bỏ. Ngày trước ngươi tay trắng về ở rể nhà ta, nhờ của cải nhà ta mà đọc sách, gây tiếng tăm, mới thành danh, mới may có ngày hôm nay. Ta cũng mong chồng vinh vợ hiển. Ngờ đâu ngươi quên ơn bội nghĩa, đã không nghĩ đến tình kết tóc, lại lấy oán trả ơn, đẩy ta xuống giữa dòng sông. May sao trời thương, gặp được cha nuôi cứu vớt, nhận làm con. Nếu ta đã vùi thân trong bụng cá, ngươi lấy người khác, lòng ngươi có nỡ không? Hôm nay ngươi còn mặt mũi nào mà đoàn tụ với ta nữa?

Nói xong, nàng khóc oà lên, nghìn câu bạc tình, vạn câu bạc tình, mắng không ngớt miệng. Mạc Kê đầy mặt xấu hổ, ngậm miệng không nói được câu nào, chỉ biết dập đầu xin tha.

Hứa công thấy mắng đã đủ, mới đỡ Mạc Kê dậy, khuyên Ngọc Nô:

— Con ơi nguôi giận đi. Nay con rể đã hối lỗi, chắc không dám coi thường con nữa. Hai con tuy là vợ chồng cũ, nhưng ở nhà ta thì chỉ tính là mới cưới. Mọi việc hãy nể mặt ta, những lời qua tiếng lại xoá đi một nét cho xong.

Lại bảo Mạc Kê:

— Con rể ơi, lỗi tự ở con, đừng trách ai. Đêm nay con đành nhẫn nhịn, để ta bảo mẹ vợ con vào khuyên giải.

Nói xong, ông ra khỏi phòng. Lát sau phu nhân vào, lại dàn xếp khuyên nhủ bao nhiêu lời, hai người mới làm lành với nhau.

Hôm sau, Hứa công bày tiệc đãi con rể mới, đem hết hoa vàng lụa màu lễ hỏi hôm trước trả lại nguyên vẹn, nói:

— Một người con gái không nhận hai lần sính lễ. Con rể lần trước ở nhà họ Kim đã tốn rồi, lần này hạ quan không dám nhận thêm.

Mạc Kê cúi đầu không nói. Hứa công lại nói:

— Con rể vẫn giận bố vợ cũ hèn kém, đến nỗi vợ chồng mất lòng nhau, suýt nữa không trọn. Nay có hạ quan làm bố vợ, thấy thế nào? Chỉ sợ chức tước hạ quan chưa đủ cao, chưa vừa ý con rể.

Mặt Mạc Kê đỏ tía cả lên, chỉ biết rời chỗ ngồi tạ tội. Người đời có thơ cười chàng: mê muội mong kết nhân duyên với nhà cao, ai ngờ người mới lại chính là người cũ, bị đánh mắng một trận xấu hổ đầy mặt, thử hỏi đổi bố vợ mới để làm gì.

Từ đó Mạc Kê với Ngọc Nô vợ chồng hoà thuận, hơn trước gấp bội. Vợ chồng Hứa công đối với Ngọc Nô như con gái ruột, đối với Mạc Kê như con rể thật. Ngọc Nô đối với vợ chồng Hứa công cũng chẳng khác gì cha mẹ đẻ. Đến Mạc Kê cũng cảm động, đón ông trùm phường Kim Lão Đại về nơi làm quan, phụng dưỡng đến lúc qua đời. Về sau vợ chồng Hứa công mất, Kim Ngọc Nô đều để tang nặng để báo ơn. Nhà họ Mạc với nhà họ Hứa đời đời coi nhau như anh em ruột thịt, đi lại không bao giờ dứt.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)
Xuất bản lần đầu1640
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Kim Cổ Kỳ Quan 今古奇觀, hồi thứ 32: 金玉奴棒打薄情郎 (Kim Ngọc Nô bổng đả bạc tình lang), tuyển cuối đời Minh, Bão Ung lão nhân biên
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →